|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU
PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG I
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn
Hầu.
I. HÀNH VI VÀ THÂN THẾ BUỔI ĐẦU.
Đức Phật Thầy
Tây An chính danh là Đoàn
Minh Huyên, sanh vào giờ ngọ, ngày rằm tháng mười năm Đinh
Măo (1807), nhằm năm Gia Long thứ sáu.
Ngài quê ở làng Ṭng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc
(1). Tổ phụ ở đó từ lâu, nhưng tên họ là ǵ ngày nay không ai
biết được. Chỉ biết trong thân tộc của Ngài, thuở Ngài mới ra
đời, c̣n có hai người (anh chú bác) là Đoàn Văn Điểu và
Đoàn Văn Viên (2) mà thôi. Về sau khi hai ông này mất đi, con
cháu v́ trải qua nhiều lần tao loạn trong nước nên hoặc chết,
hoặc xiêu lạc đi nơi nào mà hiện nay ở Ṭng Sơn không c̣n thấy
roi truyền miêu duệ.
Căn cứ vào nhiều bậc bô lăo ở đây cho biết chắc chắn th́ Đức
Phật Thầy bỏ nhà ra đi từ lúc tuổi c̣n nhỏ lắm. Ngài đi đâu và
làm ǵ, cả trong làng cho đến những người thân thuộc của Ngài
cũng không ai hiểu được. Lần hồi, ngày lụn tháng qua, tên tuổi
và h́nh dáng của Ngài chôn sâu vào thời gian, người ta không
c̣n nhớ một mảy may ǵ về Ngài nữa.
Một hôm, khoảng đầu năm Kĩ Dậu (1849), Ngài quá giang với một
chiếc ghe buôn từ miệt trong (?) về. Lúc đến vàm rạch Ṭng
Sơn, Ngài lên bộ lần theo bờ rạch mà đi (thuở ấy đuôi làng
Ṭng Sơn ngang làng Tịnh Thới, Sa Đéc, chớ không phải lỡ c̣n
nhỏ quá như ngày nay). Khi đến gần đ́nh làng, gặp lúc có
cây da trốc gốc ngă bật xuống sông, lấp cả đường nước, ghe
xuồng qua lại đậu dồn chật cả một khúc sông, dân làng đang rũ
nhau xúm lại thật đông, cột dây để kéo cây vào bờ. Công việc
này h́ hục đă ngót nửa ngày rồi mà vẫn vô hiệu, người ta định
giải tán. Kịp khi Đức Phật Thầy vừa tới, Ngài thấy vậy bèn ngỏ
lời với dân làng xin để Ngài kéo hộ:
- Các ông hăy cột dây lại, tôi sẽ ra sức tiếp tay với các ông.
Đám dân làng cười x̣a:
- Chúng tôi lực lưỡng và đông đảo như thế này mà kéo không đi,
ông ốm yếu quá làm sao tiếp nổi?
Đức Phật Thầy cười:
- Bà con thử cột xem, tôi liệu có cách kéo được.
Thấy lời nói ôn tồn và vẻ mặt quả quyết của "người khách lạ",
mấy người dân làng lội xuống nước, cột dây lại và sắp hàng hai
bên để chờ xem ông khách bộ hành này định kéo thế nào...
Đức Phật Thầy đứng giữa giơ tay lên, hô to:
- Hè... hăy kéo lên!
Hai hàng dây của hai tốp người vừa hơi căng thẳng, cây da từ
từ xếp ngọn vào bờ, khỏi phải hè hụi ó la và nhọc công ra sức
chi hết.
Những ghe xuồng đậu lại mấy hôm nay thấy trống được đường nước
th́ mừng rỡ ra đi. Mấy người dân làng v́ mệt nhọc suốt buổi
nay cũng uể oải kéo nhau về. Họ quên xem người khách bộ hành
ấy về đâu, và cũng không buồn nghĩ đến chuyện cây da v́ sao mà
kéo vào được dễ dàng như vậy.
Xong việc, Đức Phật Thầy lại ra đi. Khi đến đ́nh thần làng
Ṭng Sơn, Ngài ghé vào. Từ ấy người ta thấy Ngài ngụ luôn tại
đây, ở mái hiên sau, ngày th́ chặt sậy, làm cỏ, đêm đến lại
quét lá da để nấu nước uống.
Được ít hôm, ông từ đ́nh làng này thấy vậy có ḷng lo sợ cho
sự rủi ro xảy ra hoả hoạn, v́ đ́nh thuở ấy lợp bằng tranh, mà
đêm đêm Đức Phật Thầy cứ đốt củi lửa lên hoài, nếu có bề nào
th́ sẽ khổ cho ông về phần trách nhiệm. Ông bèn đem ư kiến ấy
mà bày tỏ cùng Đức Phật Thầy, và xin đừng đốt lửa ban đêm nữa.
Ngài điềm tĩnh niệm Phật mà trả lời:
- Tôi ở đâu th́ sẽ giữ cho đó được b́nh yên, xin ông đừng
ngại.
Năm ấy thời hành dịch tả nổi lên nhiều nơi, ở làng Ṭng Sơn
cũng bắt đầu có lai rai bịnh ấy. Chức việc làng và dân chúng
thấy vậy lo sợ, họ xúm nhau lại đ́nh, làm heo gà cúng vái và
đóng bè để "tống gió" ra khỏi làng.
Nghe biết được việc ấy, Đức Phật Thầy ra trước chức việc làng.
Ngài tỏ ư không muốn có công việc sát sanh hại vật mà tống
gió, v́ theo ư Ngài th́ hăy tin tưởng Phật Trời cho thành ḷng
c̣n hơn, chứ tống như thế này, nếu thật có linh nghiệm th́
cũng chỉ là một việc làm ích kỷ. Ḿnh khỏi hoạ mà người khác
mang tai th́ sao?
Nhà chức trách trong làng không tin, cho là lời nói nhảm. Ngài
buồn bă trở vào hiên sau, vừa đi vừa than:
- Các ống tống th́ tôi xin rước!
Những lời
biện giải đầy đạo đức và sáng suốt ấy của
Đức Phật Thầy đă không đem lại được kết quả, mà
trái lại, chức việc làng cho là một điềm gở, nên vài hôm sau,
họ cử ông Thị sự (3) đến truyền lịnh không cho Ngài ở nữa, lấy
cớ rằng trong làng không có quyền chứa chấp những người lạ
mặt.
Đức Phật Thầy nhận lời, nhưng trước khi đi, Ngài yêu cầu ông
Thị sự mua hộ cho Ngài một đôi đèn sáp để Ngài làm lễ khai lư
lịch cho làng và dân chúng nghe đă.
V́ tính háo kỳ của ông Thị sự, và ḷng tin tưởng của một ít
người ở chung quanh đ́nh, thấy Đức Phật Thầy có nhiều cử chỉ
nữa hư nữa thực, nên cuộc lễ được tổ chức một cách rất mau lẹ.
Sau khi lên đèn nhang làm lễ, Đức Phật Thầy kể rơ ông bà
cha mẹ ḿnh là ai, bà con ḍng họ có những người nào, bỏ
nhà ra đi từ bé để tu hành và ngày nay được tỏ ngộ như thế
nào, và sau rốt, Ngài tự xưng ḿnh là Đoàn Minh Huyên.
Chức việc và dân làng nhiều người mửa tin nửa ngờ. Họ tính ra
th́ trong số thân thuộc mà Đức Phật Thầy đă kể, có ông Đoàn Văn Điểu và ông Đoàn Văn
Viên hiện c̣n sống, và đang ở trong làng này, nên liền cho
người mời đến.
Khi giáp mặt, ông Điểu cũng không nhận ra được Đức Phật Thầy.
Ngài phải đem công việc gia đ́nh đầu đuôi từ lúc ra đi thế nào
mà thuật lại một mạch. Nghe xong, ông Điểu ôm Đức Phật Thầy mà
khóc oà lên và sau khi chấm dứt câu chuyện hàn huyên, ông Điểu
khuyên Ngài nên ở lại quê hương làm ăn với ông, đừng đi đâu
nữa để đến phải thân h́nh tiều tụy, già nua trước tuổi như
ngày nay (4).
Để trả lời ông Điểu, Đức Phật Thầy đem việc đạo lư ra mà bàn
giải chung cho mọi người nghe, rồi xin cáo từ mà đi.
Bấy giờ ai nấy đều bừng tĩnh, v́ thấu được ư nghĩa hay ho
trong lẽ đạo mà Đức Phật Thầy vừa giải, nên chi tất cả đồng
yêu cầu Ngài ở lại.
Đức Phật Thầy không chịu, Ngài nhứt định ra đi. Ngay khi ấy,
bịnh dịch đă tràn lan tới tấp trong làng Ṭng Sơn.
II. VÀO RẠCH TRÀ BƯ.
Xuống chiếc xuồng bần, bơi bằng một miếng tre nhỏ, Đức Phật
Thầy đi ngược ḷng rạch Ṭng Sơn, đổ lên Cái Tàu Thượng.
Thấy cầm cọng không được nữa, anh em ông Điểu và mấy người dân
làng dọn xuồng đi theo Ngài. Trong chuyến đi này, Ngài cho
người ta thấy một điều kỳ diệu nữa, là: lúc xuồng đi theo Ngài
th́ năm người bơi năm giầm, trong khi ấy th́ Ngài chỉ có một
ḿnh, lại chỉ bơi chẫm răi bằng một miếng tre, thế mà xuồng
Ngài vẫn cứ đi trước và biệt biệt xa dần, năm người nầy dù đă
cố hết sức bơi nhưng cũng không tài nào theo kịp.
Khi đến rạch Trà Bư (thuộc làng An Thạnh Trung, gần ranh hạt
Sa Đéc - Long Xuyên, cách xa chợ Cái Tàu Thượng lối bảy ngàn
thước), Ngài lên bờ, vẹt đế sậy che một cái lều con, rồi ở
luôn tại đó. Ông Điểu và mấy người dân làng Ṭng Sơn khi theo
dơi đến nơi, hết sức khẩn thiết yêu cầu, lạy mà xin Ngài trở
về để cứu hộ cho bá tánh đang cơn hoạn nạn.
Đức Phật Thầy trả lời:
- Tuy tôi đă đi khỏi làng chớ hiện giờ vẫn c̣n để lại "cây thẻ
năm ông" tại sau hiên đ́nh. Mấy ông cứ về thỉnh đó mà uống và
tin Trời tưởng Phật th́ đau căn, bịnh ǵ cũng mạnh.
Ông Điểu và ai nấy rất mừng, trở về th́ quả thật Ngài c̣n để
lại tại đ́nh Ṭng Sơn một cây cờ ngũ sắc.
Người ta tuyên bố ra, một đồn mười, mười đồn trăm, thiên hạ
lúc đầu tới đ́nh thỉnh c̣n được cờ, vài hôm sau hết cờ, họ đẽo
tới cán cờ đem về thiêu rồi hoà với nước mà uống, uống đâu hết
đó.
Hết cờ hết cán, dân chúng kéo nhau vô Trà Bư yêu cầu Đức Phật
Thầy chữa trị. Mấy hôm đầu c̣n có giấy vàng phát ra về sau Đức
Phật Thầy chỉ cho bằng tro nhang mà không đủ. Số người kéo
đến, xuồng ghe đậu chật cả một khúc sông. Trên bờ, lau sậy bị
giậm rạp bằng cả xuống mặt đất. Một cảnh tấp nập đống vầy bỗng
nhiên hiện ra giữa chốn hoang vu rừng bụi, không ai ngờ được.
III. KHI ĐẾN XẺO MÔN.
Mùa thu tháng 8 năm Kỉ Dậu (1849), dân chúng ở quang vùng Trà
Bư như Hội An, Mỹ An và Ṭng Sơn... nhờ có Đức Phật Thầy cứu
độ nên bịnh thế đă yên, Ngài nghe đồn ở làng Kiến Thạnh bịnh
dịch mới phát lên bạo hành lắm; động mối từ tâm, Ngài rời Trà
Bư, bơi xuồng lên rạch Xẻo Môn (trước là làng Kiến Thạnh, nay
đổi lại là Long Kiến, tỉnh Long Xuyên, để độ dân, tế thế (5).
Một sáng kia tại đ́nh làng Kiến Thạnh (hồi trước ở tại vàm
Chưng Đùn chứ không phải chỗ đ́nh Long Kiến ngày nay), khi ông
từ vào dâng hương trên bàn chánh, bỗng trông thấy một người lạ
mặt ngồi chễm chệ giữa bàn Thần, ông từ hồn bất thủ xá, vừa la
vữa chạy. Người ngồi trên bàn Thần thấy vậy kêu lên và ngoắt
ông từ trở lại.
Xa xa nh́n lại, ông từ xem thấy người ấy mặt mũi có vẽ hiền
lành, không có chi đáng sợ hăi, bèn chậm chậm rề lại và hỏi:
- Ông là ai, ở đâu mà dám đến đây ngồi trên bàn Thần như vậy?
Người lạ mặt ấy đáp:
- Ta là Phật Thầy, giáng thế đặng cứu nguy cho dân chúng!
Ông từ suy nghĩ một chút rồi hỏi:
- Ông xưng là Phật, vậy dân ở trong làng nầy hiện nay đang mắc
bệnh ôn dịch mà chết rất nhiều, ông có thể cứu sống người ta
được không?
- Được chứ, ai mắc bệnh ấy đâu, đem lại đây, ta cứu dùm cho!
Lúc ấy, trong làng người bị bịnh dịch chẳng thiếu chi. Ông từ
cho hay ra, đang lúc ở gần đó có ông Thuông (6) bị ỉa mửa gần
chết, người nhà xin cứu, quả nhiên Đức Phật Thầy trị được.
Tiếng đồn lan ra khắp làng, người ta đến xin cứu bịnh mỗi lúc
một đông, đông hơn ở Trà Bư gấp bội, v́ bịnh dịch đang lộng
hành ở đây.
Ba hôm sau, chức việc làng thấy người ta đến rần rộ quá sợ bị
quan trên quở phạt, bèn xin Đức Phật Thầy dời về cái cốc của
ông Kiến (xéo rạch Xẻo Môn, chỗ cất chùa Tây An Cổ Tự ngày
nay), cho tiện việc chữa bịnh và thờ Phật tại đ́nh.
Cũng giấy vàng, tro nhang như ở Trà Bư mà phát ra hoài không
đủ được, Đức Phật Thầy phải dùng đến áo nhang, nước lă. Thiên
hạ chen chúc đến đông vầy, nhiều người chờ đợi đôi ba ngày mới
thỉnh được thuốc, có người không chen vào được, phải lễ bái ở
ngoài sân.
Hoạt cảnh này đă được giảng xưa diễn ra rất rơ:
Dầm trời thiên hạ như mưa,
Ban mai đến tối phát chưa rồi bùa.
Người đi tới trước vô chùa,
Mấy người tới trễ lạy đùa ngoài sân.
Chẳng những bịnh dịch mà thôi, ngoài ra bất luận bệnh chi Ngài
cũng trị được, chỉ trừ một ít người tận số:
Nói cho bá tánh tỏ t́nh,
Mấy người tới số Thầy xin đặng nào.
Muôn ngàn thiên hạ xiết bao,
Đau căn Thầy độ bịnh nào cũng an.
Nơi đây, Ngài bắt đầu chỉ dạy cách tu hiền cho những người mộ
Đạo, và dựng lên nghi thức thờ phượng trang hoàng, mở rộng
chùa chiền, cùng thâu nhiều đệ tử.
IV. Bị Dời Về
An Giang.
Từ khi Đức Phật Thầy dời sang cốc ông Kiến về sau th́ bịnh
nhơn đén xin thuốc càng ngày càng đông, người theo về tu niệm
mỗi lúc một nhiều, danh tiếng đồn ra vang dội khắp nơi. Người
ta mừng rỡ bảo nhau: Đức Phật Thầy quả là một vị Phật sống,
lâm phàm trợ thế.
Lúc ấy nhà chức trách huyện Đông Xuyên (ngày nay là tỉnh Long
Xuyên) rất kinh động, v́ thấy ḷng người trong huyện hầu hết
đă hướng theo Đức Phật Thầy, ấy là chưa kể đến các vùng phụ
cận. Họ nghĩ rằng nếu cứ để như vậy, rủi Ngài có chủ trương
nổi lên một cuộc bạo động nào th́ không phương ǵ dập tắt
được, nên liền mật báo về tỉnh An Giang xin quan Tỉnh liệu
định lẽ nào cho họ khỏi bề trách nhiệm.
Quan Tổng Đốc tỉnh An Giang bấy giờ là Huỳnh Mẫn Đạt
(7) cũng có hay biết việc ấy,
nhưng chưa rơ đích xác, nay được mật tin ở huyện Đông Xuyên
báo lên kết quả quyết th́ lấy làm lo sợ, e có sự xảy ra như vụ
Lâm Sâm và nhóm thầy chùa làm loạn ở Trà Vinh trước đây mấy
năm (Thiệu Trị nguyên niên 1840) đó chăng! Nên ông chẳng chút
chần chừ, cấp tốc sai lính tráng xuống vời ngay Đức Phật Thầy
về tỉnh.
Hôm ấy vào lúc giờ ngọ; bá tánh đến thỉnh thuốc đông đảo,
nhưng giờ này ai nấy đều im lặng, để cho Đức Phật Thầy sửa
soạn thời cúng. Bỗng từ ngoài sân có tiếng kêu vang:
- Có ông Đạo ở nhà đây không?
Đức Phật Thầy từ trong cốc lên tiếng:
- Có. Ai hỏi tôi có việc chi?
- Có lịnh quan Tổng Đốc An Giang đ̣i, ông Đạo phải sửa soạn đi
liền theo chúng tôi bây giờ đây!
- Mấy ông nán cho tôi cúng ngọ một chút được không?
- Không được, chuyện gấp lắm!
Thế là Đức Phật Thầy không kịp từ giă bổn đạo, theo chân mấy
tên lính xuống thuyền vượt thẳng lên An Giang. Trong bọn này,
nghe đâu có Cai Trung và Đội Bồng chỉ huy nhưng Cai Trung th́
đối xử với Đức Phật Thầy thật ôn hoà lễ độ nên không sao, c̣n
Đội Bồng v́ xấc lấc vô lễ nên sau đó ít ngày phải á khẩu rồi
chết.
Khi giáp mặt quan Tổng Đốc An Giang, sau những câu hỏi chận
đón để buộc tội Đức Phật Thầy là gian đạo sĩ, họ bày ra đủ
cách để thử thách Ngài. Theo những bài lịch truyền nói về Ngài
và nhiều bậc phụ lăo thuật lại th́ nào là lót tượng Phật Quan
Âm dưới chiếu rồi bảo Ngài ngồi lên, trong khi có nhiều tăng
săi khác đă ngồi rồi trên chiếu ấy (8).
Nào là dọn cơm chay để lẫn cơm mặn rồi bảo Ngài ăn, v.v...
song nhứt nhứt Ngài đều ứng đáp trôi chảy, khám phá ra được
hết.
Có lần người ta thử Ngài bằng cách cùng ngồi liều
(9) với các vị Hoà thượng khác,
xem ai đủ đức tính nhẫn nại hơn. Ngài bảo rằng ngồi liều bằng
ngại diệp không có chi lạ, hăy dùng chuông nướng đỏ rồi úp lên
đầu, như thế mới xem được có kiên tâm hay không. Các Hoà
thượng nghe nói thất đảm, song Ngài th́ vẫn điềm nhiên, đốt
chuông đặt lên.
Sau khi t́m hết cách thử thách, nhà chức trách tỉnh An Giang
đă đem ḷng khâm phục Đức Phật Thầy, nhưng cũng phải tạm lưu
giam Ngài để đợi lịnh triều đ́nh định đoạt. Trong lúc lưu giam
ấy, Ngài muốn ra vào tự ư, đội cai không tài nào ngăn cản
được. Thế nên mấy lúc sau, người ta cho Ngài được ở ngoài tự
do, không ràng buộc nữa.
Thể theo đề nghị của quan Tổng Đốc tỉnh An Giang, Đức Phật
Thầy được triều đ́nh chính thức công nhận, được tự do hành
đạo, nhưng buộc Ngài phải xuống tóc như hàng tăng săi tu Phật
ở cửa Thiền. Tương truyền rằng trước khi Ngài thế phát, người
ta có sắm sẵn cho Ngài một cái mặt kiếng, một cây kéo và một
cái mâm, để tỏ ḷng trọng kỉnh.
Khi xuống tóc rồi, Đức Phật Thầy chia ra gởi cho các môn nhơn
đệ tử có tâm chí giữ làm kỹ niệm. Số tóc ấy hiện giờ mặc dầu
đă trăi qua hơn một trăm năm, vẫn c̣n nhiều người giữ được.
V. Vào Núi
Sam.
Sau khi Đức Phật Thầy được tha, để tránh sự hoài nghi của nhà
cầm quyền, Ngài vào núi Sam ở chung một ngôi chùa sẵn có do
giáo phái Lâm Tế lập ra v àđă được triều đ́nh chứng nhận. Chùa
này thờ Phật cốt, gơ mơ tụng kinh, không giống cách trần thiết
và nghi thức hành đạo của Ngài. Lúc đầu khi Đức Phật Thầy mới
vào đây, vị sư trú tŕ trong chùa xem Ngài như một người
thường mới vào quy y thọ phái nhưng sau đó ít lâu, v́ thấy
được những đạo pháp lạ thường của Ngài, các sư mới tỏ ư khâm
phục và đồng xin tôn Ngài lên bậc sư trưởng. Ngài từ chối, cho
rằng trước sau như vậy, vả lại có như thế, cơ phổ hoá quần
sanh của Ngài mới được phương tiện tu hành (10).
Từ ấy, cái bối cảnh ở Xẻo Môn trước kia đă như tàn tạ, nay
bỗng nhiên được phô diễn lại nơi đây. Người ta rầm rập tới
lui, xin phù thỉnh thuốc và thọ phái quy y.
Để thực hiện cho kỳ được cái giáo pháp vô vi chân truyền mà
Ngài đă mở ra từ buổi trước, Đức Phật Thầy bắt đầu t́m những
nơi hẻo lánh xa xôi để lập ra những cơ cấu tôn giáo -mà thuở
ấy ngài cho gọi là trại ruộng- để đem bổn đạo tới đó vừa tu
niệm vừa làm ăn. Bằng cách ấy, Ngài đă biểu thị tinh thần Phật
giáo vị nhân sinh, lúc nào cũng v́ đời v́ người mà dùng Phật
đạo để cứu khổ giác mê chớ không hề bi quan yếm thế.
Bởi vậy, các trại ruộng, trại gỗ lần lần được dựng lên quanh
vùng Thất Sơn như ở Thới Sơn, Láng Linh và Ngài đă phái các vị
đại đệ tử đến ở đó để chăm lo săn sóc công việc.Nghi thức thờ
phượng th́ đặc biệt theo giáo phái của Ngài là thờ trần điều,
cúng nước lă, bông hoa mà thôi, chứ không phải như ở núi Sam.(11)
Lúc này Đức Phật Thầy tuy tiếng ở núi Sam chứ thật ra th́ Ngài
luôn luôn vân du đây đó để tùy cơ phổ độ quần sanh. Khắp vùng
Thất Sơn không đâu là Ngài không bước đến. Thỉnh thoảng Ngài
đến những trại ruộng để truyền dạy đạo pháp cho tín đồ, các
ông Cố Quản, Đạo Xuyến, Đạo Lập, Đ́nh Tây, Tăng Chủ, cậu hai
Lănh, v.v... đều được Ngài truyền cho bí pháp. Bởi vậy, về sau
tín đồ của các vị này phần nhiều cũng được đắc đạo cả.
Ngài thọ được 50 tuổi, tịch tại núi Sam vào giờ Ngọ ngày 12
tháng 8 năm Bính Th́n (1856), trong lúc không bịnh chi lắm,
tinh thần vẫn b́nh tĩnh, sau khi đă nhắc nhở đạo đức và dặn ḍ
công việc cho các tín đồ.
(C̣n Tiếp)
GS Nguyễn Văn Hầu.
CHÚ THÍCH:
(1) Khi xưa là làng Ṭng Sơn, đến hồi Pháp thuộc th́ ba làng
Mỹ An, Mỹ Hưng và Ṭng Sơn bị sáp nhập lại gọi là Mỹ An Hưng.
Hiện nay cũng gọi là Ṭng Sơn.
(2) Có người nói là Đoàn Văn Thuyên, không rơ tên nào đúng.
(3) Chúng tôi không hỏi được tên họ ông Thị sự nầy. Chỉ biết
ông có người cháu tằng tôn là ông Hương giáo Tố mới chết mấy
năm nay ở Ṭng Sơn.
(4) Đức Phật Thầy tuổi Mẹo, tính ra tới năm trở về Ṭng Sơn
th́ mới có 43 tuổi, thế mà nhiều cụ già nghe kể lại th́ Ngài
hồi ấy râu tóc như một ông già cho nên anh em ông Điểu không
nhận ra được.
(5) Khi c̣n ở Ṭng Sơn, Đức Phật Thầy có lúc băng xuồng ngang
qua rạch Cái Dứa rồi ngược ḍng vào làng B́nh Đức (ngày nay
làng B́nh Đức đă sáp nhập cùng hai làng Phú Xuân và Tân Phước,
gọi là B́nh Phước Xuân, thuộc Cù Lao Giêng, Long Xuyên), rẻ
sậy che lều ở đó ít lâu để phát phù trị bịnh. Nơi đây Ngài có
thâu mấy vị đệ tử mà chúng tôi c̣n nghe biết là ông Chánh Bái
Nguyễn Văn Duyên và ông Nguyễn Văn Kỉnh (đạo hiệu Thần Tự
Kỉnh), tu niệm rất chí tâm. Khi Đức Phật Thầy qua Xẻo Môn rồi
bị bắt lên An Giang, triều đ́nh ra lịnh xuống tóc, Ngài có gởi
về Cù Lao Giêng cho hai ông này mỗi người một lọn. Ngày nay
con cháu ông Duyên không thấy c̣n ai, không biết bảo vật ấy về
đâu, c̣n ông Kỉnh th́ lưu truyền mớ tóc ấy được đến bây giờ,
hiện cháu huyền tôn của ông ấy là ông Nguyễn Ngọc Chơi c̣n
giữ. V́ không rơ được nguyên cớ và ngày tháng Đức Phật Thầy
qua đây, nên không dám chép ở phần trên.
(6) Ông Thuông lúc đó c̣n nhỏ, sau lớn lên làm Hương Cả nên
người ta gọi là ông Cả Thuông.
7) Khi Pháp vào Nam Kỳ th́ Huỳnh Mẫn Đạt v́ già yếu nên xin
hồi hưu, đổi Phan Khắc Thân lên thay ở An Giang.
(8) Giảng xưa có chép chuyện quan tỉnh An Giang mời Đức Phật
Thầy ngồi trên chiếu, trong khi dưới chiếu ấy có lót tượng
Phật. Ngài trả lời đại ư như vầy:
Bẩm tôi xin đứng dưới nầy,
Hoà thượng, thầy săi ngồi rày hai bên
Tham ăn thấy thác một bên,
Dưới tưọng Phật Bà Hoà Thượng ngồi trên.
Hoà thượng nghe nói ngă lăn....
(9) Tức ngồi thiền.
(10) Do đó mà khi Đức Phật Thầy tịch, người ta mới khắc vào
bia cho rằng ngài ở trong giáo phái Lâm Tế như ngày nay ta c̣n
thấy tại mộ phần của Ngài ở núi Sam. Và cũng chính v́ thế mà
vị Hoà thượng Lâm Tế hồi ấy được dân chúng suy tôn là Hoà
Thượng Tổ hay Hoà Thượng Cố.
(11) Đoàn khai hoang thứ nhất vào Thất Sơn, bên chân núi Két,
nơi mà rừng bụi rậm ŕ, hổ báo lúc nào cũng có thể xuất hiện
để đe dọa hoặc làm hại người ta được. Đoàn này chia làm hai
nơi, một do ông Bùi Văn Thân tức Tăng Chủ Bùi Thiền Sư, một do
ông Bùi Văn Tây tức Đ́nh Tây chỉ huy. Nơi đây nông trại Hưng
Thới và Xuân Sơn được dựng lên. Đoàn khai hoang thứ hai do ông
Quản Thành tức Đạo Thành điều khiển, đem nhau đến Láng Linh,
một vùng bùn lầy, mùa lụt như biển cả mà mùa hạn th́ như bải
cát hoang. Địa thế không thuận lợi mấy cho nông nghiệp nhưng
rất đắc địa cho khách ẩn cư tịch mịch. Tại vùng này, một trại
ruộng mệnh danh là Bửu Hương Các được dựng lên. Đoàn thứ ba do
ông Đặng Văn Ngoạn đưa về miền Cần Lố, bên kia bờ Tiền Giang
(vùng Đồng Tháp Mười). Một ngôi chùa được dựng lên tại Trà
Bông để các tín đồ chiêm bái; c̣n ruộng rẫy th́ mở ra khắp nẻo
rạch Trà Bông, trong ḷng Cần Lố, lạch ông Bường.
Đoàn thứ tư về Cái Dầu, nay là xă B́nh Long, sát hữu ngạn Hậu
Giang, nơi có nhiều phù sa, tuy không phải chỗ hoàn toàn hoang
lâm, nhưng vẫn c̣n mênh mông đất rộng, ông Nguyễn Văn Xuyến,
tức Đạo Xuyến, đă cai quản các tín đồ sinh hoạt tại địa điểm
này.
|