Những ḍng thơ đời của
TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
Huệ Thiên
--o0o--
Tuệ
Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, ông là con trai
cả của Trần Liễu, anh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn và Thiện Cảm Hoàng hậu (húy là Thiều, vợ của vua
Trần Thánh Tông). Ông sinh năm 1230, mất năm 1291. Hưng
Ninh Vương là tước do vua Trần Thái Tông ban cho ông v́
cảm cái nghĩa của cha ông là An Sinh Vương Trần Liễu khi
Trần Liễu qua đời.
Nói về thơ văn và con người của Tuệ
Trung, Nguyễn Huệ Chi đă viết: «T́m ra thơ văn của nhà
sư uyên bác đồng thời là một vơ tướng có nhiều công lao
dẹp giặc này là một cống hiến vô cùng quư giá. Nó làm
hiện diện trước chúng ta một nhân cách, một cá tính
phong phú, trong cái thế giới thanh tịnh nói chung, cái
thế giới tiêu diệt mọi ‘ngă kiến’ của đạo Thiền. Ít
nhiều, nhân cách đó giống như là một sự ngấm ngầm tuyên
chiến của một con người khí phách ngang tàng đối với tất
cả những ǵ
đi ngược lại quy luật cuộc sống.»
[1]
Là
thiền sư, Tuệ Trung là
bậc thầy của phái
Trúc
Lâm đời Trần, là
người mà
«vua Dụ Lăng (tức Trần Thánh
Tông [Huệ Thiên
chú])
mộ tiếng từ lâu nên
sai sứ vời vào
cửa khuyết. Phàm
những lời hầu chuyện của nhà
vua đều là
lời siêu
tục, do đó
vua suy tôn người là
Sư huynh và
ban cho tên
hiệu hiện nay.»
[2]
C̣n
chính
Trần Nhân Tông th́
đă nhận ông làm
thầy. Nhà
vua viết: «Một ngày
kia, ta hỏi người về cái
gốc của tôn chỉ Thiền. Thượng Sĩ ứng khẩu đáp:
“Hăy quay nh́n
lại cái
gốc của ḿnh
chứ không t́m
đâu khác
được.” Ta bỗng dưng bừng tỉnh con đường phải đi, bèn
xốc
áo
tôn người là
thầy.»
[3]
Là vơ tướng, Hưng Ninh Vương Trần Tung đă «cùng với Hưng
Đạo Vương đem hơn hai vạn quân đến đón đánh, kịch chiến
với tướng giặc là Lưu Thế Anh và đuổi Thoát Hoan chạy
dài đến sông Như Nguyệt. Và trong cuộc kháng chiến
(chống quân Nguyên – HT) lần thứ ba, ông c̣n được giao
những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, nhiều lần đến đồn
trại giặc vờ ước hẹn trá hàng, làm cho quân giặc mất
cảnh giác, sau đó cho quân đến cướp doanh trại giặc.»
[4]
Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rơ lư do v́
sao sau cuộc kháng chiến thắng lợi th́ tên tuổi của ông
lại hầu như không được nhắc đến. Đành rằng sau đó, theo
Thượng Sĩ hành trạng của Trần Khâm, ông có nhậm
chức Tiết độ sứ, trông coi phủ Thái B́nh nhưng chẳng
được bao lâu ông lại lui về ấp Tịnh Bang để lập Dưỡng
Chân trang mà theo đuổi nghiệp Thiền. Đây rơ ràng là một
điều bí ẩn trong cuộc đời của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần
Tung, và nguyên nhân đích thực của điều bí ẩn này có lẽ
đă là động cơ – nghĩa là thi hứng ! – khiến ông viết
thêm nhiều bài thơ hoặc câu thơ đầy ẩn ư mà giọng điệu
khi th́ rất chua chát, lúc lại khá gay gắt. Với những
giọng điệu đó và bên trong những ẩn ư đó, đă toát ra một
tâm trạng bất măn và cô đơn.
Ngay trong bài Dưỡng Chân
養真
(nuôi dưỡng chân tính), chúng ta cũng đă
thoáng thấy được cái duyên cớ đă làm cho ông phải xa
lánh chốn quan trường mà đi vào cơi thiền:
Thân xác hao
gầy há đáng than,
Phải đâu hạc
cả lánh gà đàn;
Ngh́n xanh
muôn thuư mờ non nước,
Góc biển lưng trời: nơi dưỡng chân.
[5]
|
(Suy táp
h́nh hài khởi túc vân,
Phi quan
lăo hạc tị kê quần;
Thiên
thanh vạn thuư mê hương quốc,
Hải giác
thiên đầu thị dưỡng chân.)
|
衰 颯 形 骸 豈
足 云
非 關 老 鶴 避
雞 群
千 青 萬 翠 迷
鄉 國
海 角 天 頭 是
養 真
|
Câu «Phi quan lăo hạc tị kê quần» là một câu thơ đầy ẩn
ư. tại làm sao tác giả lại phải thanh minh rằng việc
ḿnh đi t́m nơi chốn để nuôi dưỡng chân tính không phải
là để tránh cái cảnh «hạc lập kê quần» (con hạc đứng
giữa bầy gà)? Không phải tức là phải. Đây là một câu qua
đó chính tác giả h́nh như muốn hé mở cho chúng ta thấy
được niềm tâm sự tưởng chừng như sẽ không bao giờ được
tiết lộ của ông. Và «kê quần» ở đây đương nhiên không
phải là ai khác hơn quần thần của triều Trần lúc bấy
giờ. Đây là cái dấu hiệu đầu tiên cho chúng ta thấy h́nh
như Tuệ Trung là một con người bất đắc chí. Những chi
tiết quá ít ỏi được ghi nhận về hoạn lộ của ông cũng cho
chúng ta thấy được hẳn ông phải là một nhân vật lỗi lạc
không những về quân sự, mà cả chính trị lẫn ngoại giao.
Về quân sự, như đă thấy, ông đă từng cùng em trai đánh
giặc Nguyên một trận nảy lửa, đuổi Thoát Hoan chạy dài
đến sông Như Nguyệt. Về ngoại giao, ông đă từng là nhà
thương thuyết vào thẳng nơi đồn trại của quân Nguyên và
đă đánh lừa được kẻ địch để thực hiện kế hoạch tác
chiến. Ấy thế cuối cùng ông lại phải lui về Dưỡng Chân
trang. Rơ ràng đây không phải là một điều dễ hiểu.
Bài Giản để tùng
澗底松
(cây tùng ở đáy khe) khuyến khích chúng
ta tin tưởng thêm ở những điều đă suy diễn bên trên:
Thương cội
tùng xanh tuổi bấy niên,
Đừng than thế
mọc lệch cùng xiên;
Cột rường
chưa dụng người thôi lạ,
Cỏ dại hoa
hèn trước mắt chen.
|
(Tối ái
thanh tùng chủng kỉ niên,
Hưu ta
địa thế sở cư thiên;
Đống
lương vị dụng nhân hưu quái,
Dă thảo
nhàn hoa măn mục tiền.)
|
最 愛 青 松 種 幾 年
休 嗟 地 勢 所 居 偏
棟 樑 未 用 人 休 怪
野 草 閑 花 滿 目 前
|
Cây tùng xanh «trồng bao năm» (chủng kỉ
niên), nghĩa là thực ra đă trồng tự không biết bao nhiêu
lâu rồi, mà lại bị «trồng lệch», nghĩa là trồng không
đúng chỗ, đúng thế: tận dưới đáy khe thay v́ tít trên
đỉnh núi. Chung quanh nó chỉ có toàn là «cỏ dại hoa
hèn». Và không phải người ta không lấy làm lạ về việc
không có ai đốn nó đem về làm rường, cột cho nhà cửa, mà
thảm hại hơn nữa là người ta đă «thôi lấy làm lạ» (hưu
quái) về việc đó, v́ điều này đă trở nên nhàm chán.
Người ta đă quên cây tùng dưới đáy khe rồi. Đương nhiên
trên đây chỉ là nghĩa đen. Bài thơ thật ra là cả một thể
phúng dụ sâu sắc, mà chua chát, qua đó tác giả đă không
ám chỉ ai khác hơn là chính ḿnh. Và cội tùng mọc giữa
đám cỏ dại hoa hèn này cũng là một với thân hạc đứng
giữa bầy gà lớ ngớ kia. Quả là một bài thơ tự thán thấm
thía đầy thương cảm. Người ta đă quên bẵng đi cái tài
lương đống của Trần Tung rồi. Nói cho đúng ra, h́nh như
người ta đố kị nó.
Đành rằng đi vào cơi Thiền, Tuệ Trung vẫn là một thiền
sư cự phách, nhưng ông đâu có phải là kẻ câu nệ, cố
chấp; ông đâu có phải là kẻ chủ trương hễ muốn đi vào
Thiền th́ tất yếu phải từ bỏ chốn quan trường và xa lánh
cuộc đời. Ông cũng có thê có thiếp, có kẻ hầu người hạ.
Mà ông cũng chẳng ăn chay. «Thượng Sĩ trộn lẫn với thế
tục, hoà cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời
(...) Ngày kia, Thái hậu (xưa là cô Thiều, em gái của
chàng Tung), làm tiệc lớn đăi người. Người dự tiệc, gặp
thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi: “Anh tu Thiền mà ăn
thịt th́ thành Phật sao được?” Thượng Sĩ cười đáp: “Phật
là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng
chẳng cần làm anh (...).»
[6]
Một con người như vậy hẳn đă phải có ước vọng sử dụng
tài năng của ḿnh để cống hiến cho nước cho đời không
những về mặt giáo lư Thiền tông, mà cả về mặt quốc kế
dân sinh. Nhưng hoạn lộ của Trần Tung lại trở thành một
ngơ cụt. Thế th́ làm sao mà không tự thán cho được! sau
đây là một bài thơ tự thán nữa. Đó là bài Chiếu thân
(soi ḿnh):
Sém đầu giập
trán vận kim bào,
Ta bấy năm
nay: chốn xưởng tào;
Hễ đă hơn
người và vượt bậc,
Vẻ vang rồi
lại đến lao đao.
|
(Tiêu đầu lạn ngạch
bị kim bào,
Ngũ thất niên gian
thị xưởng tào;
Túng dă siêu quần
kiêm bạt tụy,
Nhất hồi phóng hạ
nhất hồi cao.)
|
焦 頭 爛 額 被
金 袍
五 七 年 間 是
廠 槽
縱 也 超 群 兼
拔 萃
一 回 放 下 一
回 高
|
Thành ngữ «tiêu đầu lạn ngạch» (cháy đầu nát trán) có ư
nhắc đến «Hoắc Quang truyện» trong Hán thư: những
kẻ chữa cháy cho nhà chủ bị hoả hoạn, hễ ai bị «cháy đầu
nát trán» th́ được chủ nhà mời ngồi trên trong tiệc mừng
cơn lửa bị dập tắt, c̣n người bày vẽ cho chủ nhà cách
tránh hoả hoạn (mà chủ nhà không nghe, nên nhà mới cháy)
th́ lại bị quên đi. Điển tích này cho chúng ta thoáng
thấy rằng có lẽ Trần Tung đă từng giữ vai tṛ tham mưu
quan trọng cho nhà Trần và sách lược của ông chắc đă đem
lại nhiều thành công – hoặc ít nhất sau đó đă được thực
tế chứng minh là đúng – cho ḍng họ này, đặc biệt là
trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên. Nhưng sau
khi thắng lợi th́ được «mặc kim bào» là những kẻ đă bươu
đầu sứt trán, c̣n người mưu lược như Trần Tung th́ lại
cam chịu phận «xưởng tào». Xưởng là nơi làm việc, c̣n
tào là cái máy ép hoặc cái chày giă. Tuệ Trung tự ví
ḿnh với cái máy ép hoặc cái chày giă trong xưởng thợ
phải cật lực vận hành, nghĩa là ông đă phải làm cái công
việc nặng nhọc của những kẻ vai u thịt bắp, trong khi
chính bọn này th́ lại được thăng quan tiến chức.[7]
Có thể tiếp tục soi sáng thêm cho việc
t́m hiểu tâm sự của Tuệ Trung là bài
Hoạ Hưng Trí Thượng vị hầu
和興智上位侯
(hoạ lại thơ của Hưng Trí Thượng vị hầu).[8]
Ngay từ câu phá đề, Tuệ Trung đă gây cho người đọc cái
ấn tượng rằng ông sẽ chỉ hoàn toàn luận về Thiền lư: Vẻ
Thiền không trước cũng không sau (Thiền phong vô hậu
diệc vô tiền
禪風無後亦無前).
Và trong toàn bài, người ta đọc thấy nào là: Thiền
phong, vô hậu, vô tiền, bản thể, như như, tự nhiên, tâm
cơ, khẩu nghiệp, niệm, nghiên (ngôn)..., nhưng bốn câu
cuối lại là bốn câu đáng chú ư:
Nghĩ ngợi cơi
ḷng không chút vướng,
Nói năng
nghiệp miệng mệt nhiều chi;
Nhắn với
Nguyên quân Trần xử sĩ,
Tiếng nhàn
đơn lạnh lướt trời sương.
|
(Tâm cơ
bất quải ti hào niệm,
Khẩu
nghiệp hà lao gián trạch nghiên [ngôn];
Vị báo
Nguyên quân Trần xử sĩ,
Nhất
thanh lănh nhạn độ sương thiên.)
|
心 機 不 掛 絲
毫 念
口 業 何 勞 揀
擇 言
為 報 元 君 陳
處 士
一 聲 冷 雁 度
霜 天
|
Hoá ra đây chỉ là bài thơ Thiền hiển
ngôn, c̣n về mặt ẩn ngôn th́ nó lại là một bài thơ rất
đời – nói đời là để đối với đạo, chứ không có nghĩa là
tầm thường. Và hàm nghĩa của bốn câu thơ đời trên đây
là: ở trong ḷng của họ, họ đă không mảy may nghe nghĩ
đến những điều chúng ta nói, th́ chúng ta việc ǵ phải
v́ cái nghiệp miệng mà lựa lời hay ư đẹp để nói với họ
cho mệt. Vậy xin nhắn rơ với Nguyên quân, người ở ẩn họ
Trần, rằng tiếng của chúng ta chỉ là một tiếng kêu của
một con nhạn rét mướt bay xuyên qua bầu trời đầy sương
mà thôi.
Tại sao Tuệ Trung lại khuyên Hưng Trí như
thế? Là v́, theo ông, họ là những kẻ:
Tràng hoa
chuỗi hạt voi không ngó,
Phím ngọc dạo
đàn trâu chẳng nghe.
(Ngọc tháo
nhập cầm ngưu bất thính,
玉 橾 入 琴 牛 不 聽
Hoa trang anh
lạc tượng hà tri.)
花 粧 瓔 珞 象 何 知
[Vật bất năng
dung 物不能容]
Nếu dùng nhũng lời lẽ dân gian, hẳn nhà
thơ đă nói rằng họ là những kẻ «có mắt như mù», c̣n cái
nghiệp miệng của ông và Hưng Trí chẳng qua chỉ là chuyện
«đàn gảy tai trâu».
Cảnh ngộ của Tuệ Trung và Hưng Trí có lẽ
chỉ là một: cả hai đều bị thất sủng. Một người là bác
(Trần Trung là anh của Trần Quốc Tuấn), một người là
cháu (Trần Quốc Tuấn là cha của Trần Quốc Nghiễn, tức
Hưng Trí) và họ vô h́nh trung đă trở thành đôi bạn vong
niên. Tuệ Trung đă trịnh trọng gọi cháu là Nguyên quân,
kèm theo tước Hưng Trí Thương vị hầu, họ là những người
bạn tri âm. Mà tri âm thường lại hiếm. Bởi thế, Tuệ
Trung cảm thấy cô đơn. Đây cũng là một nét tâm trạng
khác được thể hiện khá rơ trong thơ ông.
Ngay cả khi làm thơ về đạo, ông cũng dẫn
dắt người đọc đến với những tứ thơ về sự cô đơn của
chính ḿnh:
Trời suông
chỉ thấy ṿng trăng lẻ,
Đêm thu ngập
bể Phật trong veo.
(Trường không
chỉ kiến cô luân nguyệt,
長 空 只 見 孤 輪 月
Sát hải trừng
trừng dạ mạn thu.)
剎 海 澄 澄 夜 漫 秋
[Thị tu Tây
Phương bối 示修西方輩]
Thậm chí có lúc người ta c̣n có thể có
cái cảm tưởng là Tuệ Trung h́nh như chỉ mượn đạo để nói
đời. Chứng thực là bài Phỏng Tăng Điền đại sư
訪僧田大師
(thăm đại sư Tăng Điền) với hai câu cuối:
Sáng rạng
ngh́n non người thấy suốt,
Rừng sâu vượn
lẻ hú ai nghe.
(Nhân gian
tận kiến thiên sơn hiểu,
人 間 盡 見 千 山 曉
Thuỳ thính cô
viên đề xứ thâm.)
誰 聽 孤 猿 啼 處 深
Thơ văn Lư Trần (tập II, quyển thượng) đă chú giải kỹ về
câu cuối: «Nghe tiếng vượn cô đơn kêu nơi rừng sâu thẳm:
tức là nghe âm thanh tại nguồn phát ra nó, ở đó nó c̣n
trong lắng, nguyên thể, chưa hiện hữu thành sắc tướng.
Đó là cái mà Thiền học gọi bằng ‘bản lai diện mục’, đó
tức là thấy tính.»[9]
Thế nhưng nếu người ta mạnh dạn tin tưởng sự thật về tâm
trạng cô đơn của Tuệ Trung như đă sơ bộ chứng minh th́
người ta lại c̣n thấy thêm rằng đó cũng là những câu tự
thán lâm li và rất chân thành.
C̣n sau đây là cảnh cô đơn thực thụ trong
bài Giang hồ tự thích
江湖自適
(thoả ư nơi cảnh sông nước – bài I):
Sông dài
thuyền nhỏ nổi lênh đênh,
D́u dặt chèo
khua vượt băi ghềnh;
Nhạn lạ xứ
nào kêu một tiếng,
Gió thu cao
lộng khắp mười châu.
|
(Tiểu
đĩnh tràng giang đăng dạng phù,
Du dương
trạo bát quá than đầu;
Nhất
thanh hà xứ tân lai nhạn,
Trắc giác
thu phong biến thập châu.)
|
小 艇 長 江 蕩
漾 浮
悠 揚 棹 撥 過
灘 頭
一 聲 何 處 新
來 雁
陟 覺 秋 風 遍
十 洲
|
Một mảnh thuyền con, một mái chèo nhẹ,
một tiếng nhạn kêu, một giang khách đơn độc; c̣n chung
quanh là sông dài, băi rộng và gió lộng khắp mười châu.
Cũng lại là những h́nh ảnh về cô đơn, những câu thơ của
bài Giang hồ tự thích
江湖自適
(bài II):
Sớm kéo buồm
đơn băng sóng vỗ,
Chiều nâng
sáo ngắn thổi mây sông;
Tạ Tam nay
bặt vô âm tín,
Để lại thuyền
không ghếch cát nông.
|
(Hiểu
quải cô phàm lăng hăn mạn,
Văn hoành
đoản địch lộng yên ba;
Tạ Tam
kim dĩ vô tiêu tức,
Lưu đắc không thuyền các thiển
sa.)
|
曉 掛 孤 帆 凌
汗 漫
晚 橫 短 笛 弄
湮 波
謝 三 今 已 無
消 息
留 得 空 船 閣
淺 沙
|
Một cánh buồm đơn, một chiếc sáo ngắn, Tạ
Tam nay đă không c̣n tin tức, chỉ để lại độc một chiếc
thuyền không và chung quanh là nước rộng mênh mông, sóng
khói lộng ngút cùng băi cát trơ trọi. Vẫn cứ là cảm giác
cô đơn. Đă cô đơn, nhưng chính Tuệ Trung lại muốn dấn
thân vào chốn cô đơn:
Chợt đến; họa
xong rồi lại phúc,
Bói chốn thâm
u gởi tấm thân.
(Thảng lai
hoạ phúc bất đơn hành,
儻 來 禍 福 不 單 行
Nhàn bốc u thâm kư thử
sinh.)
閑 卜 幽 深 寄 此 生
[Thoái cư 退居]
Chính nhà thơ đă chọn nơi sâu vắng để
«gởi kiếp sống này» (kư thử sinh) của ḿnh ở đấy. Quả là
mâu thuẫn: tỏ ra ái ngại về cảnh cô đơn, mà lại muốn t́m
sống ở nơi xa xăm cách trở. Mâu thuẫn này có nguyên nhân
không phải hoàn toàn khó hiểu. Như đă nói, ông là người
tỏ ra tha thiết với công việc triều chính, không phải v́
hám danhhám lợi, mà chỉ v́ muốn cống hiến cho nước, cho
đời. Nhưng h́nh như chính triều đ́nh đă khước từ ông. V́
thế ông đâm ra chán ghét nơi đô hội và chốn cung đ́nh.
Ông muốn lui về ở một nơi thật xa:
Về vui với
đạo thôi, ẩn sơn lâm,
Xa bỏ lợi
danh thôi, lánh thị triều.
(Qui dư đạo
ẩn hề sơn lâm,
歸 歟 道 隱 兮 山 林
Khôi khước
lợi danh hề triều thị.)
灰 卻 利 名 兮 朝 巿
[Trừu thần
ngâm 抽脣吟]
Tại sao ông lại muốn lui về chốn sơn lâm
mà xa lánh chốn triều đ́nh và nơi thị tứ? Có lẽ là v́
người ta đă không thấy hết, ói đúng hơn, đă không chịu
thấy, cái tài kinh bang tế thế, cái chí di sơn đảo hải
của ông, nên đă không trao cho ông những trọng trách
xứng đáng với tài đức, mà chỉ phân cho ông những công
việc tầm thường, cho nên, ông mới sinh ra bất măn. Sự
bất măn này đă phát lộ ra cả ngay khi ông làm thơ về
Thiền:
Ḷ cả mà đúc
chi dùi bỏ túi,
Hổ khoẻ có sá
ǵ con đói thịt;
Thuyền tốt há
lại ngại cơn sóng gió,
Sắc thuần lẽ
nào sợ màu tía hồng.
|
(Hồng lô
bất chú hề nang chuỳ,
Mănh hổ
bất miết hề nhục ki [cơ];
Lương chu
khởi ngại hề phong ba,
Chính sắc
hà phương hề hồng tử.)
|
洪 爐 不 鑄 兮
囊 錐
猛 虎 不 瞥 兮
肉 饑
良 舟 豈 礙 兮 風 波
正 色 何 妨 兮 紅 紫
|
[Trừu thần
ngâm 抽脣吟]
Đây rơ ràng là sự bộc lộ không úp mở một
mặc cảm tự thị – một sự tự thị chính đáng và xứng đáng,
mà mối ẩn ức thường trực đă dấy lên trong tâm năo của
Tuệ Trung một cách tự nhiên và đột xuất không thể ḱm
hăm lại được. Mà nhiều khi h́nh như chính ông cũng đă tỏ
ra không cần che giấu điều này. Quả là cái cảnh ngộ của
Tuệ Trung đă tạo cho ông một mối ẩn ức thường trực. Ở
đâu, lúc nào, với ai ông cũng có thể liên tưởng đến cảnh
ngộ đó, mà thốt lên nỗi bất đắc chí. Cả khi vịnh cảnh
vật ở Phúc Đường, nơi hành đạo của thầy ḿnh là thiền sư
Tiêu Dao, Tuệ Trung cũng đă có thể viết được như sau:
Chưa nhằm
thời thuận hiền nhân xuất,
Vui tạm rừng
sâu thụy thú tàng.
(Vị phùng
thời thái hiền nhân xuất,
未 逢 時 泰 賢 人 出
Thả hỉ lâm
thâm thụy thú tàng.)
且 喜 林 深 瑞 獸 藏
[Phúc Đường
cảnh vật 福堂景物]
«Hiền nhân» đây không phải ai khác hơn là
Tuệ Trung. Mà «thụy thú» (con muông tượng trưng cho điềm
lành) thực ra cũng chỉ là một ẩn dụ, để chỉ không phải
ai khác hơn là chính tác giả bài thơ. hai câu trên cho
chúng ta thấy rơ: tâm lư của Tuệ Trung là một tâm lư chờ
thời.
Thế nhưng cuối cùng ông vẫn là một nhân
cách cao thượng, có thể nói là siêu phàm nữa (v́ quả
trong cuộc đời thật th́ hiếm có người như ông). Ông
không tự cho phép ḿnh thi thố tài năng và thực hiện ư
chí mà làm tổn hại đến người khác, nhất là những người
thấp cổ bé miệng. Ông không sa vào cảnh thấp hèn của
biết bao nhiêu kẻ tham quyền cố vị, đă lôi bè kéo cánh
để tranh giành ngôi thứ mà cái kết cục thường chỉ là
«trâu ḅ húc nhau ruồi muỗi chết». Cho nên ông đă tự
nhủ:
Bủa rộng lưới
mầu để bắt phượng hoàng,
Chớ hứng chí
dụ én, sẻ đồng mưu;
Nay muốn
buông câu nhữ giống ḱnh nghê,
Đừng làm lụy
đến họ hàng ếch nhái.
|
(Quảng
đại trương phượng hoàng diệu vơng,
Mạc phóng
chí yến tước đồng mưu,
Kim dục
phao ḱnh nghê điếu câu,
Khước lụy
sầu hà mô đẳng loại.)
|
廣 大 張 鳳 凰 妙 網
莫 放 志 燕 雀 同 謀
今 欲 拋 鯨 鯢 釣 鉤
卻 累 愁 蝦 蟆 等 纇
|
[Trữ từ tự
cảnh văn 抒辭自警文]
Chính v́ quan niệm như thế mà ông đă
không tiếp tục hành động ǵ thêm về mặt đời, để chỉ tầm
đạo. Mà về mặt đạo th́ ông rơ ràng là một thiền sư siêu
việt và độc đáo. Tiếc rằng do sự thiển cận và sự ích kỷ
của triều đ́nh – có lẽ là đúng như thế – mà ông đă không
có điều kiện để cống hiến cho nước, cho đời theo đúng
cái tài và cái chí của ông. Nếu lúc bấy giờ sự sáng suốt
và lẽ công bằng đă ngự trị được nơi ngai vua và trong
chốn triều đ́nh, th́ ngày nay hẳn chúng ta không những
đă có một Tuệ Trung Thượng Sĩ uyên thâm về thiền học, mà
sẽ c̣n có thể có cả một Hưng Ninh Vương tài kinh bang tế
thế lừng danh.●
Nguồn:
Tạp chí Thông Tin Khoa Học và
Công Nghệ, Thừa Thiên Huế, 1999, tr.79-87.
CHÚ THÍCH