|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG III
Các Vị Đại Đệ Tử của
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn Hầu.
VII. ÔNG ĐẠO LĂNH (Giữa Thế kỷ 19)
A. Lai Lịch
Trong cuộc dẹp loạn Chân Lạp của ông Quản Thành (1) -tức về sau Đức Cố Quản- dưới triều vua Thiệu Trị, Đức Cố Quản có một viên thuộc tướng rất tài ba và lạ lùng,
làm người Chân Lạp phải lắm phen kinh sợ; thuộc tướng ấy là ông Hai Lănh (và bây giờ người ta gọi là ông Đạo Lănh).
Ông Hai Lănh gốc người Việt Nam (2); không rơ họ ǵ. Ông c̣n có một tên nữa là cậu Hai G̣ Sặt. Hai Lănh vơ nghệ rất cao, có thuật gồng, thông bùa thư và thông nho học.
Khoảng năm Tân Sửu (1841), Hai Lănh gặp ông Quản Thành tại An Giang (Châu Đốc) và xin tùng quân. Từ đó, ông và ông Quản Thành là đôi bạn chí thân, thường gần gũi bên nhau để đàm văn, luận
vơ.
B. Khả Năng
Năm Quí Mảo (1843), ông Quản Thành mang binh đi dẹp quân phiến loạn Chân Lạp ở miền Thất Sơn. Tại trận Láng Cháy, ông Hai Lănh giúp ông Quản Thành thành công rực rỡ là ông đă dùng tiếng Cao Miên
để giảng dụ hai tướng giặc lợi hại là Bướm và Vôi về hàng.
Cũng trong năm ấy, ông Hai Lănh cầm quân dẹp loạn Phủ Kép (3) ở Giang Thành. Ông bắt sống được nhiều tướng giặc bằng cách đi tay không một ḿnh vào trận, không sợ gươm đao.
Ông bắt giặc và trói giặc bằng một vài miếng đấm, đá xem ra như bỡn, nhưng quân giặc phải chịu thúc thủ qui hàng.
Có khi lương thực tiếp tế thiếu thốn, ông đang đi dọc đường đói lả, thấy bên trong Sóc Thổ có người nấu bánh tét trong trả to đang sôi sục gần chín, ông ghé lại, ṃ tay
vào trả nước sôi để lấy bánh, thế mà không chút phỏng da. Người Thổ tưởng ông là thần, gọi là Tà Lănh.
Tuy vậy, có một bận ông đi đánh giặc bị thua lạc đường, tưởng chừng mất tích, đă gây cho người thân của ông một cảnh tang tóc đau thương. Chuyện ấy hơi dài, sẽ
kể ở sau.
C. Bị Giặc Bắt
Một ngày vào khoảng năm Ất Tỵ (1845), ông Hai Lănh (4) thừa lịnh ông Quản Thành dẫn một tốp binh đi tuần sát ở mạn biên thùy Miên Việt.
Để nhẹ bớt sự băng rừng lướt bụi, tốp binh này được dùng thuyền đưa theo đường kinh Vĩnh Tế đến đuôi làng Vĩnh Ngươn. Khi lên bộ đi được
một quảng đường, th́nh ĺnh bị một toán người Cao Miên rất đông ồ ra tập kích. Bởi vùng này đă được an ổn từ lâu nên quân Việt không có ư đề pḥng. Bị đánh bất ngờ, binh sĩ mất tinh thần, lớp chết, lớp
bỏ chạy tan vỡ hết. Riêng ông Hai Lănh c̣n kẹt lại một ḿnh, ra sức đánh chém tứ tung, nhưng quân Miên càng lúc càng đông, làm cho ông không sao thoát khỏi ṿng vây được.
Cầm cự suốt buổi chiều hôm ấy, ông Hai nhờ giỏi vơ nghệ, lại có thuật gồng nên mới khỏi bị hại, nhưng cũng không thể kềm hăm được nào đói, nào mệt. Thừa lúc nhá
nhem tối, ông chuyển hết sức mạnh đánh quyết về một chỗ rồi vẹt đường mà chạy ra.
Màn đêm buông phủ. Tiếng la ó rền vang của quân Cao Miên lùng kiếm ông Hai dội vào mấy khu rừng già rồi tan ra thành một thứ âm thanh kinh khủng. Ông Hai Lănh một ḿnh thất thểu chạy đi.
Sáng ra ông thấy ḿnh bị lạc rất xa vào lĩnh vực Cao Miên, không thể nào theo đường cũ mà trở về được, nên ông giả dạng thường nhân, vào xóm xin ăn rồi lang thang đi măi. (5)
Tốp binh chạy thoát về được An Giang báo cho ông Quản Thành hay th́ trời đă sáng.
Ông Quản Thành lập tức điểm binh kéo vào cứu viện. Nhưng đến nơi, quân dân Cao Miên đă tan mất tự bao giờ, c̣n ông Hai Lănh t́m kiếm khắp nơi không thấy. Ông Quản Thành cho lịnh cắm
trại ở đó để ḍ nghe tin tức song thất vọng. Vài hôm sau, ông buồn rầu kéo binh trở về.
Bà Hai (vợ ông Hai Lănh), sau khi nghe được tin này, bà cùng với người con gái dẫn nhau lên tận Cao Miên t́m kiếm ông Hai. Ngót mấy tháng vượt rừng lội suối mà tuyệt nhiên không thấy tăm hơi, bà
nghĩ ông Hai đă chết, nên sau rốt, bà trở về núi Phi Lai (núi Doi), ở đó chờ đợi ít lâu nữa rồi tự thiêu ḿnh mà chết.
Ngày nay, những lúc đem thâu canh vắng, khách thập phương văn cảnh nơi miền Thất Sơn, thỉnh thoảng c̣n nghe trong các chùa, am, miếu, quán hoặc dưới những túp lều tranh lụp xụp lưa thưa
văng vẳng đưa ra những câu vè thơ êm ái như ru:
... Bà Hai am tự thâm t́nh,
Hoả thiêu thân thể , ấn h́nh Phi Lai ...
Khách sẽ ngậm ngùi mà nhớ ngay rằng đồng bào miền sơ cước xa xôi này vẫn c̣n ghi nhớ măi cái chết đau đớn của bà Hai.
D. Quy Y và Chứng Quả
Nhưng ông Hai lại trở về.
Từ khi chạy lạc lên đất Cao Miên, ông Hai Lănh phải sống vất vả với chuỗi ngày đe dọa, lầm than. Sau ông chạy lên tận G̣ Sặt (Pursat) nương náu với mấy người bạn quen ở
đây cho đến tháng Chạp năm Bính Ngọ (1846), khi vua Cao Miên dâng biểu tạ tội với nước ta, ông mới được sống tự do và lần hồi ḍ đường về nước.
Lúc này giặc giă đă yên, lại gặp cảnh vợ con tan tác, ông Hai cảm thấy ḷng ḿnh buồn năn vô cùng, nên quyết xin với ông Quản Thành cho được về thong thả t́m nơi dưỡng tính, tu tâm, mặc
dầu ông Quản Thành tỏ ra không đằnh ḷng rời ông một phút.
Sau đó, ông Quản Thành quy y với Đức Phật Thầy Tây An và được tôn xưng là Đức Cố Quản; c̣n ông Hai Lănh cũng trở thành đồ đệ của Đức Phật Thầy với danh hiệu
là ông Đạo Lănh. Hai vị thườnh có cơ hội gặp nhau ở núi Sam, trước mặt Phật Thầy Tây An, cho đến năm Bính Th́n (1856) trở đi, nghĩa là sau ngày Phật Thầy Tây An tịch diệt, th́ không ai c̣n gặp ông ạo Lănh ở đâu nữa. Người
ta bảo nhau rằng ông đă chứng quả trên Non Tiên.
Giờ đây đọc lại mấy vần thơ cũ của ông Hai trích trong bài thập thủ liên hườn ta sẽ hiểu qua trích thái lẫn tâm hồn ông trong những ngày chót ở chốn núi rừng sâu thẳm.
Thấy những phiền cho cuộc ở đời,
Xa tầm non nước một phương trời,
Hoa tươi trước mặt thơm tho nực,
Thú dữ bên ḿnh nhả nhớn chơi,
Nghiêng chén hải lan vui chốn chốn,
Cụm cây trăng sở dạo nơi nơi.
Quên năm Giáp Tư năm nào cả,
Luyện thuốc linh đơn tế độ người.
Độ người thẳng tới cỏi thiên thai,
Chẳng nhuộm màu đời có mấy ai?
Giày c̣ đến lui trời đất rộng,
Áo sen xài xạc núi sông dài,
Cảnh vui ư hiệp son dồi phấn,
Thú lạ t́nh ưa đá chẳng phai,
Nghiêng ngữa cội tùng nghe tiếng gió;
Dọc ngang mặc thích thế không hay.
Thế không hay có bậc người lành,
Trên đảnh ḿnh ngâm chữ thái b́nh,
Một tấm ḷng nhàn mây sắc trắng,
Trăm đường tục lợi nước màng xanh,
Dạy đời hằng giữ câu vi thiện,
Tưởng đạo vui theo dạ chí thành,
Cửa Phật trau dồi công đức lớn,
Ngâm tầm mùi đạo rất tinh minh.
Cũng có người nói rằng mấy bài thơ này là do Đức Phật Thầy đọc cho ông Đạo Lănh chép lại -Điều này chưa có ǵ để kiểm chứng được. (6).
GS Nguyễn Văn Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) Ông Quản Thành là một chiến sĩ cách mạng Cần Vương đă kháng Pháp quyết liệt vào hậu bán thế kỷ 19. Muốn biết rơ xin xem cuốn "Cuộc Khởi Nghĩa Bảy Thưa" - Tân sanh xuất
bản hay xem bài Trần Văn Thành của Nguyễn Văn Hầu đăng trên Bách Khoa số 64 ngày 1-9-59.
(2) Có giả thiết cho rằng ông Hai Lănh là người cha Việt mẹ Miên. Không rơ thuyết nào đúng hơn.
(3) Giặc này trước tiên nổi lên ở Kép (Kampot) rồi lần lần lấn ra nhiều nơi, cùng chung một khẩu hiệu tranh đấu và cùng chịu một mạng lệnh chỉ huy.
(4) V́ không t́m được đích xác phẩm trật của ông Hai Lănh là ǵ nên chỉ xin chép nguyên danh.
(5) Nhiều người nói sở dĩ ông Hai Lănh có tên "cậu Hai G̣ Sặt" là do trận chạy lạc này ông lên tận G̣ Sặt (Pursat: sử cũ chép là Phú Túc) ở đó một thời gian khá lâu. Song cũng có
người lại nói ông Hai từ nhỏ đă lên G̣ Sặt. Không rơ thuyết nào đúng?
(6) Chưa biết chắc được ông Đạo Lănh có phải là 1 trong 12 đại đệ tử của Đức Phật Thầy không. Cho nên theo sự dè dặt thường lệ, chúng tôi xin đặt tiết này
ở phần cuối chương.
|