|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG V
LƯỢC SỬ
(1)
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
GS Nguyễn Văn Hầu.
IV. VỀ VIỆC ĐỨC THẦY ĐI NÚI.
Trong thời gian c̣n ở lại Tổ Đ́nh, Đức Thầy lcó đi núi bốn lần:
a- Đăng Sơn Kỳ Nhất.
Trong lúc kêu gọi giáo viên, các sở, các thầy hăy "giúp đời đừng đợi trả ơn,
miễn tṛn bổn phận hay hơn bạc vàng," Ngài cũng không quên nói đến những vị tây
y sĩ:
Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền,
Khuyên trong anh chị đừng phiền,
Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Về
việc hiếu đạo khi cha mẹ lâm chung, Ngài dạy bỏ bớt "cốc-keng, trống đờn lễ
nhạc tế xen ích ǵ":
Bỏ bớt ŕnh rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời này.
Là lời truyền giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn;
C̣n ḿnh muốn đăi làng thôn,
Th́ là tùy ư đáp ngôn cho người.
Đức Thầy
lại nhiệt liệt bài xích hạng người:
Văn minh sửa mặt sửa mày
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem h́nh vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.
Tại
sao thế? V́ hạng người này chỉ biết chạy theo cái mới, để hào nhoáng bề ngoài
rồi trở lại chê bai hạng người xưa mà họ cho là ngu tối cũ kỹ:
Ngườ́ xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ bại u mê hơn ḿnh.
Nhưng mà Ngài quả quyết:
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn th́ đời nay.
4.
Cuốn thứ tư nhan đề "Giác
Mê Tâm Kệ,"
viết tại Hoà Hảo ngày 20 tháng 10 năm Kỷ Măo (1939)
dài 900 câu, viế`t theo điệu thất ngôn, mở đầu bằng câu:
Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện.
Như trong ba cuốn đă kể trên, ở đây Đức Thầy cũng nói
trước những tai họa hăi hùng mà chúng sanh phải trải qua trong đời Ngươn hạ:
Khổ với thảm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau ḍm thấy bay hồn;
Trừ tà gian c̣n thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu núi xương tha thiết,
Chừng lao xao dân chúng nước Tần,
Th́ Nam quốc lương dân mới biết.
Đức Thầy lại giảng giải thế nào là tứ đổ tường, tứ khổ, ngũ uẩn,
lục căn, lục trần, tứ diệu đế, bát chánh đạo và bát nhẫn.
C̣n ǵ biểu lộ ḷng từ bi hỉ xả của Đức Thầy bằng những câu sau đây mà chúng ta
có thể dùng làm châm ngôn:
Ai chữi mắng th́ ta giả điếc,
Đợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn hoà ta để đầu tiên,
Th́ đâu có mang câu thù oán,
Sự oán thù đáp lại chữ hiền,
Th́ thù oán tiêu tan mất hết.
Thương quá sức nên ta bịn rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân,
Nếu thế gian c̣n chốn mê tân,
Th́ ta chẳng yên vui Cực Lạc.
Và
điều cần phải chú ư nhất là trong quyển này Đức Thầy cũng không
quên tuyên dương những lời cao siêu về Phật pháp:
Dẹp năm tên (2) được mới mừng cười,
Vô pháp tướng mớ là pháp tướng,
Địa ngục cũng tại tâm làm quấy;
Về thiên đàng tâm ấy tạo ra;
Cái chữ tâm mà qủy hay ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.
Đức Lục Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành,
Lựa làm chi cao chữ học hành,
Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.
Nếu ai mà biết chữ tu tŕ;
Tâm b́nh tịnh được th́ phát huệ.
5.
Cuốn thứ năm nhan đề "Khuyến
Thiện,"
viết tại Bạc Liêu năm 1942, dài 750 câu, viết theo
điệu thất ngôn, đoạn nhứt và đoạn chót viết bằng lối văn thượng lục hạ bát.
Trong quyển này Đức Thầy nhắc sự tích Đức Phật Thích Ca và luận giải về tám sự
khổ trong cơi Ta bà, pháp môn Tịnh Độ, sự diệt ngũ trược, trừ thập ác
và hành thập thiện.
Sau
rốt, Ngài kêu gọi ḷng hy sinh và sự thành thật của tăng đồ nhà Phật và sự hưởng
ứng của thiện nam tín nữ:
Nếu xuất gia th́ phải hy sinh,
Cả vật chất tinh thần lo Đạo,
Chớ giả dối mà mang sắc áo,
Mượn bồ đề chuổi hột ḷe người.
6.
Cuốn thứ sáu nhan đề "Những
Điều Sơ Lược Cần Biết của Kẻ Tu Hiền."
Quyển này Đức Thầy viết hồi năm 1945, trong ṿng tháng 5 Dương
lịch, theo lối văn xuôi, (tản văn). Tuy là văn xuôi nhưng lời văn lưu loát, âm
hưởng khéo dùng nên có lắm đọn đọc lên như khúc nhạc khi bỗng khi trầm...
Trong quyển này Đức Thầy minh giải về Tứ ân, tam nghiệp, thập ác và bát chánh.
Ngài lại chỉ cách thờ phượng, cúng lạy, cách hành sự lúc tang lễ, hoặc cách cư
xử lúc có cuộc hôn nhơn, cách đối đải với các tăng sư, chùa chiền, với các tôn
giáo khác và nhân sinh. Ngài cũng khuyên tất cả mọi người nên chăm cần học hỏi
để mở mang trí tuệ, nên luyện tập thể dục, giữ phép vệ sinh để tạo cho ḿnh một
sức khoẻ dồi dào ngơ hầu làm việc đạo nghĩa một cách đắc lực, nên làm những nghề
lương thiện và tránh những sự tráo đấu lường cân, đầu cơ buôn lậu...
7.
Ngoài ra sáu quyển kể trên đây, Đức Thầy c̣n viết rất nhiều bài thi, bài văn mà
chúng tôi đă gom góp để in thành quyển "Sưu Tập Thi Văn Giáo Lư của Đức Huỳnh
Giáo Chủ". Quyển sách này dày hơn 350 trang và gồm từ những bài thi tứ cú, bát
cú. ngũ ngôn, thất ngôn đến những bài trường thiên, điệu thượng lục hạ bát, lục
bát gián thất, thất ngôn hay những bài văn lời lẽ hùng hồn cảm động, ư tứ bí ẩn
sau xa...
Sau khi nghiên cứu và phân tách tất cả các tác phẩm của Đức Thầy, chúng ta có
thể kết luận như vầy:
Trưóc hết Ngài thức tỉnh người đời rằng tuồng đời sắp hạ và mách bảo vô số tai
họa thảm khốc sẽ xảy ra. Ngài nói Phật pháp cho kẻ thượng căn và chữa bệnh cho
người hạ trí đặng dẫn họ trở về chánh đạo, học Phật tu Nhân, giải thoát thân tâm
và giải thoát cho non sông đất nước.
.
GS Nguyễn Văn Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) XIN LƯU Ư: Đây chỉ là LƯỢC SỬ của Đức Thầy. T́m đọc quyển "Tiểu sử của ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ" đầy đủ hơn.
(2)
Đức Thầy ám chỉ ngũ-uẩn.
|