CHÂN NHƯ
DUYÊN KHỞI
Nguyễn Thế
Đăng
Phác
họa “Chân Như duyên khởi” Chân Như duyên khởi là một “học thuyết” có
mặt trong hầu hết các tông phái Đại thừa như Không tông (Trung Quán,
Trung Đạo), Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Mật
tông… Sở dĩ chúng ta dùng chữ “học thuyết”, như một lư thuyết triết
học, v́ khi chỉ nghiên cứu trên b́nh diện tư tưởng và khái niệm - và
đó là việc chúng ta đang làm - th́ nó là một học thuyết (chân lư
tương đối, tục đế). C̣n ngày nào chúng ta thật sự thể nghiệm được
Chân Như th́ đó không c̣n là một học thuyết, một ngón tay chỉ mặt
trăng, mà đó chính là chân lư tuyệt đối, chân đế, là chính mặt trăng.
Chân Như (tathata)
là ǵ? Định nghĩa tổng quát, Chân Như là thực tại “bất sinh bất diệt,
bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, nghĩa là thực tại nguyên sơ và
tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng sinh ra. Chỉ lấy một số
từ ngữ trong Luận Đại Thừa Khởi Tín th́ Chân Như là: Tâm Chân Như (đối
lại với tâm sinh diệt), Pháp tánh Chân Như, Như Lai tạng, Nhất Tâm,
Thể Đại tổng tướng của Nhất Pháp giới, tánh Không, Pháp thân, Bản
giác, Cứu cánh giác, cái gương như hư không, tánh giác, Tâm, Pháp
giới tánh, Phật thể…
Chúng ta
có thể định nghĩa khái quát Chân Như duyên khởi như sau: Tất cả
những ǵ chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ (nhăn
nhĩ tỷ thiệt thân ư, sắc thanh hương vị xúc pháp) đều sinh ra, duyên
khởi từ Chân Như, hiện hữu trong Chân Như và diệt mất trong Chân Như.
Nói cách khác, tất cả mọi hiện tượng mà chúng ta kinh nghiệm đều là
Chân Như.
Chân Như
duyên khởi được nói rộng và sâu trong kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp
Hoa. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ba cơi chỉ là Nhất tâm” (phẩm Thập Địa).
Kinh Pháp Hoa th́ hai phẩm Như Lai thần lực và Như Lai thọ lượng
(nằm trong phần Bổn môn theo phân tích của Đại sư Trí Khải) nói một
cách trực tiếp và sâu xa về Chân Như duyên khởi.
Kinh Lăng
Gia nói:
Như Lai
tạng là nhân của thiện và bất thiện, từ nó tất cả mọi h́nh thức đời
sống được khởi sinh. Giống như một diễn viên mặc lấy các h́nh tướng
khác nhau, trong đó không có cái ta và cái của ta. Do không biết
điều này nên ba duyên ḥa hợp làm phương tiện mà sinh khởi. Ngoại
đạo không biết nên chấp là có một tác giả, có một nguyên nhân. V́
tập khí xấu và hư vọng đă huân tập từ vô thủy nên gọi là Tàng thức
(A lại da thức), chúng chuyển biến cùng với bảy thức và vô minh căn
bản xông ướp, như một đại dương có sóng sinh măi chẳng dứt.
Nếu ĺa
lỗi lầm do không thấy vô thường, ĺa khỏi chấp ngă th́ (đại dương)
Như Lai tạng không dơ uế và rốt ráo thanh tịnh trong bản tánh của
nó.
“Đại Bồ
tát muốn tiến bộ đến rốt ráo th́ phải thanh tịnh Như Lai tạng đang
c̣n là thức A lại da này. Nếu không có thức tàng A lại da này, ắt
không có sinh diệt… Này Đại Huệ, cảnh giới của Như Lai tạng vốn là
thanh tịnh, nhưng người chưa giác ngộ th́ bị khách trần nhiễm ô che
đậy nên vẫn thấy chẳng thanh tịnh”. (quyển 8).
Kinh Thắng
Man nói:
“Sanh
tử y trên Như Lai tạng… Có Như Lai tạng cho nên có sinh tử, đó gọi
là người trí nói. Sinh và tử, hai pháp này tức là Như Lai tạng. Do
lời nói thế gian nên nói có sinh tử, chứ chẳng phải Như Lai tạng có
sinh có tử. Như Lai tạng vốn ĺa ngoài tướng hữu vi. Như Lai tạng
vốn thường trụ, bất biến, cho nên Như Lai tạng là nền tảng y cứ, là
cái duy tŕ, là cái kiến lập”(Phẩm Tự Tánh thanh tịnh).
Tất cả
tướng đều là tánh, tất cả sóng đều là đại dương thanh tịnh bất động,
tất cả hiện hữu đều là Như Lai tạng. Kinh Đại Bát Nhă, phẩm Đẳng Học
nói: “Tất cả pháp bổn tánh thanh tịnh. Ở trong các pháp đó, nếu Bồ
tát tâm thông đạt chẳng mê mờ, đó chính là Trí huệ Ba la mật”.
Kinh Lăng
Nghiêm, quyển IV, nói:
“Như
Lai tạng không phải là tâm, không phải là đất nước lửa gió, không
phải là nhăn nhĩ tỷ thiệt thân ư, không phải là sắc thanh hương vị
xúc pháp, không phải nhăn thức giới cho đến không phải ư thức giới,
không phải là minh hay vô minh, không phải hết minh hay hết vô minh.
Như vậy cho đến không phải là lăo tử, không phải hết lăo tử, không
phải là khổ tập diệt đạo, không phải trí, không phải đắc, không phải
là bố thí tŕ giới nhẫn nhục thiền định trí tuệ, không phải là Ba la
mật đa, như vậy cho đến không phải là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, không phải Đại Niết bàn, không phải Thường Lạc Ngă Tịnh. Tất cả
đều chẳng phải, chẳng phải là pháp thế gian hay xuất thế gian".
“Như Lai
tạng tức là tâm, tức là Không, tức là đất nước lửa gió, tức là nhăn
nhĩ tỷ thiệt thân ư, tức là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là nhăn
giới cho đến tức là ư thức giới, tức là minh tức là vô minh, tức là
minh và vô minh tận. Như thế cho đến tức là lăo tử, tức là lăo tử
tận, tức là Khổ Tập Diệt Đạo, tức là Trí, tức là Đắc, tức là bố thí
tŕ giới nhẫn nhục thiền định trí tuệ, tức là Ba la mật đa, như thế
cho đến tức là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, tức là Đại Niết
bàn, tức là Thường Lạc Ngă Tịnh. Tất cả đều tức là, tức là pháp thế
gian và xuất thế gian.
Như Lai
tạng ĺa ‘tức là’, ĺa ‘chẳng phải’, cũng ‘tức là’, cũng ‘chẳng
phải'.
Tóm lại,
Chân Như duyên khởi hay Như Lai tạng duyên khởi hay Pháp giới duyên
khởi là Chân Không Diệu Hữu. Hay nói theo thuật ngữ của Luận Đại
Thừa Khởi Tín, Chân Như duyên khởi là Không Như Lai tạng (Chân
không) và Bất Không Như Lai tạng (Diệu hữu).
Nói theo
ngôn ngữ b́nh thường th́ Chân Như là cái dung chứa mọi mâu thuẫn,
đối nghịch: có và không, động và tĩnh, một và nhiều, như thật và như
huyễn, tướng và vô tướng… đồng thời vẫn thanh tịnh, không bị nhiễm ô
bởi chúng.
Có điều
Chân Như duyên khởi hay Chân Không Diệu Hữu phải được thực hành để
thể nghiệm. Nếu không, nó chỉ là một thứ triết học tư biện bàn luận
suông thay v́ là một ngón tay chỉ mặt trăng, một dấu hiệu chỉ đường
nhằm đạt đến thực tại tối hậu. Nếu chỉ là một loại triết học, nghĩa
là dựa trên và làm việc với những khái niệm, th́ với Phật giáo, nó
không tránh khỏi rơi vào hư luận, rơi vào ṿng lẩn quẩn của ư thức
hữu hạn và sinh diệt. Kinh Lăng Già nói: “Cái sinh diệt kia là thức,
cái chẳng sinh diệt là trí. Cái bị các tướng ràng buộc ngăn ngại là
thức. Cái không bị ràng buộc ngăn ngại là trí… Đại Huệ! Ta nói rằng
thức vọng tưởng diệt th́ gọi là Niết bàn” (Niết bàn là một tên gọi
khác của Chân Như).
Đưa vào
trong đời sống thực tế
Chân Như
là tất cả đời sống, vậy th́ ứng dụng của Chân Như duyên khởi có mặt
trong mọi lănh vực của đời sống. Ở đây chúng ta chỉ nh́n sơ lược
trong vài lănh vực.
Mặc dù con
đường của con người là để đạt đến chân lư tuyệt đối, đạt đến trí
chẳng sinh chẳng diệt, nhưng ở bước khởi đầu và trên đường đi, chúng
ta vẫn cần sử dụng cái thức sinh diệt nghĩa là chân lư tương đối.
Nói cách khác, chúng ta chưa chứng thực được Chân Như duyên khởi th́
chúng ta hăy sống với nó trên b́nh diện ư thức, b́nh diện tư tưởng,
b́nh diện con đường đang đi nhưng định hướng đúng. Nhân là một ư
thức tương đối nhưng tiến hành đúng, th́ quả sẽ là một trí huệ chẳng
sinh chẳng diệt thấu đạt Chân Như.
Chúng ta
hăy xét Chân Như duyên khởi trong so sánh với một vài triết học khác
để thấy sự ích lợi có tính thực dụng của nó trong đời sống. Thực
dụng ở đây là hiểu theo nghĩa cao cấp và đẹp đẽ của từ này. Triết
học thực dụng hay triết học thực tiễn do Charles S.Peirce
(1839-1914), William James (1840-1910) và John Dewey (1850-1954), cả
ba đều là người Mỹ chủ xướng và khai triển. Triết học thực dụng khi
xét giá trị của một loại triết học th́ dựa trên kết quả thực tiễn
tác động vào đời sống của nó. Chẳng hạn, tiểu luận Khái niệm triết
học và hiệu quả thực tế (1898) của James là một thí dụ.
Ở đây,
chúng ta sẽ xét hiệu quả của học thuyết Chân Như duyên khởi trong ba
chủ đề: Thời gian và lịch sử; Sự vật, thiên nhiên và con người; Các
ngành nghiên cứu học thuật.
-Thời gian
và lịch sử: Với Chân Như duyên khởi, vũ trụ này duyên khởi từ Chân
Như theo nghiệp của tất cả chúng sinh, sinh từ Chân Như, kiến lập và
hiện hữu trong/bằng Chân Như, diệt mất trong Chân Như. Vũ trụ chính
là biến tướng của Chân Như theo nghiệp của từng giống loài. Vũ trụ
của con người là Chân Như được biến hiện qua nghiệp thân khẩu ư của
con người.
Chân Như,
với tư cách là thực tại đầu tiên và cuối cùng, vừa siêu việt khỏi vũ
trụ vừa nội tại trong vũ trụ. Nói theo cách nói logic bất nhị của
Đại thừa, siêu việt tính của Chân Như chính là nội tại tính của nó.
Như thế,
vũ trụ và thế giới này, dù bị “biến kế sở chấp” cách nào vẫn ẩn chứa
“khuôn mặt thật” của con người, vẫn là quê hương đích thực của con
người. Chính nơi sự biểu lộ thành h́nh tướng vũ trụ của Chân Như mà
con người trong sự phát triển tiến hóa của nó có thể nhận ra Chân
Như vào bất cứ không gian nào thời gian nào. Chính nơi thế giới đa
dạng này con người sẽ nh́n thấy khuôn mặt thật của mọi sự là Chân
Như. Con người không lạc lơng trong một vũ trụ vô tri giác, xa lạ,
không có chút ǵ thiêng liêng. Trái lại, nó lạc lơng bởi v́ nó không
nhận ra khuôn mặt thật và thiêng liêng (siêu việt) của nó và của thế
giới là ǵ. Nó chưa từng ĺa khỏi quê hương cơi tịnh của nó. Sự cứu
độ, sự giải thoát luôn luôn ở trong tầm tay nó, hay nói đúng hơn,
nằm trong chính nó, khi nó tịnh hóa con mắt nó, khi chuyển được thức
thành trí, chuyển được cái thấy có sinh tử sinh diệt thành cái thấy
Niết bàn Chân Như không sinh không diệt.
Thế nên,
với Phật giáo, thực tại tối hậu là cái có mặt ở tại đây và bây giờ.
Tất cả mọi con đường, mọi pháp môn của Phật giáo, dù bề ngoài có vẻ
khác nhau thế nào, đều quy về cái có mặt tại đây và bây giờ này.
Trong khi
đó, thần học Tây phương quan niệm thực tại tối hậu là một Thượng đế
có nhân cách như con người và vũ trụ được Thượng đế tạo ra từ hư
không, ex nihilo. Thượng đế như là nguyên nhân đầu tiên, động cơ đầu
tiên tạo ra vũ trụ, nhưng Thượng đế ở ngoài vũ trụ, không ở trong vũ
trụ. Với con người cũng thế, Thượng đế tạo ra con người, dù có “theo
h́nh ảnh của Ngài”, nhưng ở ngoài con người. Vũ trụ và con người ở
ngoài Thượng đế, thế nên để đến với thực tại tối hậu là Thượng đế,
con người phải đi qua một vũ trụ vô tri vô giác xa lạ và đi qua cả
số phận của chính con người cũng xa lạ không kém. Con người cũng
không thể bằng nỗ lực của ḿnh để gặp gỡ thực tại tối hậu, mà mọi sự
đều do “ư muốn của Thượng đế”. Những câu hỏi tiếp tục gây lúng túng
cho các nhà thần học: Nếu Thượng đế tốt lành sáng tạo ra vũ trụ, tại
sao có sự xấu ác trong vũ trụ ấy?...
Lịch sử
theo quan niệm Tây phương có tính cách tuyến tính mà phải ở cuối
đường của lịch sử nhân loại mới gặp lại Thượng đế trong sự phán xét
cuối cùng, đó cũng là ngày tận thế. Như thế lịch sử chỉ là một sự
chờ đợi sự chấm dứt của chính ḿnh để được tái lập lại trong “trời
mới và đất mới” với những con người c̣n sống sót v́ “đă được chọn
lựa”. Lịch sử là lịch sử của sự vắng bóng thực tại tối hậu, v́ thực
tại tối hậu th́ ở ngoài lịch sử, ở ngoài số phận con người.
Quan niệm
lịch sử tuyến tính này ảnh hưởng đến những triết gia lớn như Hégel
(1770-1831). Với Hegel, mặc dù Tinh Thần thế giới nội tại trong thế
giới, nhưng con người không thể trực tiếp đạt đến Tinh Thần thế giới
(cái tuyệt đối) mà phải chờ "Tinh Thần thế giới" thực hiện quá tŕnh
vận động biện chứng của ḿnh qua vũ trụ để đi tới sự hoàn thiện cuối
cùng của "Tinh Thần thế giới" đó, th́ lúc ấy con người mới được hoàn
thiện.
Sự tách
biệt của thế giới, lịch sử và con người với thực tại tối hậu là cái
tạo ra bi kịch Tây phương. Thế kỷ XIX, Nietzsche nói: Thượng đế đă
chết. Nếu Thượng đế ở ngoài con người và vũ trụ th́ Thượng đế có thể
chết thật. Nhưng Thượng đế ở trong con người (Tất cả chúng sinh đều
có Phật tánh) và ở trong vũ trụ th́ Thượng đế làm sao chết được khi
c̣n có con người. Những tác phẩm trong thế kỷ XX, mà đầu đề đă nói
lên bi kịch đứt rách giữa Thượng đế và con người trong vũ trụ: Đi
t́m thời gian đă mất (Marcel Proust), Lưu đày và Quê nhà, Con người
nổi loạn, Kẻ xa lạ, Huyền thoại Sisyphe (Albert Camus), Trong khi
chờ Thượng đế (Samuel Beckett), Thời đại hoài nghi (Nathalie
Sarraute)…
Lịch sử
Tây phương là một lịch sử theo đường thẳng, tuyến tính, có tính cách
mạt thế luận, và lịch sử ấy không có thực tại tối hậu ở bên trong
nó. Nó chỉ gặp lại cái thực tại tối hậu ấy ở cuối đường, nghĩa là
khi lịch sử đă chấm dứt. Đó là một lịch sử đi t́m thực tại tối hậu ở
cuối đường nhưng tự thân lịch sử th́ không có thực tại tối hậu ấy:
lịch sử th́ vô nghĩa.
Nhận định
của J.P. Sartre nêu lên t́nh cảnh ấy thật rơ ràng: “Hầu hết các nhà
văn lớn hiện đại, Proust, Joyce, Dos Passos, Faulkner… mỗi người
theo cách riêng của ḿnh, đều cố t́m cách hủy hoại thời gian. Một số
tước đi quá khứ và tương lai, để rút thời gian lại trong ư thức
thuần túy của giây lát. Chưa bao giờ rơ như thế ở thế kỷ XX, những
đột biến và sụp đổ nhanh chóng của tiến tŕnh lịch sử lại khiến con
người nhận rơ như vậy về “tính phi lư của thời gian”, “sự thiếu vắng
của tương lai”. V́ vậy, khi “một kư ức chỉ c̣n làm ngưng lại những
ngẫu nhiên và những ṿng quay lại vĩnh cửu của một cuộc đời trong
một thời điểm duy nhất”, th́ điều đó không có ǵ lạ, bởi v́, “giây
lát, đó chính là sự bao trùm tương hỗ và đối lập của cái trước bởi
cái sau”. Sartre, Saint Genêt, Comédien et martyr, 1952, trích dẫn
từ Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX, Đặng Thị Hạnh chủ biên, NXB Đại
học Quốc Gia Hà Nội 2005.
Lịch sử
Tây phương là lịch sử của loài người bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng, một
cuộc lưu đày vào trần thế không có cơ hội để tự phục hồi. Đó là lịch
sử của một cuộc mất mát thực tại tối hậu mà chỉ có cái chết của
chính lịch sử mới cứu chuộc được.
Ẩn dụ “Đứa
con hoang đàng trở về với cha” trong Kinh Thánh và ẩn dụ “Đứa con
khốn cùng trở về với cha” trong kinh Pháp Hoa khá giống nhau trong
việc nói lên thân phận con người. Nhưng rất khác nhau về cách giải
quyết, nh́n trong toàn cảnh hai nền văn hóa.
Lịch sử,
theo Đông phương, nhất là theo Phật giáo, luôn luôn là cơ hội cho
con người, chính là sự cứu độ cho con người, bởi v́ lịch sử là sự
khai triển của Chân Như theo khuynh hướng nghiệp của con người. Lịch
sử không là sự che giấu hay ẩn mặt. Khi được hỏi thế nào là thực tại
tối hậu, Thiền sư Vô Ngôn Thông, sơ Tổ của một ḍng thiền Việt Nam,
trả lời: “Không từng che giấu”, và “Ở khắp mọi chỗ”.
Con người
luôn luôn có cơ hội gặp gỡ, t́m thấy thực tại tối hậu ở bất cứ thời
điểm nào của thời gian và không gian, nghĩa là ở bất cứ thời gian
không gian nào của lịch sử. Tất cả mọi tông phái Phật giáo đều đồng
ư con người có thể gặp gỡ, hiểu biết, tỏ ngộ, thể nhập thực tại tối
hậu ấy ngay tại đây và bây giờ. Với Phật giáo, thời gian không gian
không chỉ là tương đối mà thậm chí là không thực, do đó mới có giải
thoát được. Tâm điểm, cứu cánh của lịch sử Tây phương là ở phía
trước, ở chỗ tận cùng (téléologie, viễn đích luận hay cứu cánh
luận). Tâm điểm, cứu cánh của lịch sử Đông phương là ở tại đây và
bây giờ. Chỉ cần tâm con người đủ sáng suốt, đủ trong sạch để biết
thấy, biết nghe, biết ngửi, biết nếm, biết xúc chạm và biết suy
nghĩ.
Sự
vật, thiên nhiên và con người
Nghiệp
chướng hay lỗi lầm của con người là sự phân biệt và tách ĺa giữa
chủ thể và khách thể, kể cả khách thể siêu việt là thực tại tối hậu.
Một trong những vấn đề giải quyết của kinh Lăng Nghiêm là tại sao có
thân tâm này và thế giới ngoài kia, làm sao để lấp được hố ngăn cách
ấy. Có lẽ đó là sự khổ đau đầu tiên và căn bản của mọi thứ khổ đau
của con người.
Văn hóa
Tây phương khởi nguồn từ Hy Lạp và kinh Cựu Ước. Sách Sáng Thế Kư
nói: “Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hăy sinh
sản thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hăy làm cho đất phục tùng, hăy
thống trị loài cá biển, loài chim trời, tất cả mọi sinh vật trên mặt
đất” (Sáng Thế Ky 1, 28).
Khi Adam
và Eva đă phạm tội v́ ăn trái cấm “biết điều thiện và điều ác”, “Đức
Chúa Trời phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần
trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn khi sinh con, sự dục
vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi”. (3,
16). Rồi phán với Adam: “Đất sẽ sinh chông gai và cây tật lê, và
ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có
mà ăn, cho đến ngày ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; v́
ngươi là bụi đất ngươi sẽ trở về bụi đất” (3, 18, 19).
Thiên
nhiên với Cựu Ước luôn luôn là cái ǵ gây khổ đau cho con người. Và
chống đối, chiến thắng thiên nhiên hẳn là chống đối và chiến thắng
khổ đau. Tương quan giữa con người và thiên nhiên là một tương quan
bạo động, thù địch và chiến đấu. Thiên nhiên là một lời nguyền rủa
cho số phận con người.
Ngày nay
với khoa học kỹ thuật, con người đă giải được lời nguyền đó, nhưng
cùng với điều này, thiên nhiên hấp hối, trái đất hấp hối. Chúng ta
đang mất một người bạn đồng hành, thậm chí người anh cả v́ thiên
nhiên có trước chúng ta, và cái chết của trái đất cũng là cái chết
của chúng ta.
Từ hai
nguồn Hy Lạp và Cựu Ước cho đến Descartes và các triết gia hiện đại
vẫn chưa giải quyết được sự tách biệt giữa chủ thể và đối tượng.
Khoa học kỹ thuật lại đào sâu thêm hố tách biệt ấy bằng cách làm ông
chủ khai thác bóc lột thiên nhiên để thỏa măn những tham vọng không
bờ bến. Đẩy sự sống của thiên nhiên vào hàng vật chất vô tri, hiếu
chiến với thiên nhiên, từ đó hiếu chiến với con người, với người
khác, chỉ là một bước ngắn. Đó là tính cách của văn hóa Tây phương.
Đông phương th́ ngược lại, luôn luôn t́m cách ḥa hoăn, thuận ḥa
với thiên nhiên. Chỉ mới khoảng vài thập niên gần đây, trước nguy cơ
trái đất bị kiệt quệ và hư hoại, kéo theo cái chết sắp tới của con
người, Tây phương mới nói đến môi trường sinh thái, thiên nhiên,
sống hài ḥa với thiên nhiên.
Lịch sử
con người, theo Tây phương, là lịch sử của con người bị đuổi ra khỏi
vườn Địa Đàng, và người ta đi t́m thiên đường đă mất ấy bằng cách
đào xới, chế tạo, xây dựng nên một Thiên Đường vật chất mới bằng
nguyên liệu của trái đất này. Trong khi đó, Chúa Jésus đă nói:
“Thiên Đường chỉ có trong ḷng người”.
Ảo tưởng
lớn nhất của văn minh Tây phương là nghĩ rằng con người sẽ có hạnh
phúc, sẽ b́nh an, sẽ xây dựng được một cơ đồ hạnh phúc và b́nh an
bằng cách chẳng đếm xỉa ǵ thiên nhiên, chẳng đếm xỉa ǵ con người
(bóc lột và chiến tranh, chủ nghĩa thực dân các loại…), và quan
trọng nhất là chẳng đếm xỉa ǵ đến con người thật bên trong của
ḿnh. Ảo tưởng có thể đi t́m một Thiên Đường bên ngoài ḿnh, một
Thiên Đường có thể xây dựng được bằng cách thống trị thiên nhiên,
thống trị người khác và che lấp con người sâu xa bên trong của ḿnh,
ảo tưởng đó càng lúc càng cho thấy những hậu quả nhăn tiền của nó.
Cần nhấn mạnh, chúng ta nói, không nên tiến bộ bằng ảo tưởng, bằng
cách đặt những tiền đề sai, chứ không nói, không nên tiến bộ về vật
chất.
Trong khi
đó, Đông phương nói: “Tâm b́nh th́ thế giới b́nh”, “Tâm dẫn đầu tất
cả các pháp”. Diễn dịch theo lối tầm thường của chúng ta: Nếu tâm mà
đúng, tốt và đẹp th́ mọi sự, thế giới tự nhiên và thế giới do chúng
ta tạo ra, sẽ đúng, tốt và đẹp. Dĩ nhiên hậu quả là không có khổ
đau. Chẳng có ai tạo ra tội lỗi nguyên thủy - như Adam và Eva - cho
chúng ta cả. Chúng ta phải chịu trách nhiệm với sự sai lầm vẫn đang
diễn ra của chính ḿnh. Đó là cái nh́n sai lầm và hành động sai lầm
của chúng ta ngay lúc này về thiên nhiên, về con người, và về thực
tại tối hậu.
Với Đông
phương mà ṇng cốt 'triết học' của nó là Chân Như duyên khởi, th́
thiên nhiên và người khác không phải là đối tượng, đối thủ để hàng
phục, gây chiến và thống trị trên con đường tiến hóa của ḿnh. Mỗi
sự vật trong thiên nhiên là một Chân Như duyên khởi. Mỗi con người
là một Chân Như duyên khởi. Chúng ta, thiên nhiên và người khác đồng
một tánh Không, đồng tánh Chân Như. Nếu có khác biệt về cấp độ th́
đó là sự khác biệt do cấp độ nhận biết nhiều hay ít, có ư thức hay
vô thức bản năng về tính chất đồng nhất này mà thôi. Đây mới là cái
biết đem lại b́nh an và hạnh phúc cho mọi loài hiện hữu.
Nếu chúng
ta thể nghiệm được sự b́nh đẳng tự bản chất này (B́nh đẳng tánh
trí), th́ đó là hạnh phúc, hạnh phúc cứu cánh, v́ chấm dứt mọi xung
đột, tham lam, giận ghét, chiến tranh.
Phật giáo
bao gồm nhiều con đường, nhiều lối đi nhằm chấm dứt vô minh (cái
thấy chia tách và cắt đứt chủ thể và khách thể, từ đây mà có căn
bệnh cô đơn của thời hiện đại). Khi vô minh tiêu tan tới đâu th́
thực tại Chân Như hiển lộ tới đó. Vô minh là ảo tưởng thâm căn cố đế
cho rằng có những vực thẳm tách biệt chúng ta với thiên nhiên, với
người khác và với thực tại tối hậu. Tách biệt với thiên nhiên, với
người khác, với thực tại tối hậu cũng chính là tách biệt với chính
ḿnh. Sự tha hóa của chúng ta vẫn tiếp diễn, khổ đau của chúng ta
vẫn tiếp diễn. Hai thái độ căn bản gây tác hại cho chính chúng ta là
tham lam và giận ghét - tham không được th́ giận ghét - đều sinh ra
từ sự tách biệt này. Những vực thẳm tách biệt làm cội gốc cho mọi
khổ đau này, như ta đă biết, mọi khoa học, mọi kỹ thuật, triết học,
văn học, chính trị, kinh tế và tổ chức xă hội đều bất lực trong việc
lấp đầy, xóa tan chúng, nếu không nói là càng đào sâu rộng thêm, khi
không có chánh kiến. Chính v́ thế mà bất chấp bao nhiêu phát triển
trong mọi lĩnh vực, Phật giáo vẫn tồn tại như một phương thuốc chữa
mọi căn bệnh. Trong văn học Phật giáo vẫn tuyên xưng Đức Phật là bậc
“Đại y vương” là v́ thế.
Bằng Chân
Như duyên khởi, chúng ta trả lại tính thiêng liêng (Chân Như), tính
siêu việt, tính bất khả tư ngh́ cho thế giới, thiên nhiên và con
người, trong đó có chúng ta. Thấy mọi cái đều thiêng liêng trong
Chân Như có nghĩa là chúng ta đă thiêng liêng hóa cuộc đời của ḿnh,
trả cho chúng ta về với chính chúng ta, một cái chính ḿnh thiêng
liêng và siêu việt. Ẩn dụ viên đá triết học (của Tây phương) và cây
gậy (của Đông phương) biến tất cả vũ trụ thành vàng ṛng có ư nghĩa
như vậy.
Để kết
thúc đoạn này chúng ta trích hai câu kệ của Thiền sư Thiền Lăo (thế
kỷ XI) trả lời vua Lư Thái Tông:
Trúc
biếc hoa vàng phi ngoại cảnh
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân.
Đây là cái
thấy của những con người thực sự thấy biết (Chánh tri kiến). Như
Thiền sư Mă Tổ: “Nếu lập pháp giới th́ thảy đều là pháp giới. Nếu
lập Chân Như th́ thảy đều là Chân Như”. Hay như Thiền sư Hoàng Bá:
“Tánh tướng không khác nhau” ; “Tâm cảnh nhất như”.
Thấy được
như thế th́ làm ǵ có chuyện trái đất này bị hư hoại, bị tàn phá v́
ḷng tham? Làm ǵ có chuyện đồ vật càng ngày càng chết đi nhanh hơn
v́ chủ nghĩa tiêu thụ?
Các
ngành học của con người
Khi nói
Chân Như là thật tướng và thật tánh của tất cả mọi hiện tượng, chúng
ta thấy ngay rằng Chân Như là mục đích của mọi môn học, mọi ngành
nghiên cứu, t́m ṭi, v́ tất cả mọi ngành đều nhắm đến thể, tướng,
dụng của một đối tượng nghiên cứu nào đó.
Với Phật
giáo, mọi ngành học thuật nghiên cứu đều nằm trong ṿng chân lư
tương đối v́ chúng y cứ vào lư tính hữu hạn của con người. Chẳng hạn
theo Kant, lư tính không thể thấu hiểu được, nắm bắt được “vật tự
nó”, nghĩa là thực tại tối hậu, thực tại như chính nó. Lư tính chỉ
hiểu được thế giới hiện tượng (phénomène) c̣n cái bản thể (noumène)
th́ không thể. Sau này, với Sartre, hữu thể tự thân, hữu thể tự nó
(l’en-soi) cũng là sự bất lực lớn nhất của ư thức con người (le
pour-soi). Các nhà triết học về khoa học như Wittgeinstein, Thomas
Kuhn, Karl Popper… đă cho chúng ta thấy những giới hạn của khoa học,
nghĩa là giới hạn của lư tính. Trên thực tế việc không thể hợp nhất
thuyết tương đối và vật lư lượng tử dù chỉ trên phương diện lư
thuyết toán học trải qua gần một thế kỷ đă cho thấy điều đó.
Chỉ có ở
cấp độ vượt khỏi lư tính, ở cấp độ mà chúng ta thường gọi là tâm
linh hay trí huệ th́ tâm thức mới bắt đầu chứng nghiệm được chân lư
tuyệt đối (thật tánh và thật tướng). Nói vượt khỏi lư tính, nói là
tâm linh v́ không thể định lượng và định tính theo khoa học, theo
luận lư được. Chỉ có cấp độ tâm linh hay trí huệ mới nhận biết và
thấu hiểu tâm linh hay trí huệ. Bởi thế những người thực hành tâm
linh và có những kết quả tâm linh trong văn hóa Tây phương vẫn gọi
là những nhà thần bí (mystique). Chẳng hạn, năng lực của "giới" và
cái chúng ta gọi là “giới thể” (và thiền định, thiền quán, bồ đề
tâm, hồi hướng…) th́ không thể đo bằng máy móc hay quan sát nào
được. Thậm chí tâm lư học chiều sâu (phân tâm học) cũng chẳng thể
nào ṃ ra “một tâm thức sạch phiền năo” là như thế nào, v́ phân tâm
học chỉ khảo sát về tâm - mà lại là tâm thô - th́ làm sao có thể
biết trạng thái không có tâm (vô tâm) là thế nào. Với tâm không có
phiền năo, tâm không có tư tưởng (tâm vô niệm), phân tâm học đă mất
đối tượng khảo sát của nó, nghĩa là nó trở nên vô hiệu.
Lư tưởng
của Phật giáo cũng như của Đông phương và Tây phương là chân lư
tương đối, quy ước có thể tiếp cận và phản ánh một phần nào chân lư
tuyệt đối, tối hậu. Sự nối kết được chân lư tương đối và chân lư
tuyệt đối, sự nối kết được Đời và Đạo là mục tiêu của Phật giáo Đại
thừa. Và nh́n chung, đó cũng là con đường giải thoát và giác ngộ của
toàn bộ Phật giáo.
Hiện nay,
lư tưởng của mỗi môn học là thể hiện được, phản ảnh được một góc
nhỏ của bức ảnh toàn đồ (hologramme, bức ảnh chụp giao thoa bằng tia
laser, mỗi phần nhỏ của nó khi rọi ra đều cho h́nh ảnh của toàn bộ
bức ảnh) của toàn bộ vũ trụ. Nhà vật lư vĩ đại Einstein đă từng mơ
ước một tương quan như vậy giữa khoa học và Phật giáo: “Tôn giáo của
tương lai phải là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo đó phải vượt khỏi
một Thượng đế có nhân cách và tránh khỏi những giáo điều và thần
học. Bao trùm cả lĩnh vực tự nhiên và tâm linh, nó phải đặt nền trên
một cảm thức tôn giáo phát sinh từ kinh nghiệm về tự nhiên và về tâm
linh như một nhất thể đầy ư nghĩa. Đạo Phật trả lời được cho sự mô
tả này. Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu
cầu của khoa học hiện đại th́ đó sẽ là đạo Phật”.
Mối liên
hệ lư tưởng của các khoa học với nhau và với cái “tôn giáo vũ trụ”
này là mỗi phần tử (mỗi môn học) đều “vô ngại, tương dung tương
nhập” với nhau và “vô ngại, tương dung tương nhập” với tôn giáo vũ
trụ. Cái nh́n “vô ngại của mọi phần tử với nhau đồng thời vô ngại
với cái Toàn thể”, đó là cái nh́n, quan điểm và cũng là chỗ rốt ráo
của kinh Hoa Nghiêm.
Với Đông
Á, các học thuật hầu như gắn liền và quy chiếu về thực tại tối hậu
(theo quan niệm của họ). Chẳng hạn hầu hết mọi ngành học đều có chữ
đạo (y đạo, vơ đạo, họa đạo, nhân đạo, thiên đạo, địa đạo…) và quy
chiếu về Thái cực hay Đạo. Các nhà Lư học Trung Hoa thế kỷ XI và XII
cũng biện luận về cái lư (cái Đạo) trong sự vật và cuộc sống. Tiếc
rằng họ nhiều tư biện, nhưng thiếu những tiến bộ của khoa học và
thiếu một trí huệ bao quát như Phật giáo. Gần đây, trong đường hướng
đó, nhà vật lư lư thuyết Fritjof Capra viết cuốn Đạo của Vật ly, The
Tao of Physics (1974) nói về những tương đồng của vật lư học hiện
đại và Đạo học Đông phương.
Với Tây
phương, các môn học phần nhiều gắn với tiếp vĩ ngữ “logie”:
ontologie (hữu thể học), phénoménologie (hiện tượng luận),
sociologie (xă hội học), psychologie (tâm lư học)… Tiếp vĩ ngữ logie
này bắt nguồn từ chữ Logos của Hy Lạp, có nghĩa là Nguyên lư vũ trụ,
nói theo Đông Á là Đạo, và nâng cao lên nữa là Chân Như. Như thế,
sociologie có thể dịch là “đạo của xă hội”, psychologie là “đạo của
tâm lư”…
Cái học
của Đông và Tây đều muốn t́m đến thực tại tối hậu là Đạo hoặc Logos.
Sự đồng quy về Chân Như, như là thực tại tối hậu, là cái chung cho
cả hai nền văn minh Đông phương và Tây phương. Chẳng hạn, nghệ thuật
Phật giáo t́m cách biểu hiện cái Chân Như trên mặt h́nh tướng. Nghệ
thuật của Đông phương và Tây phương cũng t́m cách biểu hiện cái thực
tại tối hậu ấy theo phong cách của từng nền văn minh, từng dân tộc.
Kết
luận
Trong một
viễn cảnh như vậy, các khoa học (chân lư tương đối, tục đế) và Chân
Như duyên khởi (chân lư tuyệt đối, chân đế) không chướng ngại nhau
mà bổ túc cho nhau, soi sáng lẫn nhau. Chẳng hạn trong vật lư học
hiện đại, không có một hạt cơ bản nào, không có một hệ thống nào là
độc lập, tồn tại riêng biệt, mà chúng “tương tác” lẫn nhau, cùng
“duyên khởi” với nhau, thậm chí “vô ngại, tương dung tương nhập” với
nhau.
Cho nên
Phật giáo không chống đối khoa học, không ngăn ngại khoa học, với tư
cách là cái học, sự nghiên cứu của lư trí con người. Trái lại, một
điều dễ thấy là mọi khoa học càng phát triển sâu rộng bằng lư trí và
thiện tâm th́ những chân lư của Phật giáo càng được sáng tỏ. Và có
thể, như mong ước của Einstein, những chân lư tuyệt đối của Phật
giáo soi sáng cho những con đường của những chân lư tương đối, cho
những paradigm (hệ h́nh, mẫu h́nh, chữ của Thomas Kuhn, 1962) của
khoa học. Cho đến lúc những chân lư tương đối là sự phản ánh của
chân lư tuyệt đối, là một với chân lư tuyệt đối: "Sắc tức thị
Không...".
Con người
luôn luôn t́m kiếm hạnh phúc, hạnh phúc càng trường cửu càng tốt.
Nhưng nó vẫn chạm mặt với khổ đau v́ nó đă không biết thiết lập
những nguyên nhân cho hạnh phúc, mà ngược lại, luôn măi gieo trồng
hạt giống khổ đau. Những khổ đau, những ách nạn từ cá nhân cho đến
xă hội ở khắp thế giới chứng tỏ sự sai lầm trong tư duy và trong
hành động của chúng ta là thế nào.
Mơ ước
ngàn đời của con người là làm thế nào nối kết được cuộc đời ḿnh với
thực tại tối hậu, với cái tuyệt đối; nối kết được sự nghiệp của ḿnh
nghĩa là tư duy sáng tạo và hành động của ḿnh với thực tại tối hậu.
Làm sao nối kết được Đời với Đạo, đó là vấn đề, thậm chí vấn đề duy
nhất. Ở đây, vắn tắt qua vài điều ở trên, chúng ta thấy Chân Như
duyên khởi thực hiện được ước mong đó: Đạo đến với Đời. Đời nối kết
với Đạo, qua Con người.
Con người
có thể t́m hiểu, học hỏi, bắt chước (chữ “pháp” của Lăo Tử, trong
câu: “Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo,
Đạo bắt chước Tự nhiên”) Chân Như qua mọi biểu lộ của nó: trong mọi
ngành hoạt động của con người, khoa học, chính trị, kinh tế, xă hội
v.v… V́ bằng con mắt trong sạch, con người có thể thấy được phản ánh
của Chân Như trong thế giới h́nh tướng, cho đến thấy trực tiếp được
nó. Như kinh Bát Nhă nói thấy sắc (hiện tượng) tức là thấy tánh
Không (bản thể). Đó là cái gọi là sự học (suốt đời) của Đông phương.
Với sự học
Chân Như cả về mặt h́nh tướng lẫn thể tánh, mặt hiện tượng lẫn bản
thể như vậy, con người sẽ hiểu biết, tương ưng và thể nhập Chân Như.
Đây là sứ mạng thiêng liêng của con người, số phận thiêng liêng của
con người, nối kết được Đời với Đạo, thế giới h́nh tướng biểu lộ với
thể tánh không h́nh tướng không biểu lộ, nối kết sinh tử với Niết
bàn, nối kết ngọn với gốc, nối kết sự ra đi với trở về, nối kết thời
gian với cái không có thời gian, cái hữu hạn với cái vô hạn.
Qua vài
điều ở trên, chúng ta thấy sự kiến lập một nền văn minh Phật giáo là
có thể.
Nguyễn
Thế Đăng
(Giác Ngộ)