VĂN MINH LÀNG QUÊ VIỆT

   Đông Lan

 

 

     Nếu đồng ư rằng tŕnh độ văn minh cao chính là ḷng Nhân Đạo, là sự phát huy Nhân Bản tính, th́ làng quê xưa của Việt Nam đă đạt được tinh thần và thể chế dẫn đạo hướng tiến của văn minh.

      Với nền kinh tế nông nghiệp, đời sống đầu tiên của Việt tộc khởi đi từ nếp sinh họat của làng, v́ làng là cơ cấu văn hóa của nếp sống nông nghiệp. Làng là tập hợp của gia đ́nh, gia tộc, thôn xóm chung một tổ chức hành chánh, tục lệ.

     Làng Việt là một thực thể độc lập đă có từ lâu đời, nét đặc trưng của làng Việt là Tự Trị.Đó là yếu tố nổi bật nhất để làng Việt có thể giữ được nhiều sắc thái Việt qua những giai đọan chống xâm lăng của văn hóa du mục Tây Bắc như Tàu và Tây.

     Đời sống dân du mục Tây Bắc khi đi vào sinh họat nông nghiệp, họ cũng biết tổ chức làng xă như ta, nhưng sự    khác biệt vẫn do những yếu tố căn bản: Một đằng làng Việt của sắc dân bản địa có đời sống nông nghiệp định cư lâu đời nhất trên thế giới, c̣n làng Tàu   th́ có sinh họat pha trộn giữa tính chất của văn hóa du mục với văn hóa nông nghiệp bản địa, nên ta có thể nhận thấy sự khác biệt   tiêu biểu giữa làng Tàu và làng Việt như sau:

 

1- Làng Tàu mới xuất hiện từ thế kỷ thứ 11, do chính quyền trung ương của Tàu nhượng bộ sự chống đối của các sắc dân bản địa. Ngược lại, làng Việt là hậu thân của Họ Hồng Bàng, có ngay từ trong nôi của nước Việt. Điểm này đă được minh chứng do khảo cổ đă khai quật được hàng trăm làng Việt cổ xưa trứơc khi Việt tộc tiếp xúc với Tàu.Làng của Tàu thờ Hậu Tắc. Làng Việt thờ Thổ Thần hay Thần Làng.

2-        Làng Tàu hội họp ở chùa. Làng Việt có đ́nh làng. Đ́nh là Nhà của Làng Việt.

3-        Tư tế của làng Tàu là Ban Bảo Thành. Làng Việt có Hội Đồng Kỳ Mục.

4-       Làng Tàu có thành lũy bằng đất. Làng Việt được bao bọc bằng những rặng tre   dầy.

     Như đă tŕnh bày ở trên, nền Tự Trị xă thôn là một nét nổi bật của Làng quê Việt. Khi tiếp xúc với văn minh Tàu, Làng quê Việt vẫn cố lẩn tránh để bảo tồn văn hóa truyền thống. Năm 43, khi Mă viện thắng Hai Bà Trưng, nhận thấy làng Việt khác làng Tàu 10 điểm, liền ra luật bắt sửa đổi. Ta chỉ tuân theo bên ng̣ai, c̣n bên trong vẫn cứ xử dụng tục lệ Việt.

     Đến thời đại độc lập Đinh, Lê, Lư Trần, sự tranh đấu di chuyển từ nhà nước Tàu sang nhà nước Việt. V́ tuy nước nhà đă độc lập, nhưng ảnh hưởng của nhiều năm lệ thuộc khiến vua quan ta vẫn c̣n bám víu vào những lề lối chuyên chế do Tàu để lại. Thời Tiền Lê, triều đ́nh vẫn đặt   xă quan, lập sổ đinh, điền để cai trị, hội đồng kỳ mục chỉ giữ vai tṛ tư vấn. Như vậy, nền tự trị xă thôn   bị xâm lấn, dân vẫn chống đối và đến thời Trần Thuận Tôn(1338-1397) phải bỏ xă quan.

 

     Khi nhà Minh đô hộ nước ta, t́m cách thay cơ cấu làng xă của ta theo Tàu: Mỗi gia đ́nh phải có một sổ gia đ́nh gọi là hộ thiếp, chia dân chúng thành từng lư, mỗi lư gồm 120 gia đ́nh. Người đứng đầu là lư trưởng được cử lại hàng năm.Đời Lê lập lại chức xă quan, chia dân chúng theo đinh mà không theo hộ, tuy có nới tay hơn, nhưng dân vẫn chưa lấy lại được nền tự trị xă thôn. Măi   đến đời vua Lê Thần Tôn và Lê Ư Tôn(1732-1740) dân mới được quyền tự trị, bầu xă trưởng cho ḿnh.Từ đấy, nền tự trị của làng quê Việt được duy tŕ.

     Đến triều Nguyễn, quan của triều đ́nh bổ ra chỉ đến phủ, huyện, c̣n từ tổng trở xuống thuộc quyền tự trị của dân. Dân tự chọn lấy người của ḿnh mà cử ra trông coi mọi việc. Quá tŕnh tự trị của Làng Quê ta lớn lên theo nền độc lập của dân tộc… Khi Làng Quê Việt phải đương đầu với Tây Phương, thực dân sửa đổi lại theo mẫu làng Tây của họ.

     Làng Tây mới xuất hiện từ thế kỷ thứ 10. Trước đó, Tây Âu không có làng. Xă hội Tây Âu trung cổ có giai cấp phân biệt   con người qua tài sản, ḍng tộc rơ rệt, trở thành những định chế xă hội. Số người có tài sản và   địa vị khỏang ¼, c̣n lại là giai cấp nô lệ.Đứng đầu là giáo sĩ, sau đó là quư tộc rồi đến lănh chúa. Nô lệ không được kể là người, mà chỉ là đồ vật, người ta có thể mua qua bán lại, hay giết tùy ư.Định chế cực kỳ bất công, nhưng v́ xă hội đă quá quen thuộc nên không ai cho là sai lầm, ngay cả có những ḍng tu cũng có hàng chục ngàn nô lệ. Thánh Venise buôn nô lệ để lấy tiền xây cất đền   thờ. Cả xă hội sống trên xương máu và mồ hôi lao động của giai cấp nô     lệ, nên không có một nền triết học hay đức lư nào t́m cách    giải phóng cho họ. Do đó t́nh trạng nô lệ thời   trung cổ Tây âu kéo dài cho đến khi công nghiệp tiến bộ, người ta mới nới tay cho giai cấp nô lệ. Nô lệ trở thành nông nô, tuy vẫn vô sản. Nhưng được lănh chúa   giao cho đất để   khai thác, và phải trả tiền thuê đất cùng làm dịch vụ cho lănh chúa. Nông nô vẫn phải lệ thuộc vào lănh chúa, sống tụ tập chung quanh lâu đài của lănh chúa để làm binh lính khi cần, đặt dưới quyền một lư trưởng do chúa chỉ định. Nông nô là nô lệ của   giai cấp lănh chúa. Do sự bành trướng của công nghệ và thương mại, các lănh chúa nghèo dần, và một giai cấp mới ra đời phát triển thị xă gồm số nông nô cũ với sự lănh đạo cũng vẫn bất công tận nền tảng như cũ. Có điều từ h́nh thức sinh họat   nông nghiệp chuyển sang công nghiệp. Sự cai trị dựa trên tài sản như sau:

- Nắm độc quyền đánh giặc để chiếm thị trường và nguyên liệu.

- Cấm lao công   lập nghiệp đ̣an.

- Quyết định số   lương bổng.

     Người nghèo không có quyền nào hết, v́ quyền đầu phiếu dựa trên tài sản.Mỗi người được bỏ một hay nhiều phiếu tùy theo có một hay nhiều trăm tiền (centuric). Tóm lại, thị xă Tây có nguồn gốc và nền tảng tinh thần lẫn vật chất ḥan ṭan khác biệt với làng Việt. Nên ta có thể nói, nếu theo kiểu sinh họat của làng quê Việt, th́ Tây không có làng.

     Người Pháp sang    nước ta, mới đầu tưởng sự tự trị của làng quê ta là một   lợi điểm cho việc chia để trị. Nhưng với thời gian, họ mới vỡ lẽ ra rằng Làng của Việt gắn liền với Quê, cho nên tinh thần kháng chiến mới mạnh để dân tộc ta có thể độc lập sau cả ngàn năm lệ thuộc Tàu. Và nhất là, Làng Quê Việt là ổ của Cách Mạng, là mầm ươm t́nh yêu đất nước, quê hương. Do đó, năm 1904, Pháp đưa hội đồng tề tuyển lưạ trong số điền chủ. Thế là Pháp đă tái lập cái thị xă Tây trên   làng Việt. Ng̣ai Bắc, năm 1921 , Pháp thay Hội đồng kỳ mục bằng Hội đồng tộc biểu, với điều kiện người trong hội đồng phải là giầu, không can án, và tất nhiên phải được duyệt y do chánh sứ. Sự chống đối của dân sau đó làm giảm chút điều kiện, nhưng cuối cùng Pháp vẫn duy tŕ điều kiện tài sản, chỉ cho khôi phục   hội đồng kỳ mục bên cạnh hội đồng tộc biểu. Do đó sự chống đối của dân với chính quyền thực dân   để đ̣i quyền tự trị vẫn gia tăng. Cho đến năm 1941, thực dân đă phải mượn tay nhà vua để cải tổ lại bằng cách băi bỏ cả hai hội đồng kỳ mục lẫn tộc biểu để sự thâu nhận được rộng răi hơn. Nhưng đó là bề ng̣ai, bên trong vẫn là lư trưởng được người Pháp chỉ định để nắm then chốt.

     Sự chống đối vẫn tiếp tục cho đến khi Cộng sản tiếp nối con đường của thực dân và c̣n tước đọat quyền tự trị đến cùng cực: Nhân viên ủy ban hành chánh xă đều   do tỉnh lựa chọn, trên tiêu chuẩn trung thành với đảng   và nhà nước. Họ phát động những chiến dịch chuyển t́nh yêu gia đ́nh sang nhà nước, và thực hiện những sự đấu tố rùng rợn   giữa những người ruột thịt trong gia đ́nh, những người cùng làng với nhau. Hành động này đă làm chấn động lương tâm của dân lành và phá hủy ṭan triệt nền tảng gia đ́nh và nếp sống văn hóa làng quê Việt.

     Phần trên chúng tôi mới tŕnh bầy nét đặc trưng căn bản về h́nh thức sinh họat tự trị của làng quê Việt.

     Một đặc tính nữa là nền kinh tế b́nh sản ở làng quê. Thể chế công điền, công thổ ở làng quê ta cho thấy đời sống dân được quân phân tài sản, ai ai cũng được có đất để cầy cấy .Đến tuổi tráng niên là được làng   cấp cho một số đất công đễ tự lực mưu sinh. Ng̣ai ra mỗi nhà c̣n có vườn rau, ao cá, chuồng gà, gốc mít để có thể tự túc. Sự chênh lệch giầu nghèo không đáng kể để có thể    gọi là giai cấp như trong xă hội nông nô tây âu.

       Đặc tính quan trọng nữa là, sự   áp dụng luật pháp rất uyển chuyển theo từng địa phương. Dân trong làng sống   với nhau bằng những tục lệ truyền đời. Tục lệ là những lễ nghĩa kết tinh do những kinh nghiệm lâu đời nên đă thích nghi với ḥan cảnh, tiêu biểu cho quyền lợi của dân chúng, xóm làng. Tục lệ v́ vậy hợp t́nh người và được người dân trong làng bảo tồn. Đến nỗi có câu “ Phép vua thua lệ làng”. Thật thế, phép vua là pháp luật từ ng̣ai vào, từ trên xuống áp đặt dân phải theo, nó có tính chất lư trí cứng ngắc, không uyển chuyển và không thích hợp với những ḥan cảnh riêng của người dân. Do đó dân trong làng vẫn cảm thấy cần điều ḥa luật của triều đ́nh và tục lệ của làng quê để có cuộc sống thỏai mái tự do để rồi c̣n thả ḿnh trong những ngày hội hè đ́nh đám lễ tết để vui trọn tuổi trời.

     Về chính trị, sự bầu cử hội đồng kỳ mục, lư trưởng, phó lư…chính là phép cử những người hiền đức, học thức vào guồng máy lănh đạo cho thấy làng quê Việt từ rất xa xưa đă có tinh thần dân chủ cao giống như ngày nay tại các nước văn minh tây phương, Trong khi ban lư dịch thi hành luật lệ, hội đồng kỳ mục chính là vai tṛ của giám sát viện ngày nay. Sự kiện tôn trọng tục lệ hơn pháp luật, tự trị tại làng quê Việt xưa chính là thể chế tản quyền của nền chính trị dân chủ tại các nước tiến bộ ngày nay.

    

Tóm lại làng quê Việt từ ngàn xưa đă có tinh thần và thể chế dân chủ qua sự bầu cử các ban chức sắc, xă hội có phân   quyền cho địa phương qua việc làng xă tự trị,   là các căn bản   sinh họat dân chủ của xă hội văn minh hiện nay.

     Thêm vào đó ta c̣n nền kinh tế b́nh sản nên trong xă hội   hố cách biệt giầu nghèo, quư tiện không thành giai cấp bóc lột, sự   bất quân b́nh tài sản không cao -   Điều mà cả hai xă hội theo nguyên tắc   kinh tế tư bản và cộng sản cho đến nay không thực hiện được .

     Các điều căn bản trên tuy rất giá trị, cũng chỉ là về các lănh vực chính trị, kinh tế. Hơn một bậc nữa, là đặc tính của nền Văn Hóa Nhân Bản Tâm Linh của làng quê Việt. Nền văn hóa nhân bản này xây trên nền tảng gia đ́nh, chứ không xây trên cá nhân chủ nghĩa (tư bản) hay trên đoàn lũ (xă hội) chủ nghĩa của Tây phương. Và cũng không là kiểu “đại gia đ́nh” g̣ bó của Tàu. Nền tảng tiểu gia đ́nh của Việt đă xây nên một xă hội mang lại hạnh phúc cụ thể   thực tế cho người dân , mà con người vẫn giữ được ḷng trung hậu với đồng bào, đất nước. Chính v́   khi b́nh thường, con người được sống trong t́nh gia đ́nh, t́nh làng quê đầm ấm. Có thể nói, người dân yêu làng quê của ḿnh trước khi biết yêu quốc gia, dân tộc. Do đó làng là cái gạch nối giữa cá nhân và đất nước, cũng như gia đ́nh là gạch nối giữa cá nhân và làng. V́ nhiều gia đ́nh tập hợp lại thành làng.V́ có yêu gia đ́nh nhiều mới yêu làng quê ḿnh nhiều. Gia đ́nh do đó là nền tảng của xă hội nông thôn dưới mái đ́nh quê và trong lũy tre làng có cây đa bến nước con đ̣ năm xưa.

     Tóm lại, Làng Quê Việt với kinh tế b́nh sản, chính trị dân chủ, văn trị, lễ trị, tinh thần công thể trên nền tảng gia đ́nh, đă dưỡng nuôi bao t́nh tự nhân bản và hạnh phúc cho người dân. Thật thế, mặc dù đời sống nông nghiệp không cao về vật chất, nhưng làng quê Việt đă là một môi sinh an b́nh, mỗi   con người   đều có cảm thức ḥa hợp với vũ trụ, thiên nhiên, đất nước, và với nhau. T́nh lân lư thiết tha, t́nh yêu trời yêu đất yêu người mênh mang. Đến nỗi ai sau này dù có đi xa, vẫn cảm thấy thiếu thốn cái hương vị đầm ấm nơi làng quê ḿnh, mà mơ được trở về. Hưởng lại những ngày hội, những mùa xuân thu tết nhất.

     Ta thử xem tục lệ ăn tết ở làng quê xưa cũng khác xa ngày nay. Tết là từ chỉ ta mới có. Nó không phải là sự mừng một điều ǵ đó như ở các nước Tây phương. Tết chính nghĩa là Tiết, là tiết nhịp cùng đất trời. V́ vậy ta có tứ thời bát tiết đều được dân chúng   ăn mừng. Thật ra c̣n có tới 24 cái Tết, tức là 24 cái tiết nhịp cần được chia sẻ với đất trời: Tiết Thanh Minh, Tiết Đoan Ngọ… Thành ra những ngày Tiết ở Làng Quê trải dài quanh năm, con người không giầu có nhưng sống phong lưu, nhàn hạ, an hưởng tiết nhịp thiên nhiên, tham dự vui ḥa cùng ánh sáng của trời trăng với các v́ sao.

Tháng giêng ăn tết ở nhà

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè . . .

    

Rồi khi chỉ mời nhau ăn một miếng trầu thôi, miếng trầu đơn sơ vậy mà cũng là chủ đề của cuộc chuyện tṛ về nó:

Trầu bọc khăn trắng cau tươi

Trầu bọc khăn trắng đăi người xinh xinh

Ăn cho nó thỏa tâm t́nh

Ăn cho nó thỏa sự ḿnh với ta . . .

    

Như vậy ăn không c̣n là ăn, hội hè lễ tết không là hội hè lễ tết, mà là cho nó thỏa những tâm t́nh giữa người với người, những chiều kích vô biên giữa con người nhỏ bé với tiềm thể u linh. Dân trong làng không chỉ là Dân. Mà c̣n là Nhân trong giao cảm với chiều kích bao la với thiên địa, với nhân tính đại đồng. Đ́nh Làng Quê và những ngày mùa của hội hè để tiết nhịp với thiên nhiên đă nghiễm nhiên trở thành môi sinh tâm linh an lạc của đời.

     Tương tự, tục lệ Hát Trống Quân là một biểu thị chói chang cái cơ cấu vũ trụ của những lễ hội ở chốn làng quê. Trống Quân thường được tổ chức vào hai mùa Xuân–Thu. Đó là hai mùa quân b́nh nhất về ngày cũng như đêm. Nơi tổ chức phải là dưới chân núi nơi có suối nước. Nếu không có núi sông th́ cũng làm thay vào cửa phía Đông Nam hay Nam . Rồi nơi hát phải đào một cái lỗ làm cái trống đất, trên có chăng dây thành cái trống trời cũng như làm biên giới giữa hai bè nam nữ đóng vai hai đạo quân. C̣n khí giới th́ là ca, vũ, toàn là những thứ có nhịp đôi. Cuối cùng là những đôi nào bị bắt th́ sẽ sang qua sông, trao hoa cho nhau và hợp thân ngay trên nệm cỏ xanh (đạp thanh).

                 

 Vài thí dụ về hát trống quân:

Bè Nữ

Gặp nhau ăn một miếng trầu

Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào

Nam

Miếng trầu đă nặng là bao

Muốn cho đông liễu tây đào là hơn

Bè Nữ

Miếng trầu kể hết nguồn cơn

Muốn xem đây đấy thiệt hơn thế nào

Nam

Miếng trầu là nghĩa xướng giao

Muốn cho đây đấy duyên nào hợp duyên

Một thí dụ khác:

Nam

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đă có ai vào hay chưa?

 

Bè Nữ

Mận hỏi th́ đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Nam Kết

Ai về đường ấy hôm nay

Gửi dăm điều nhớ gửi vài điều thương

Gửi cho đến chiếu đến giường

Gửi cho đến chốn buồng hương em nằm.

     Tính chất cơ thể của hát trống quân là miệng phải hát, tâm trí phải tác động để đối đáp, v́ không được hát bài có sẵn mà phải tùy cảnh mà sáng tác lấy rồi hát lên tức khắc cho hợp với câu hỏi. Ư tứ trong câu hát phải đi từ xa tới gần, nói lên không úp mở, nhưng lại phải văn hoa, và đạt tới nghệ thuật hồn nhiên trong t́nh tự nam nữ.

     Tây phương xưa hay dùng việc đấu gươm mà xử kiện: Ai thua là đuối lư, v́ vậy mới có câu lư là lư của kẻ mạnh. Dựa trên sức mạnh mà quyết định, đó là lối xử sự của dân du mục, và là truyền thống của Tây phương, đưa đến xă hội trọng luật pháp sau này. Nhưng Đông phương có Hát Trống Quân chỉ đấu t́nh, đấu ca, đấu nói và kết quả là ḥa hợp hồn nhiên bên nhau như mùa Xuân đến tham dự vào hội sinh sôi nẩy nở của đất trời. 70% dân Tàu là gốc Việt, nên v́ thế Kinh Thi   của Tàu, một cổ thư thu thập các bài ca dao b́nh dân lại được mở đầu với những lời dân ca chan chứa hoa t́nh của dân gian với những tiếng hát Trống Quân, cũng chỉ là nói lên cái cảm thức ḥa đồng cùng Nhất Thể vô biên của nền Minh Triết Việt.

     Làng Quê cũng c̣n là nơi có Lễ Gia Tiên nơi con người phát huy trọn vẹn nhân tính ḿnh qua Đạo Hiếu. Thật vậy ta hăy xem cách đặt bài vị Văn Tổ trong Lễ Gia Tiên của Việt Đạo (Bài vị là miếng gỗ to cỡ quyển sách, có chân đứng, trên viết tên người được thờ cúng). Lễ gia tiên có nhiều nơi trên thế giới cổ xưa, nhưng chỉ duy nhất cách sắp đặt bài vị của ta là nói lên khía cạnh đặc biệt của triết lư.

                      

 

 

  Ngũ Hành                                  Lối đặt bài vị

 

Hỏa                                           Tổ

   Mộc     Thổ    Kim                 Tằng    Văn Tổ     Cao

       

Thủy                                         Nỉ

    

      Lối sắp đặt bài vị Cao, Tằng, Tổ, Nỉ (Cao: ông của ông; tằng: bố của ông; tổ: ông, nỉ: cha) theo khung Ngũ hành, giữa có một bài vị gọi là Văn tổ. Chính sự sắp đặt vĩ đại này đă nói lên được triết lư Việt ở đợt siêu h́nh. Cùng thờ tổ tiên, nhưng Văn tổ là vị Tổ không có thực, mà lại có vị trí ngay ở trung cung. Theo Ngũ Hành th́ trung cung là nơi linh thiêng, mà mỗi hành ở ngoại vi phải lưu thông được ở trung cung th́ mới linh nghiệm. Áp dụng lối sắp đặt bài vị vào triết lư Ngũ hành, tổ tiên ta gửi gấm cả một di chúc tinh thần cho con cháu: Trở về với bản ngă của ḿnh. Thờ cái linh thiêng trong Tâm ḿnh. V́ không có linh đức bản nhiên ấy, th́ làm ǵ có con người linh thiêng nữa mà thờ.

    

     Trải qua bao sự xâm lăng của các nền văn hóa trọng sức mạnh của du mục công thương Tây phương, chúng ta đă mất dần và gần hết các giá trị văn hóa cổ truyền. Đời sống bon chen theo sức ép của vật chất đă làm chúng ta gần như kiệt lực. Làm sao lấy lại những niềm an vui, những mùa hội xuân của tâm hồn? Làm sao trở về cái không khí thanh b́nh ḥa đồng cùng vạn vật vô biên? Làm sao cho có linh thiêng dấy lên trong cuộc đời vô vị?

     Chốn Làng Quê xưa đă êm đềm đi vào dĩ văng, một lần chào từ biệt ta giữa cơi tử sinh. Thế nhưng, c̣n có một cơi bờ sinh sinh, cơi bờ không c̣n thành thịnh suy hủy, cơi bờ của ư thức vô thường, cơi bờ của Đạo Lư, không thể nào tận diệt. Minh Triết Ḥa Đồng cùng Trời Đất, Vươn lên Tính Thể Đại Đồng…của những thể chế, phong tục, ca vũ, tế tự tâm linh nơi Làng Quê vẫn là những lư tưởng sáng soi những bước dựng xây cho nếp sống Nhân Chủ của thời hậu kỹ nghệ sau này. “ Cải ấp, bất cải Tỉnh”. Đổi chỗ, nhưng không sửa Giếng (Kinh Dịch-quẻ Tỉnh, thoán từ). Giếng trong ao nước quê nhà vẫn ngọt ngào muôn đời ḍng sống Tâm Linh. Mỗi khi kiệt sức với đời chạy đua hữu vi nơi văn minh thành thị, con đẻ của xă hội vật bản và bóc lột Tây phương, sao ta chẳng khơi mạch t́m nguồn về Giếng Việt mến yêu mà uống nước cam tuyền, bồi dưỡng miền tâm linh khô cằn cho đời viễn xứ. Không phải chỉ có ḿnh chúng ta mới viễn xứ tha hương. Tiêu diệt nếp sống Làng Quê, linh hồn văn hóa Việt, anh em chúng ta cũng đang chịu cảnh cô đơn thiếu nguồn sinh dưỡng, đang ngày đêm bị con quái vật Cộng Sản cắn xé, chắc gan ruột cũng đau xót chín chiều.

T́nh thương bể thảm lạ điều

Mà hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào?

    

Giếng Thiêng ở trong ḷng. Giếng Việt ở trong Tâm. Làng Quê Việt ở tại Tâm Thức An Vi biết vươn lên vượt thoát đời nô lệ của duy lư và duy vật. Tiếng hát Trống Quân có bài ca vũ Việt Thường ở trong mỗi giây phút Tĩnh Tâm cho Hư Không một chỗ đứng trong đời.

 

 

Đông Lan

 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/30/08