|
Hăy nh́n xem các vị Tổ sư thiền xưa kia có phong cách phi thường như thế nào. Ngày nay những hành giả tu thiền có bao nhiêu người giống được như vậy? Hầu hết chưa thể qua được hàng rào công án do những bậc thầy
kiệt xuất này lập ra, nên họ không thể thẩm thấu được cái tinh túy chân lư hàm chứa trong những công án này, và ngọn lửa bức xúc vẫn cháy bừng trong tâm họ.
Họ sẽ không có được một giây phút nào an b́nh trong cuộc đời. Họ giống như những người bị bệnh kinh niên hành hạ từng hồi mỗi ngày. Họ cố tọa thiền trong năm bảy ngày rồi bỏ cuộc và bắt đầu đi
ra lễ lạy trước tượng Phật. Năm ngày sau, họ lại bỏ cuộc rồi bắt đầu tụng kinh. Họ tiếp tục được năm bảy ngày rồi chuyển qua ăn uống kham khổ, ăn chỉ một bữa trong ngày. Họ giống như người
bị bệnh nặng phải nằm ở trên giường, không ngủ được muốn ngồi lên, nhưng rồi thấy cũng không làm được đều đó. Họ ṃ mẫm đi như những con lừa mù. Không biết bước chân ḿnh sẽ đi đến
đâu. Và tất cả chỉ v́ lúc đầu giải đăi. Nên họ không thể nào đạt được sự thấu phá đưa đến niềm vui ào ạt bao la của chứng ngộ.
Thường t́nh th́ một người tu thiền sẽ bỏ ra khoảng ba, năm, có khi bảy năm để tực tập tọa thiền. Nhưng v́ người ấy không để hết tâm sức vào đó, nên họ không đạt được sự nhất quán, và cách
tu của họ không đem lại kết quả ǵ. Năm tháng trôi qua nhưng họ không kinh nghiệm được niềm vui niết bàn, và nghiệp báo luôn chờ đợi họ nếu họ ngưng lại hay lùi bước. Lúc đó họ quay qua niệm hồng danh Phật A Di
Đà và hết sức tŕ niệm, hăng hái ước nguyện sẽ được vảng sanh về cơi tịnh độ, bỏ đi chí nguyện trước đây : Muốn thấy cho được chân lư trên con đường đạo. Ở Trung Quốc, những người
thuộc giới này xuất hiện rất nhiều trong triều đại nhà Tống, c̣n tiếp tục cho đến đời nhà Minh, và cho đến ngày nay. Hầu hết bọn họ là các nhà tu thiền thuộc loại tầm thường, hèn yếu, không có chút nhuệ khí.
Để lấp liếm và che giấu mặc cảm thất bại, họ vội vàng đưa ra những thí dụ về sự tái sinh nơi tịnh độ của các bậc thiền sư như Chieh của núi Wu-tse, Hsin-ju Che, và I của Tuan-ya, để đưa ra kết luận
rằng : thực tập tọa thiền không có ích lợi ǵ. Có điều dường như họ không biết là những người này thực ra đă khởi tu pháp môn niệm Phật ngay từ lúc đầu. Than ôi! Trong sự hăng say muốn t́m sự hỗ trợ cho
những quan niệm đầy định kiến và tầm thường của ḿnh, họ đă đem trường hợp của những kẻ phàm phu không đủ nghị lực tinh tấn kiên tŕ trên đường tu thiền ví với những bậc thánh tăng đă khế
hội được pháp vi diệu sống thực được truyền thừa, khiến cho giá trị của chư vị bị giảm đi. Quả là họ đă hủy báng tinh túy huyền vi không thể nghĩ bàn đă được các vị thánh tăng truyền trao cho nhau
từ đời nọ qua đời kia. Họ đă phạm vào những lỗi lầm nghiêm trọng hơn cả năm tội ngũ nghịch. Không có cách ǵ khiến họ biết tỉnh ra để mà sám hối.
Trên căn bản, không có tịnh độ nào hiện hữu ngoài thiền. Không có tâm nào Phật nào tách biệt ngoài thiền. Lục tổ Huệ Năng đă thị hiện xuất thế từ một quá tŕnh đạo sư của tám mươi kiếp liên tục trước
đó. Thiền sư nam Nhạc là hiện thân của tất cả ba cơi quá khứ hiện tại và vị lai. Họ là những đại dương rộng lớn của sự an định vô biên, là những bầu trời cao mênh mông trong sáng không c̣n chút dấu vế, không c̣n ǵ
để tái sinh trở lại kiếp người, vào nơi cực lạc hay nơi cơi trời, mà cũng là vô sanh. Cơi thiên đàng đầy niềm vui hay cơi địa ngục khủng khiếp, cơi giới bất tịnh hay một cơi tịnh độ đều là những mặt
của viên ngọc Như Ư vận chuyển tự do và dễ dàng trên một cái khay. Nếu có một ư niệm nắm bắt khởi lên, dù là nhỏ nhặt nhất, ta sẽ như một con người ngông cuồng muốn bắt một con rồng mà cố múc nước từ sông
lên.
Nếu sơ Tổ của thiền tông là Bồ Đề Đạt Ma cho rằng, cứu cánh tối thượng của Phật pháp chỉ là ước nguyện văng sanh về cơi tịnh độ, th́ ngài chỉ cần gởi một lá thư sang Trung Hoa với đôi ḍng thế này
“Hăy cố đạt được văng sanh nơi Tịnh độ bằng cách nhiếp tâm niệm Phật không ngừng”, đâu có ǵ khiến ngài phải vượt qua hàng muôn dặm hải lư đại đương sống gió hiểm nguy, chịu bao gian lao cực khổ, để
trao truyền pháp KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT?
Những ai nghĩ rằng pháp môn Tịnh độ xa ĺa với thiền, có biết trong kinh Quán A Di Đà có một đoạn nói về thân Phật A Di Đà cao bằng “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại”? Họ
phải quán tưởng, nghiền ngẫm cho kỹ về đoạn này. Nếu cách quán thân Phật không phải là cách để đạt được sự giác ngộ vô thượng, nếu muốn cho tâm giác ngộ mà không quán chiếu chính bản tánh của ḿnh th́ đó là
cách ǵ ?
Một vị Tổ Tịnh độ là Eshin Sozu đă nói “Nếu có niềm tin lớn mạnh, bạn sẽ thấy được Phật trước mắt”. Tu thiền là làm cho bạn khai mở được tâm ḿnh, để thấy vị Phật xưa đáng kính ngưỡng
ở ngay trước mắt ḿnh, thật hiển nhiển và rơ ràng. Nếu bạn muốn t́m vị Phật đó ở những chốn nào ngoài ḿnh, hăy gia nhập vào hàng ngũ ác ma đang cố t́m cách hủy hoại Phật pháp đi! Trong kinh Kim Cang, Đức Phật đă nói :
Nếu lấy sắc cầu ta
Lấy âm thanh cầu ta
Kẻ ấy hành đạo tà
Không thấy được Như Lai
Tất cả những vị Phật, đều có ba thân : Pháp thân, luôn thường trú và hiển hiện khắp mọi nơi. Báo thân, sự thanh tịnh hoàn hảo. Hóa thân, như đức Thích Ca Mâu Ni được mô tả như sự “kiên tŕ nhẫn nhục trong an định”.
Trong chúng sanh hữu t́nh, ba thân này được hiển hiện như là định, tuệ và sự sự vô ngại. Định ứng với pháp thân. Tuệ ứng với báo thân. Sự sự vô ngại ứng với hóa thân.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói “Khi chúng sanh tạo những việc lành th́ hóa thân hiện. Khi tu trí tuệ th́ báo thân hiện. Khi giác ngộ pháp vô vi th́ pháp thân hiện. Bay khắp mười phương tùy nghi hóa độ chúng sanh là hóa thân vậy. Dứt trừ nghi
hoặc thành đạo nơi núi Tuyết là báo thân vậy. Không nói, không làm, không sở đắc, yên lặng thường trụ là pháp thân vậy. Xét cho cùng một Phật c̣n không có, huống là ba ?
Nói đến ba thân Phật, là dựa vào căn cơ con người có thượng, trung, hạ căn. Kẻ hạ căn chỉ vọng cầu lấy phước, chỉ mong thấy được hóa thân Phật. Kẻ Trung căn vọng cầu dứt đoạn phiền năo,
chỉ mong thấy được báo thân Phật. Người thượng căn vọng chứng bồ đề, mong thấy pháp thân Phật. Người thượng thượng trí, bên trong sáng tỏ vắng lặng. Tâm sáng tức là Phật. Không đợi tâm mà Phật quả
vẫn thành. Mới biết ba thân cũng như mọi pháp khác đều không thể nắm bắt, cũng không thể nói ra. Đó tức là tâm giải thoát, tự thành đại đạo. Kinh nói “Phật không thuyết pháp, không độ chúng sinh và cũng chẳng chứng
bồ đề” là ư nghĩa đó vậy”.
Tổ Hoàng Bá nói “Pháp do pháp thân giảng, không thể lấy ngôn ngữ, âm thanh, h́nh tướng, văn tự mà cầu. Pháp này không thuyết giảng, không chứng đắc, tự tính rỗng không thông suốt mà thôi. Cho nên trong kinh Kim Cang nói ‘Không pháp nào có thể giảng
được. Pháp giảng mà không giảng đó mới chính thực là giảng pháp’. Báo thân hóa thân đều từ cơ duyên cảm ứng mà hiển hiện. Cho nên các pháp do hóa thân giảng cũng tùy sự việc, ứng căn cơ mà dùng để tiếp dẫn giáo hóa.
Tất cả pháp này đều không phải là pháp chân thật. Cho nên nói ‘báo và hóa thân không phải là Phật thực, cũng không phải là thân thuyết pháp”.
Bạn phải nhận thức rằng, tuy Phật ứng hiện vào vô số chúng sanh đủ loại, đủ cỡ, lớn hay nhỏ, nhưng bao giờ cũng thể hiện qua ba thân Phật này thôi. Kinh Kim Quang Pháp Vương nói “Như thế, đạo vô thượng
được thành tựu đều có ba thân Phật. Trong ba thân này, báo và hóa chỉ là những tên gọi tạm thời. Chỉ có pháp thân mới là chân thật, thường hằng và bất biến, là cội nguồn căn bản của hai thân kia”.
Như vậy, có ai nói cho tôi biết cái thân khổng lồ mà kinh Quán A Di Đà đă nói “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại” đó là hóa thân, báo thân hay pháp thân?
Chúng ta đă nghe, báo thân và hóa thân là do Phật độ chúng sanh bằng cách tùy phương tiện mà ứng hiện. Nhưng một thế giới phải lớn bằng chừng nào mới chứa được một vị Phật vĩ đại như thế? Bạn có tưởng
tượng ra được tầm cỡ của chúng sanh nào được vị Phật ấy ứng hiện vào không? Và cũng đừng nói rằng những chúng sinh trong cơi tịnh độ lớn lao như vậy cũng phải to lớn như vậy, Phật thị hiện
trong cơi giới ấy cũng to lớn như vậy. Nếu điều này có thực, phải chăng những vị Bồ tát, những người đi cầu đạo và tất cả những chúng sanh khác sống trong cơi giới ấy cũng đều phải có một tầm
cỡ lớn như là “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại”.
Một con sông lớn như sông Hằng có chiều ngang tới 40 dặm (Nhật). Những hạt cát nhỏ và mịn như những tinh thể vi tế nhất. Dù cho quỉ thần, cũng không thể đếm được số cát trong sông Hằng, hay là nửa sông Hằng đi
nữa. Dù có mắt Phật thông suốt hết tất cả cũng không thể đếm được. Thế th́ trong bản chất, đó là những con số không thể định lượng. Đó là sự tính toán vượt ra ngoài tính toán. Tuy nhiên trong đó hàm chứa
một chân lư sâu sắc khó nắm bắt nhất, hơn tất cả các điều nói trong kinh sách khác của Phật. Đó chính là cốt tủy kim quang của Vô Lượng Thọ Phật vậy.
Nếu có nói được một chút ǵ về vấn đề này, tôi sẽ nói rằng cát trong 60 mươi sông Hằng là ngụ ư nói về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chính là sáu trần, đối tượng của sáu căn trong chúng ta. Không có một pháp nào trên
thế gian biến thiên này lại không có sáu trần ấy. Khi bạn giác ngộ được rằng tất cả các pháp đều được nhận biết là sáu trần tự hiện tướng như thế, bạn sẽ thấy được thân kim sắc của Vô Lượng
Thọ Phật một cách toàn diện. Bạn sẽ vượt qua được biển khổ luân hồi ngay tại chỗ đang đứng và thể nhập được sự giác ngộ toàn hảo vô lượng.
Lúc đó, khắp nơi nơi, từ đông sang tây, đều là cơi Liên hoa tịnh độ. Tất cả pháp giới trong vũ trụ này, trong khắp mọi phương hướng, không chừa một chỗ nhỏ nào, đều ở trong sự an định vô biên như báo
thân Phật nguyên thủy. Sự an định đó thẩm thấu tới tất cả pháp giới chúng sanh, sẽ xóa mờ đi mọi sự phân biệt, và măi măi hằng thường như thế, không có đổi thay.
Kinh Quán A Di Đà c̣n nói rằng những người nào đọc tụng các kinh Đại thừa là ở trong hàng cao nhất của những người thượng căn đă được vảng sanh vào cơi tịnh độ của Vô Lượng Thọ Phật A Di Đà. Cái
ǵ là kinh Đại thừa? Đó không phải là bản kinh bằng giấy vàng cuộn lại với lơi cầm màu đỏ. Chắc chắn rằng, không có chút nghi ngờ nào, kinh Đại thừa chính là nói đến tâm Phật nguyên thủy đă có sẵn ngay trong nhà ngũ
uẩn này của chúng ta.
Như vậy, dựa trên căn bản nào mà những kẻ ngông cuồng nói tu thiền là không có lợi ích ǵ ?
Bạch Ẩn Huệ Hạc
Ngọc Bảo dịch
(Thiền Viện Thường Chiếu)
|