Thiền và Giáo Dục Việt Nam Thời Hội Nhập
Thích
Tâm Đức
-
Phó Viện
trưởng, VNCPHVN
Sự
suy sụp kinh tế toàn cầu hiện nay là một sự phá sản tất yếu của chủ
nghĩa thực dụng (Pragmatism) hay hưởng thụ quá mức
(over-consumerism), những biểu hiện của ḷng tham đầy vị kỷ. Đây là
một hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai c̣n hoặc đang bị mê hoặc hay
choáng ngợp trước sự giàu sang một cách vô t́nh, sẵn sàng “vong thân”,
tự đánh mất ḿnh hay đánh mất truyền thống văn hoá của dân tộc. Một
sự cứu nguy hay giải pháp khả thi cấp tốc cho toàn xă hội đó là
Thiền và sự ứng dụng của nó, đặc biệt là ứng dụng vào lĩnh vực giáo
dục đại học Việt Nam thời kỳ hội nhập thế giới.
Thiền
Thiền xuất phát từ Ấn Độ cổ đại, được xem là một phương pháp giáo
dục con người toàn diện, hướng con người đến chân – thiện – mỹ, rèn
luyện con người phát triển thể lực và trí lực một cách hài hoà và
tốt đẹp. Theo ḍng lịch sử Thiền đă du nhập vào nhiều vùng lănh thổ
khác nhau trên thế giới và ở mỗi địa phương ấy Thiền đă bám rễ và có
phong cách văn hoá riêng của ḿnh.
Thiền ở Ấn Độ có nét siêu nhiên. Một vị hành thiền thuần thục có thể
thể nghiệm những thần thông như “một thân biến thành nhiều thân;
tàng h́nh đi xuyên qua tường, độn thổ xuống đất; đi trên mặt nước;
ngồi kiết già bay trên hư không giống như chim; có thể sờ mó mặt
trăng, mặt trời…”[1]
Người Trung Quốc thường được xem có tính thực tế, không thích đắm
ḿnh vào những vấn đề thần bí của tôn giáo như thế nào là bản chất
của vũ trụ, sự tái sinh, v.v…Lần đầu tiên khi đối mặt với sự xâm
nhập của Phật giáo Ấn Độ người Trung Quốc bị quyến rũ nhưng rồi dần
dần họ đă tự khẳng định ḿnh. Họ bắt đầu t́m kiếm một số đặc điểm
nào đó trong đạo Phật mà họ có thể hiểu và thực hành, và không lâu
sau họ đă t́m thấy Thiền như là một tinh hoa của Phật giáo. Kết quả,
Thiền tông ra đời và phát triển, đặc biệt là dưới sự hướng dẫn của
Huệ Năng, một tổ sư Thiền ít chữ nhưng nổi tiếng vào thời kỳ vàng
son của triều đại nhà Đường, Trung Hoa (A.D. 625-755). Trong suốt
hơn một trăm ba mươi năm này Thiền cùng với các lĩnh vực khác ở
Trung Hoa như văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật, và văn chương đă tự do
khởi sắc và phát triển. Thiền tông Trung Hoa này không thiên về lư
luận như các tông phái Phật giáo khác ở đây như là Thiên Thai, Hoa
Nghiêm và Duy Thức; do vậy, nó đă đáp ứng được khuynh hướng thực
tiễn của người Trung Hoa. Và, Huệ Năng chủ trương Phật quốc chính là
ở tại thế gian này:
“Phật quốc là thế gian này mà trong đó sự giác ngộ được t́m cầu. T́m
cầu giác ngộ mà bằng sự tách rời ra khỏi thế gian này th́ hăo huyền
giống như t́m sừng thỏ”.[2]
Ở
Nhật Bản, Thiền hay Zen đă trở thành một phần của kho từ vựng thế
tục như là “Zen của X” hay “Zen và nghệ thuật của X” hay nói một
cách khác, ư niệm Thiền đă thâm nhập vào văn hoá dân gian. Trong bối
cảnh này, Thiền luôn ám chỉ một ư nghĩa tự do, thanh thoát, và hợp
nhất với thế giới và điều đó có thể được cảm nhận không chỉ trong
những h́nh thức kỹ thuật cao của hành thiền mà c̣n trong bắn cung,
làm vườn, nghi thức uống trà, và ngay trong cả những việc thế gian
như là bảo tŕ xe máy… Ở Việt Nam ta có nghe nói về trà đạo, kiếm
đạo, cung đạo, nhu đạo … Đạo ở đây có nghĩa là Thiền và cũng có
nghĩa là nghệ thuật. Những sử gia thường cho rằng sự hiểu biết đặc
biệt về Thiền phát xuất từ một phong trào cải cách của Phật giáo xảy
ra ở nước Nhật vào thời kỳ Minh Trị (1868-1912) và hậu Minh Trị.
Trong giai đoạn này Phật giáo bị xem là ngoại lai, đồi bại và mê
tín. Nhưng tín đồ của Thiền đă phản ứng lại bằng một chủ trương tân
Phật giáo hoàn toàn hiện đại, không giáo phái và dấn thân vào xă
hội. Một thiền sư tiêu biểu của giai đoạn này là D. T. Suzuki
(1870-1966) – người có công truyền bá Zen đến các nước phương Tây –
cho rằng, trải nghiệm Zen là sự siêu việt nhị nguyên và tri thức, và
do vậy ưu việt đối với tất cả những trải nghiệm của tôn giáo.[3]
Khi đến Việt Nam th́ Thiền đă có những sắc thái riêng - một sự đồng
hành và góp phần tạo nên sức mạnh văn hoá của dân tộc:
a)
Sức mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam:
Nhiều lần trong lịch sử của nhân loại, những sự việc đă xảy ra chỉ
có thể đặt trong phạm trù những hiện tượng kỳ diệu. Những hiện tượng
như vậy đă làm ngạc nhiên cả những nhà sử học lẫn khoa học. Lịch sử
đấu tranh và giải phóng của người Việt Nam khỏi những đế quốc hùng
mạnh như Trung Quốc, Mông Cổ, Pháp, Mỹ thuộc loại phạm trù những
hiện tượng kỳ diệu như vậy. Điều này có thể chỉ ra rằng, đứng về
phương diện vật chất th́ Việt Nam khó là đối thủ của những đế quốc
đó. Do vậy, người ta phải t́m một lối giải thích khác; đó là, sức
mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam.
b)
Thiền Phật giáo Việt Nam là một thực thể văn hoá bao gồm chính trị –
xă hội – triết học – tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam hay sự nhập thế
của đạo Phật ở Việt Nam:
Đạo Phật đă đến Việt Nam vào khoảng một, hai thế kỷ trước Công
nguyên trong bối cảnh dân tộc này đang không ngừng đấu tranh nhằm
giải phóng ách đô hộ Phương Bắc (111 trước CN – 938 CN). Ban đầu,
đạo Phật được người Việt chấp nhận như là vị cứu tinh, họ mong ước
một vị Phật quyền năng để cứu vớt những linh hồn và dân tộc của họ.
Nhưng tất cả đă trở thành vô ích. Dần dần, người Việt nhận ra rằng
chỉ có sức mạnh của chính ḿnh mới có thể cứu ḿnh. Đây là lư do tại
sao Thiền đă trở thành vai tṛ mang tính quyết định sau đó. Không
nghi ngờ ǵ nữa khi ngôi chùa Phật giáo đầu tiên “Khai Quốc” đă được
xây dựng vào thời gian của cuộc kháng chiến thành công ngắn ngủi
(545 – 603) do Lư Bân lănh đạo.
Và
đă có sự chuyển hướng từ bí ẩn sang chính trị ở đạo Phật Việt Nam,
từ T́ Ni Đa Lưu Chi đến Trúc Lâm (một thiền phái Việt Nam được thành
lập bởi vua Trần Nhân Tông (1258 – 1380), và cho đến thời hiện đại.
Trong thập niên 1960, trước sự đàn áp và phân biệt của chính quyền
Công giáo Nam Việt Nam, nhiều phong trào Phật giáo đă nổi lên và đấu
tranh cho sự b́nh đẳng giữa các tôn giáo. Vào ngày 11/06/1963, nhà
sư Thích Quảng Đức tự thiêu đă làm xúc động ḷng người trong nước và
khắp thế giới, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm
vào năm 1963, và sau đó cũng đă góp phần vào sự thống nhất đất nước
vào năm 1975.
Làm thế nào để quốc gia được bền vững ? Câu hỏi trọng đại này đă
được vua Lê Đại Hành (980 – 1005) nêu lên không lâu sau khi Việt Nam
khôi phục lại chủ quyền sau một ngh́n năm dưới ách đô hộ của Phương
Bắc, và đă được Thiền sư Pháp Thuận trả lời như sau:
“Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lư
thái b́nh
Vô vi cư điện
các
Xứ xứ tức đao
binh”
(Tạm dịch)
“Ngôi nước như
mây quấn
Trời Nam mở
thái b́nh
Đạo đức ở cung
điện
Chốn chốn hết
đao binh.”[4]
Theo Pháp Thuận, chính lối sống đạo đức của chính quyền là nguyên
nhân chính yếu cho sự thống nhất các tầng lớp quần chúng và sự vững
bền của dân tộc.
Trên phương diện chính trị, quần chúng đóng vai tṛ cực kỳ quan
trọng. Những vị vua Phật giáo đời nhà Lư và Trần đă coi trọng ư dân,
ḷng dân, bạn của dân, thương sức lao động của dân trong khi thực
hiện những hoạt động chính trị như dời đô, lên ngôi, thay đổi triều
đại, tuyên chiến. Tuy nhiên, để thu phục nhân tâm, vua phải sống có
đạo đức. Để làm tỏ đạo đức của vua, Quốc sư Viên Thông (1080 – 1151)
đă giải thích như sau :
“Dân ví như một đồ vật, nó sẽ yên khi được đặt ở chỗ yên và nó sẽ
nguy hại khi được đặt ở nơi nguy hiểm. Điều quan trọng là tính cách
của vua. Nếu đạo đức của vua phù hợp với ḷng dân th́ dân sẽ kính
yêu vua như cha mẹ, sẽ ngưỡng nh́n và xem vua như mặt trăng mặt
trời. Điều đó có nghĩa là đặt dân vào nơi chỗ yên vậy.”[5]
V́
sống có đạo đức nên các vua Lư và Trần đă tập hợp được quần chúng và
chiến thắng quân xâm lược.
Khuynh hướng chính trị biểu hiện sự gắn bó rất gần gũi giữa Phật
giáo và dân tộc Việt nam. Nhưng không phải chỉ trên phương diện
chính trị.
Phật giáo Việt Nam cũng đă mang lại sự thịnh vượng và ḥa b́nh cho
đất nước. Một học giả Việt Nam cận đại đă nhận xét rằng : “Triều Lư
có thể được gọi là triều đại từ bi nhất trong lịch sử của dân tộc
ta. Chính do ảnh hưởng của đạo Phật”. Một học gỉa khác b́nh luận về
kinh tế ở triều đại nhà Trần (1225 – 1400) như sau :
“Không có một giai đoạn nào trong lịch sử trung đại Việt Nam mà kinh
tế công thương nghiệp và thành thị lại phát triển như vậy, lại được
nhà nước phong kiến tạo điều kiện mở mang như vậy. Thương nhân được
tự do kinh doanh, tầng lớp đại thương trở thành tầng lớp tiến bộ
nhất trong xă hội ở các thế kỷ XIII – XIV.”[6]
Đối với tôn giáo, Phật giáo Việt Nam tôn trọng sự b́nh đẳng giữa các
tôn giáo. Vua Trần Thái Tông (1218 – 1277), một thiền sư Phật giáo,
đánh giá cao ba tôn giáo – Khổng giáo, Lăo giáo và Phật giáo.[7]
Thiền sư nói:
“Mặc dầu cuộc đời là qúi, nhưng nó không qúi như Đạo. Do vậy, Khổng
Tử nói: ‘Thật thỏa măn cho ta khi được nghe Đạo vào buổi sáng cho
dầu phải chết vào buổi chiều.’ Lăo Tử nói: ‘Ta đă có một nỗi lo lớn.
Chính v́ ta đă có cái thân này.’Đức Phật cầu Đạo đă tự hy sinh để
cứu độ chúng sinh đang đau khổ. Ba vị thánh này đă xem thường thân
mạng ḿnh để coi trọng đạo, phải vậy không ?”[8]
Trần Nhân Tông, nhà vua và cũng là Tổ sư Thiền phái Trúc Lâm, với
chủ trương Cư trần lạc đạo, đưa tinh thần lạc quan của đạo Phật vào
trong đời sống thế tục. Chính ông là người lănh đạo hai cuộc kháng
chiến thành công chống giặc Nguyên Mông (1385 và 1387), đánh dấu một
giai đoạn lịch sử hoàng kim của dân tộc.
Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu, một Phật tử và cũng là người đă hoàn
tất cuộc Nam tiến, mở rộng đất nước đến mũi Cà Mau, chủ trương Cư
Nho mộ Thích, kết hợp Nho và Phật, sử dụng cách điều hành kiểu Nho
giáo nhưng với cái tâm Phật giáo. Sáu Thiền phái của giai đoạn này
vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay, đó là: Tào Động, Trúc Lâm, Quốc
Ân, Thập Tháp, Chúc Thánh và Liễu Quán.
Dẫu Thiền ở các nước có những đặc điểm khác nhau nhưng chúng vẫn có
những điểm chung căn bản.
Cơ
sở lư luận của Thiền là: Sự tập trung tư tưởng. Bộ óc con người khi
tập trung vào một đối tượng th́ tạo ra một sức mạnh nội tâm như một
ngọn đèn pha chiếu sáng, khiến thấy rơ mọi sự vật; trong khi đó nó
làm ức chế và khiến những phần c̣n lại của vỏ năo được nghỉ ngơi,
thanh thản. Tâm trí, nếu không được huấn luyện đúng cách, thường tán
loạn, vọng tưởng, chạy theo những dục vọng gây ra những hậu quả đáng
tiếc về mặt đạo đức, luật pháp… Phương pháp thực hành Thiền có nhiều
cách, nhưng có một cách đơn giản mà hiệu nghiệm, đó là: Quán tưởng
hơi thở. Vị ấy ngồi yên lặng, lưng thẳng, mắt khép lại và để ư hơi
thở vô ra. Hơi thở này đang đi vào, vị ấy biết rơ như vậy; hơi thở
này đang đi ra, vị ấy biết rơ như vậy. Trong khi đang theo dơi hơi
thở như vậy, nếu có những h́nh ảnh, kỷ niệm, suy nghĩ, lo lắng dù
chúng có đẹp hay xấu, vui hay buồn th́ vị ấy đừng để ư hay bận tâm,
phê phán. Sau một thời gian lâu hay mau tuỳ theo sự nỗ lực của từng
người mà sẽ có hiệu quả sớm hay muộn. Thước đo kết quả của sự luyện
tâm là vị ấy cảm thấy sức khoẻ thân tâm của ḿnh ngày càng được tốt
hơn: ngủ ngon giấc không chiêm bao mộng mị, bớt lo lắng phiền năo,
vui vẻ, tập trung vào công việc đang làm một cách tự nhiên. Một sự
luyện tâm như vậy sẽ dần tạo ra một phản xạ có điều kiện mới thay
thế cho những thói quen xấu cũ. Thiền không chỉ có ngồi mà c̣n được
ứng dụng trong mọi hành vi cử chỉ như đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo,
quét rác, bửa củi… Một thiền giả luôn chánh niệm tỉnh giác với mọi
biểu hiện của ư, lời nói và hành động của ḿnh.
Người chứng nghiệm thiền định có khả năng trực giác, siêu việt lư
luận. Lư luận là loại tư duy c̣n mang tính đối đăi hay mâu thuẩn nội
tại với những cặp phạm trù đúng – sai, thiện – ác, đẹp – xấu… Nhưng
trực giác siêu việt những cặp phạm trù này, giúp hành gỉa có tính tự
chủ, sáng tạo và tiếp thu cái mới một cách có chọn lọc.
Giáo dục Việt Nam thời hội nhập
1. Các
mẫu giáo dục Đại học hiện đại:
Immanuel Kant (1724-1804), cha đẻ thực thụ của trường Đại học hiện
đại, đă kết hợp triết học duy lư (rationalism) của Descartes với
triết học duy nghiệm (empiricism) của Bacon và mở đầu cho thời kỳ
Khai Sáng. Vị này chủ trương Đại học hiện đại phải có một tư tưởng
chủ đạo, tạo thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó, bao gồm mục
đích, triết lư, phương pháp, cũng như quan hệ giữa các khoa và quan
hệ của trường với nhà nước. Tư tưởng chủ đạo ấy là lư tính. Đối với
Kant, cũng như đối với các nhà tư tưởng của thời đại Khai sáng, lư
tính hay lư trí là một năng lực phổ quát có khả năng giúp con người
khám phá thế giới và hành động đúng đắn, hợp với quy luật tự nhiên.
Nhưng với Wilhelm von Humboldt (1767-1835) th́ chủ trương Đại học
văn hoá. Với Humboldt, cũng như nhiều nhà tư tưởng đương thời như
Schiller, Schleiermacher, hay Fichte, văn hoá là sự kết hợp hai mặt:
những kiến thức khác nhau được nghiên cứu và đồng thời là sự phát
triển nhân cách thông qua quá tŕnh nghiên cứu đó. Các kiến thức
được nghiên cứu dựa trên lư trí và được lư trí liên kết thành một hệ
thống thống nhất, nhưng quan trọng hơn là nó kết tinh trong truyền
thống. Đồng thời, sự phát triển của nhân cách chính là sự trưởng
thành của cá nhân thông qua việc hấp thụ những ǵ thuộc lư trí trong
truyền thống đó. Ta có thể thấy rằng văn hoá gắn liền với truyền
thống, nhưng đồng thời cũng có vai tṛ dẫn dắt con người tới tương
lai. Có thể nói rằng văn hoá là cái liên kết quá khứ, hiện tại và
tương lai của một cộng đồng. Như thế, văn hoá chính là nền tảng tạo
nên bản sắc: con người văn hoá ở đây gắn liền với truyền thống của
cộng đồng, cụ thể là truyền thống dân tộc. Nói cách khác, ĐH chính
là nơi tạo nên chủ thể văn hoá của một quốc gia. Humboldt tin rằng
nếu được giáo dục con người sẽ trở thành những chủ thể tự do, có khả
năng suy nghĩ độc lập để hành động v́ lợi ích dân tộc - điều cực kỳ
quan trọng đối với các nhà nước - dân tộc đang h́nh thành và lớn
mạnh ở châu Âu thời bấy giờ.
Văn học nổi lên thay cho Triết học trong trường ĐH duy lư của Kant.
Lư do dễ nhận thấy là triết học có xu hướng hướng tới tính phổ quát,
trong khi văn học gắn liền với ngôn ngữ và kư ức của một cộng đồng
cụ thể. Một lư do khác là triết học chỉ dành riêng cho một tầng lớp
tinh hoa, trong khi ấy văn học có thể được chia sẻ bởi đa số thành
viên của cộng đồng. Do vậy, giảng dạy văn học dân tộc trở thành bộ
môn quan trọng bậc nhất trong trường Đại học hiện đại.
Và
ở phương Tây, hiện nay các trường Đại học Văn hóa theo h́nh mẫu của
Humboldt đang biến mất để nhường chỗ cho các trường Đại học Doanh
nghiệp mà tư tưởng chủ đạo là doanh thu chứ không phải là lư trí hay
văn hoá. Nét chủ đạo trong sự thay đổi này là sự lên ngôi của xă hội
tiêu thụ. Trong nền kinh tế hiện đại, nhất là với nền kinh tế các
quốc phát triển nhất hiện nay như Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu, đầu tàu
phát triển là sức tiêu thụ, nói cho cùng là ham muốn tiêu thụ hay
hưởng thụ quá mức (over-consumerism) – nguyên nhân dẫn đến lừa đảo,
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá hoại môi trường, hố cách giàu
nghèo – chứ không phải là năng lực sản xuất. Có thể nói rằng nhu cầu
là tất cả. Có nhu cầu, sẽ có sản xuất để cung cấp và sẽ có lưu thông
phân phối. Chính v́ thế, những nhu cầu tiêu thụ mới cần phải không
ngừng được tạo ra thông qua quảng cáo, ư thức hệ, văn hoá đại chúng
và vô số con đường khác. Cùng với việc chú trọng đến thương hiệu,
rất nhiều hoạt động của trường đại học hiện đại ngày càng mang tính
thương mại. Có thể thấy điều đó qua việc kinh doanh các sản phẩm
hàng hoá có gắn nhăn hiệu logo của trường. Các hoạt động gây quỹ và
đặc biệt được chú trọng, nhất là thông qua các tổ chức cựu sinh
viên.
Một trong những tác động lớn nhất của sự thương mại hóa giáo dục đại
học là sự thay đổi vai tṛ của đội ngũ người thầy. Nếu như trong
trường đại học Duy lư của Kant và đại học Văn hóa của Humboldt,
người thầy đóng vai tṛ trung tâm th́ trong trường đại học Doanh
nghiệp hiện nay, vai tṛ ấy thuộc về những người quản lư. Trên thực
tế, người thầy chỉ c̣n là người làm thuê, một thứ công nhân trí thức,
những người thực hiện các bài giảng theo đơn đặt hàng của các công
ty. Cùng với sự suy giảm vai tṛ của người thầy, là sự tăng cường
quyền lực của sinh viên. Một tác động khác của sự thương mại hóa
giáo dục đại học là sự suy giảm vị thế của các môn khoa học xă hội.
Ngoài ra, nếu trước kia mục tiêu của giáo dục Đại học là tập trung
trang bị kiến thức hàn lâm cho sinh viên th́ ngày nay, bên cạnh mục
tiêu về kiến thức và đạo đức nghề nghiệp, những trường danh tiếng
c̣n đề ra nhiều mục tiêu thiết thực không kém phần quan trọng khác
về các mặt: kỹ năng thực hành, khả năng tự học suốt đời, óc phê phán
và sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, ư thức lập nghiệp, kỹ năng
giao tiếp, làm việc tập thể, phát triển bền vững và ư thức về môi
trường, kiến thức xă hội, đạo đức thẩm mỹ và tất nhiên cả ngoại ngữ.
2. Thách thức của
Giáo dục Đại học Việt Nam thời hội nhập
Trong thời kỳ hội nhập thế giới hiện nay, nền kinh tế và xă hội Việt
Nam đang đứng trước những thử thách đầy cam go. Nguyên nhân cơ bản
là do tŕnh độ quản lư yếu kém và sự thiếu thốn nghiêm trọng nguồn
nhân lực có tŕnh độ ở nhiều lĩnh vực của đất nước. So sánh với các
nước trong khu vực, một điều rơ ràng là chúng ta đă không có sự
chuẩn bị tốt về vốn người cho sự phát triển. Trách nhiệm đó, một
phần rất lớn là thuộc về giáo dục đại học, mũi nhọn xung kích. Đặc
biệt là sự xuống cấp về chuẩn mực đào tạo và nhân cách sống. Xu thế
“xă hội hóa” giáo dục, mở rộng số lượng đầu vào để tăng lợi nhuận,
đang là xu thế chủ đạo.
Trong thực tiễn, nền giáo dục của chúng ta không nhằm đào tạo ra
những con người được phát triển toàn diện với đầy đủ phẩm giá: có
nhân cách, và có khả năng tư duy phê phán độc lập, sáng tạo. Nền
giáo dục này đang thực hành kiểu nhồi nhét kiến thức như "chất vào
kho"; và khuyến khích sự thụ động, khuôn sáo và nặng về thi cử. Điều
này trái hẳn với triết lư Giáo dục nhân văn và sáng tạo của nền văn
minh hiện đại.
V́
thế, giáo dục Đại học Việt Nam ta hiện nay phải khẩn thiết đặt lại
câu hỏi: Mục tiêu tối hậu của giáo dục là ǵ? Và để đạt mục tiêu ấy
cần phải hành động theo phương châm nào? Và bằng phương pháp nào?
Lấy kinh nghiệm ở thời đại của Dewey (1859 – 1952), cứu cánh của
giáo dục là hoàn thiện con người và phục vụ xă hội. Nhưng màu sắc
thực dụng vị kỷ (pragmatism) đă bắt đầu lan dần vào giáo dục. Đến
nỗi Einstein, người cùng thời với Dewey, đă phải cảnh báo:
“Dạy cho con người một chuyên ngành th́ chưa đủ. Bởi bằng cách đó,
anh ta tuy có thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở
thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta
phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái ǵ là đáng để
phấn đấu trong cuộc đời. Anh ta phải được dạy để có được một ư thức
sống động về cái ǵ là đẹp và cái ǵ là thiện. Nếu không, với kiến
thức được chuyên môn hóa của ḿnh, anh ta chỉ giống như một con chó
được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài ḥa.
Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những
ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để t́m được một thái độ ứng
xử đúng đắn với từng con người đồng loại của ḿnh cũng như với cộng
đồng”.[9]
Lời cảnh báo trên quả thật là tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả
những người làm công tác giáo dục. Vấn đề trước tiên của giáo dục
đại học Việt Nam là phải thay đổi triết lư đào tạo sao cho không
những phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mà c̣n phải phù hợp với mục đích tối hậu của cuộc sống là hạnh phúc
không c̣n những nỗi thống khổ từ những ảo tưởng và dục vọng. Vai tṛ
của người thầy lúc này không phải chỉ là “tháp ngà” trí thức, mà
quan trọng hơn, người thầy phải là người truyền cảm hứng, người đem
lại cho sinh viên một sự hứng khởi trong học tập, và ngược lại, sinh
viên phải có động cơ đúng đắn của học tập là không phải chỉ v́ kinh
tế, tri thức khoa học mà c̣n phải v́ một nhân cách toàn diện, không
vong thân, vong bản, đánh mất truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân
tộc.
Văn minh Phương Tây có những điều hay để chúng ta học tập nhưng
không phải là tất cả. Sự suy sụp kinh tế toàn cầu hiện nay là một
điển h́nh. Chúng ta phải thấy có nhiều điều Phương Tây đă và đang
hướng về Phương Đông để học tập và Thiền là một trong những số ấy.
Do vậy, giáo dục Việt Nam ta trong thời kỳ hội nhập này phải có một
phương châm hoà mà không tan, nhập mà không mất. Với những con người
toàn diện, có tinh thần tự do, chủ động, sáng tạo, có tinh thần
trách nhiệm cao – dám nghĩ và dám làm – tất yếu sẽ có những đổi thay
về phương pháp, chương tŕnh dạy và học một cách thích hợp.
Giáo dục Đại học c̣n gặp nhiều thử thách cam go huống ǵ là nhiều
lĩnh vực đời sống khác như kinh tế, xă hội, đạo đức… chắc chắn là
đang gặp khó khăn. Và tất cả vấn nạn trên đều liên hệ đến con người,
đến thái độ tư duy, nhận thức. Nhưng cũng chính từ tư duy, nhận thức
đúng đắn, chắc chắn sẽ có những giải pháp.
Trước những thách thức của giáo dục Đại học Việt Nam thời hội nhập
hiện tại, Thiền – đă được lịch sử Việt Nam chứng thực – chắc chắn sẽ
tiếp tục là một tấm khiên vững chắc trong việc bảo tồn và phát huy
truyền thống văn hoá dân tộc với một cảnh giác cao, mất văn hoá là
mất nước.
Thích Tâm Đức
-
Phó
Viện trưởng, VNCPHVN
[1]
Pali Text Society, Majjhima Nikaya, London, 1979, tr. 97-98. [2]
Nanjio, the Sutra of Hui-neng, dịch gỉa: A F. Price và Wong. M. Lam,
Boston, 1969, tr. 34. [3] Encyclopedia of Buddhism, Robert E.
Buswell et al., Vol. 2, Macmillan Reference USA, 2004, tr. 924. [4]
UBKHXHVN - Viện Văn học, Thơ văn Lư Trần, I, Hà Nội, 1977, tr. 204.
[5] Thiền Uyển Tập Anh, Ngô Đứ c Thọ và Nguyễn Thuư Nga dịch, Hà Nội,
1993, tr. 241. [6] UBKHXHVN - Viện Sử học, T́m hiểu xă hội Việt Nam
thời Lư Trần, Hà Nội, 1981, tr. 296. [7] Như lịch sử cho thấy, ngay
từ những thế kỷ đầu công nguyên, Phật giáo đă tồn tại ở Việt Nam
cùng với Khổng giáo và Lăo giáo dưới ách đô hộ phương Bắc (11B.C. –
A.D. 938). [8] UBKHXHVN - Viện Văn học, Thơ văn Lư Trần, I, Hà Nội,
1977, tr. 9. [9] A. Einstein, Thế giới như tôi thấy, NXB Tri thức
2007, trang 48