MỘT ĐỒNG TIỀN, MỘT NIỀM TỰ HÀO...

Bs NGUYỄN ANH HUY

E.mail: anhhuyhue@yahoo.com

 

Trong chuyến ra Viện Khảo cổ học Việt Nam (Hà Nội) vào tháng 9/1993 để báo cáo công tác nghiên cứu tiền cổ, tôi được anh Đỗ Văn Lạc, Trưởng pḥng phóng viên của báo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mời về cơ quan trao đổi dự ước về việc thành lập Bảo tàng tiền tệ. Sau đó, tôi được ông Nguyễn Thúc Quảng, chuyên viên tuần báo Ngân hàng dẫn đến pḥng truyền thống...

 

          Dừng chân trước cửa, tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy đồng tiền đầu tiên của dân tộc Việt Nam được phỏng thành hai đồng tiền rất lớn, đường kính hơn 0,5m, một mặt trước, một mặt sau, để ngay bên cửa pḥng. Tôi thầm nghĩ “- Họ sâu sắc quá!”. Một thoáng xưa hiện về...

 

          Năm 968, sau khi dẹp Loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, sử gọi là Đinh Tiên Hoàng. Hai năm sau (970), lấy niên hiệu Thái B́nh và cho đúc tiền Thái B́nh Hưng Bảo mặt lưng có chữ “Đinh”. Đó là đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam tự chủ...

 

          Vào pḥng trưng bày, tôi càng bất ngờ hơn khi thấy đồng tiền thật của vua Đinh được đặt trong lồng kính...

 

“- Chắc ông ngạc nhiên lắm ?”. Câu hỏi của vị chuyên viên tiền tệ kéo tôi về thực tại. Tôi thở dài: “-Ui chà, c̣n hơn thế nữa! Tôi thật sự xúc động lắm! Ngay cả Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng chưa có báu vật này. Đối với các nhà khảo cổ học, đây là một trong những di tích văn hóa đầu tiên của dân tộc; đối với các nhà sưu tập, nó là một kho tàng đang được t́m kiếm...”. Vị chuyên viên tiếp lời: “- Và đối với ngành ngân hàng chúng tôi, đó là niềm tự hào truyền thống...”.

          Cuộc gặp gỡ quá ngắn ngủi. Trên chuyến tàu về Huế, suốt đêm tôi trăn trở măi...

 * * *

 

          Các sách sử cũ của nước ta như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, chưa thấy sách nào ghi việc vua Đinh có đúc tiền. Song cho đến nay, các nhà nghiên cứu tiền cổ trên thế giới đều công nhận tiền Thái B́nh Hưng Bảo là do Đinh Tiên Hoàng đúc. Khảo sát hiện vật cùng các h́nh ảnh được công bố trên sách báo xưa nay, nhận thấy có một số vấn đề cần lưu ư:

 

1. Đọc hiệu đồng tiền:

Một số sách, catalogue tiền cổ, do không có h́nh ảnh chụp đồng tiền thật sự nên khi vẽ minh họa, đă viết chữ Hán là “Thái B́nh Hưng Bảo”. Làm như vậy là sai sự thật của đồng tiền!

 

Mặc dù theo Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng có chữ Hán viết là “Thái B́nh”, nhưng Bernard J. Perma, thật có lư khi đọc hiệu của đồng tiền là “Đại B́nh Hưng Bảo”. Bởi sự thật, các đồng tiền do vua Đinh đúc, cả hiện vật lẫn ảnh chụp, chữ Hán viết là “Đại B́nh” chứ không phải là “Thái B́nh”. Trong sách Tiền Cổ Việt Nam , GS Đỗ Văn Ninh đưa ra hai cách giải thích hiện tượng trên như sau:

 

- Đồng tiền bị gỉ làm mất nết chấm dưới chữ “thái”. Cách giải thích này khó được chấp nhận, v́ chưa thấy đồng tiền nào của vua Đinh viết chữ Hán là “thái b́nh”; nếu có, chắc nhầm lẫn với một loại tiền khác, tôi sẽ nói sau.

 

- Cách giải thích thứ hai, dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn là: chữ “đại” c̣n có một âm đọc là “thái”. Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu giải thích rất rơ, và hiện tượng này c̣n gặp ở nhiều niên hiệu khác như đă từng xảy ra cuộc tranh luận Nhật - Việt: niên hiệu của Lê Nhân Tông (1443-1453) là Đại Ḥa hay Thái Ḥa?!

 

Như vậy, đồng tiền của Tiên Hoàng, nên đọc là “Thái B́nh Hưng Bảo” mới đúng, chữ “hưng” trong đồng tiền như ngụ ư sự hưng thịnh mở màng cho kỷ nguyên độc lập mới của dân tộc...

 

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra ư kiến đọc hiệu đồng tiền là “Đại / Thái Hưng B́nh Bảo”. Tuy rằng thời Đông Tấn - Nguyên Đế (Tư Mă Duệ) có niên hiệu Đại Hưng (318-321), song thời ấy ở Trung Quốc đang c̣n sử dụng hệ thống tiền Ngũ Thù, chưa dùng chữ “bảo” để chỉ khái niệm tiền tệ, do đó tiền này không thể do triều Tấn đúc, và như thế không thể giám định với cách đọc này. Vậy, đồng tiền Thái B́nh Hưng Bảo, trùng với niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng, lại thêm mặt lưng có chữ “Đinh” là họ vua nên giám định do vua Đinh đúc, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa!

 

             2 . Thống kê các loại tiền:

 

Các nhà sưu tập, nghiên cứu dựa vào các chi tiết khác nhau trên đồng tiền để phân loại, như tác giả Miuria Gosen công bố đến 14 đồng tiền hiệu này với các chi tiết nhỏ nhặt khác nhau... Song thiển nghĩ, ngày xưa khuôn đúc và kỹ thuật đúc đều được làm bằng thủ công nên tất cả những đồng tiền đă đúc ra đều hoàn toàn khác nhau, có loại bằng đồng thau, có loại bằng đồng bạch, nếu phân loại chi li như vậy th́ sao thể sưu tập đủ tất cả được?! Do thế, theo tôi, chỉ nên có 4 loại chính khác nhau cơ bản về mặt lưng như sau:

 

- Chữ “Đinh” nằm trên lỗ vuông.

 

- Chữ “Đinh” nằm dưới lỗ vuông.

 

- Chữ “Đinh” có móc thay v́ xoay bên trái, lại móc ngược về bên phải.

 

- Mặt sau trơn, không có chữ.

 

             3. Những nhầm lẫn khi giám định tiền của vua Đinh:

 

Trong 4 loại tiền vừa kể trên, loại có mặt sau trơn hiếm hơn cả; tuy nhiên, trong thú chơi tiền cổ, tâm lư người sưu tập vẫn thích loại tiền lưng có chữ hơn, v́ dù sao chữ “Đinh” (quốc tính) là một yếu tố quyết định khi giám định loại tiền này.

 

Một số nhà sưu tập, do chưa có kiến thức cơ bản về tiền cổ, cũng như chưa nắm lịch sử tiền tệ, bắt gặp bất cứ đồng tiền “Thái B́nh” nào cũng đều cho là tiền của nhà Đinh cả, thật nhầm lẫn!

 

Cho đến nay, tôi chưa gặp đồng tiền Thái B́nh Hưng Bảo nào là tiền giả mới đúc. Một vài nhà nghiên cứu khác, tuy đă biết hiệu tiền của vua Đinh, nhưng oái ăm thay lại bắt gặp tiền Thái B́nh Phong Bảo của chúa Nguyễn, chữ “phong” nhiều nét bị gỉ rất giống chữ “hưng”, thêm nữa, lưng loại tiền này lại có hai dấu phẩy vuông góc nhau trông rất giống chữ “đinh”! Loại tiền Thái B́nh Phong Bảo này rất dễ nhầm với tiền nhà Đinh, nhưng chúng ta có thể phân biệt được nhờ chữ Hán: tiền của chúa Nguyễn viết là “thái b́nh”, c̣n tiền của vua Đinh viết là “đại b́nh”, đây là vấn đề mấu chốt, cần xem xét kỹ!

 

                                                                                                                        NAH

 

 

 

tiền Thái B́nh Hưng Bảo của Đinh Tiên Hoàng (968-979)

mặt  lưng tiền Thái B́nh Hưng Bảo, có chữ “Đinh” dưới lổ vuông

mặt  lưng tiền Thái B́nh Hưng Bảo, có chữ “Đinh” trên lổ vuông

 

VỀ ĐỒNG TIỀN THỨ HAI CỦA NƯỚC VIỆT NAM

Sau hơn 10 năm hưởng cảnh Thái B́nh, dân Đại Cồ Việt chuẩn bị pḥng thủ trước âm mưu xâm lược của lân bang to lớn, nước Đại Tống. Băn khoăn trước vận nước, ấu chúa chưa tham chính được, giang sơn có cơ nguy vong, thái hậu triều Đinh bèn khoát long bào lên vai chủ soái Lê Hoàn. Thập đạo Tướng quân lên ngôi, lập ra triều Lê (sử gọi là “nhà Tiền Lê”) lấy niên hiệu là Thiên Phúc (980-988) rồi sau đó đổi sang Hưng Thống (989-994), Ứng Thiên (995-1005 ).

Đại Việt Sử Kư Toàn Thư chép rằng: “Giáp Thân, năm thứ 5 (984), mùa xuân, tháng 2, đúc tiền Thiên Phúc”.

Ngày nay, chúng ta đă t́m thấy tiền Thiên Phúc Trấn Bảo mà các nhà nghiên cứu tiền trên thế giới đều công nhận tiền này do Lê Đại Hành đúc. Xem kỹ, có thể thấy các loại chính khác nhau ở mặt lưng như sau:

1. Mặt lưng ngoài các gờ viền th́ trơn, không có chữ ǵ.

2. Mặt lưng có chữ “Lê” ở trên lỗ vuông: do ngày xưa chữ viết trên khuôn đúc bằng thủ công nên chữ “Lê” đôi khi viết lớn nhỏ khác nhau.

3. Mặt lưng có chữ “Lê” dưới lỗ vuông: loại tiền này, tôi chưa thấy bao giờ, cũng chưa nghe ai nhắc đến, song căn cứ một đồng tiền khác trong sách của Toda mà suy ra th́ nó cũng có thể có, nên tôi đưa ra ư kiến này để các nhà sưu tập, nghiên cứu có thấy th́ công bố thêm. Năm 1882, trong sách Annam and its minor currency in tại Thượng Hải, Toda công bố một đồng tiền rất lạ: đồng tiền một mặt hoàn toàn trơn không có chữ, chỉ có gờ viền và lỗ vuông, mặt kia th́ chỉ có một chữ Lê dưới lỗ vuông; và đă được giám định là của Lê Đại Hành.

Về sự xuất hiện đồng tiền này, có thể giải thích do ráp nhầm hai khuôn lưng của hai loại tiền mặt sau có chữ và mặt sau trơn; hoặc cũng có thể đồng tiền mặt trước có chữ mà lư do nào đó bị ṃn cả mặt trước, như nhiều đồng tiền rơi xuống ḷng sông suối, bị nước chảy bào ṃn đều cả một mặt tiền vậy. Dù cách giải thích nào, đồng tiền của Toda chỉ nên xem là biến thể của một loại tiền chứ không thể xếp vào một loại chính trong các loại tiền hiệu này. Điều này chứng tỏ phải có làm một khuôn lưng của loại tiền mặt sau có chữ “Lê” dưới lỗ vuông. Và chúng ta hoàn toàn có lư khi nghĩ rằng, có thể có loại tiền Thiên Phúc Trấn Bảo mặt lưng có chữ “Lê” dưới lỗ vuông, nhưng chắc quá hiếm nên chưa thể t́m thấy!

Về niên hiệu Thiên Phúc, cũng c̣n gặp vào thời Ngũ Đại - Thập Quốc (Trung Quốc) của Hậu Tấn - Cao Tổ (Thạch Kính Đường) năm 937-942, và cũng có thêm loại tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo. So sánh hai loại tiền Thiên Phúc, nhận thấy một số dị biệt sau:

- Về văn tự, dễ dàng thấy tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo mang thư pháp của các chữ trong các loại tiền Trung Quốc đương thời: hai chữ “nguyên bảo” nét viết hoàn toàn giống với chữ trong các loại tiền Khai Nguyên Thông Bảo, Càn Nguyên Trọng Bảo, Thông Chính Nguyên Bảo, Thiên Hán Nguyên Bảo, Quang Thiên Nguyên Bảo, Càn Đức Nguyên Bảo, Hàm Khang Nguyên Bảo, và cả Tống Nguyên Thông Bảo... Hai chữ “Thiên Phúc” trong tiền này viết chững chạc, cứng cáp. Thêm nữa, tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo, bốn chữ Hán đọc tṛn càng mang đặc điểm của tiền Trung Quốc đương thời. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, bốn chữ đọc chéo khác hẳn, thư pháp trên đồng tiền rất Việt Nam: mộc mạc, chân thật, hiền ḥa, chập chững như trẻ mới tập viết, cũng như lối chữ trên tiền Thái B́nh Hưng Bảo của triều Đinh.

- Về chất liệu, phần lớn đều được làm bằng đồng thau, và cũng có loại bằng đồng bạch. Nhưng tiền của Trung Quốc chất liệu đồng thau cứng do kỹ thuật luyện kim đă cao. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo chất đồng c̣n mềm cũng như tiền Thái B́nh Hưng Bảo, nên khi mài dễ ṃn nhanh.

          - Mặt lưng của hai loại tiền cũng khác nhau, tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo đúc chững chạc nên vành và lỗ vuông cứng cáp, hùng dũng. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo và tiền Thái B́nh Hưng Bảo có điểm giống nhau: giản dị, mộc mạc. Chữ Lê ở lưng tiền mang quốc tính của triều đại, không liên quan ǵ đến Tấn Cao Tổ, nhưng lại biểu hiện tính thừa kế triều đại nối tiếp với tiền Thái B́nh Hưng Bảo mặt lưng mang quốc tính của triều Đinh.

- Về đường kính đồng tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, cũng như tiền Thái B́nh Hưng Bảo, đều bằng nhau, 23mm.

          Một vài đặc điểm trên, có thể dễ dàng phân biệt và giám định tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo là của Trung Quốc, c̣n tiền Thiên Phúc Trấn Bảo là của Lê Đại Hành, Việt Nam. Chữ “trấn” trong tiền này như ngụ ư “thái b́nh” đă “hưng bảo” th́ ta được “Thiên Phúc” (phúc của trời ban) phải ra sức mà “trấn (giữ) bảo” vậy! Và quả thật, Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn đă từng giữ nước rất xuất sắc!

                                                                                                                         NAH

 

 

tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành (980-988)

mặt  lưng tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, có chữ “Lê” trên lổ vuông

 

NGUYỄN ANH HUY

E.mail: anhhuyhue@yahoo.com

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/30/08