TỪ LINH SƠN
ĐẾN YÊN TỬ
Thích Thông
Huệ
Chuyện kể rằng:
Một ngày trên đỉnh Linh Sơn, Đức Bổn Sư ngồi pháp ṭa chuẩn bị
thuyết pháp. Đại chúng Trời người đông đảo vây quanh Đức Phật, lắng
sâu tâm thức, chiêm ngưỡng dung nhan Ngài. Lúc ấy, một vị Phạm Vương
dâng cúng Phật bó hoa sen quư. Đức Phật im lặng cầm một cành sen giơ
lên, đôi mắt màu sen xanh từ ḥa nh́n khắp lượt đại chúng. Tất cả
nh́n cành hoa, nh́n lên Phật và nh́n nhau ngơ ngác. Không ai hiểu
Thế Tôn muốn nói ǵ, làm ǵ. Cũng không ai dám thốt lên lời thỉnh
cầu Đức Phật chỉ dạy. Bầu không khí vắng lặng bao trùm. Mọi người
như nín thở.
Khiêm tốn ngồi ở góc xa, có một vị Sa môn gầy g̣, râu tóc lâu ngày
không cạo, khoác lá y kết bằng trăm mảnh vải vụn. Tôn giả chắp tay
búp sen cung kính, đôi mắt sáng ngời nh́n lên Đức Phật. Bốn mắt gặp
nhau, một làn chớp giật. Không lời mà ngàn muôn ngôn ngữ, một khắc
mà tựa thiên thu. Nụ cười mỉm nở trên môi vị Sa môn làm sáng bừng
khuôn mặt khắc khổ, như mặt trời ra khỏi đám mây, tỏa ánh vàng chói
lọi lên muôn cây cỏ.
Đức Thế Tôn đặt cành hoa xuống, cất giọng Phạm âm:
-
Ta có Chánh pháp nhăn tạng, Niết bàn Diệu tâm, Thực tướng vô tướng,
nay truyền trao cho Ca Diếp!
Thế là, người được kế thừa tông phong, nhận lănh Tổ vị là Tôn giả Ca
Diếp, đại đệ tử Đầu đà bậc nhất của Đức Phật. Chỉ bằng một nụ cười
mỉm, Tôn giả đă được Thế Tôn truyền tâm ấn, trở thành Sơ Tổ Thiền
tông. Phật pháp có lẽ nào đơn giản đến thế?
Khoảng 19 thế kỷ sau hội Linh Sơn, nước Đại Việt sản sinh một vị vua
Thiền sư. Khi c̣n trên ngôi báu, Ngài đă trực nhận bản tâm theo tôn
chỉ nhà Thiền “Phản quan tự kỷ” (xoay lại soi sáng chính ḿnh). Lúc
nhường ngôi cho con, về Yên Tử tu hạnh Đầu đà, Ngài có thời gian bảo
nhậm Thánh thai, sống cùng Đức Phật tự tâm. Vị vua Thiền sư ấy là
Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Núi Yên Tử nhờ nhân kiệt mà thành địa linh, và ngược lại, nhờ linh
khí của non thiêng bao đời làm tâm người trải rộng thênh thang, ḥa
hợp cùng thiên nhiên kỳ diệu.
Hai câu kệ trong bài phú Cư trần lạc đạo do Điều Ngự viết, cho thấy
người sống giữa trần thế cũng vui với Đạo:
Trong nhà có báu thôi
t́m kiếm
Đối cảnh vô
tâm chớ hỏi Thiền.
Hành giả tu Thiền phải nhận ra Phật tâm sẵn đủ của chính ḿnh, không
t́m cầu bên ngoài. Khi tiếp xúc với trần cảnh, không khởi niệm phân
biệt đẹp xấu, hay dở mà vẫn rơ ràng thường biết. Vô tâm là không có
vọng tưởng điên đảo nhưng cái biết sáng ngời vẫn luôn hiện hữu; khi
đối cảnh mà vô tâm th́ ngay đó là Thiền, không cần hỏi Thiền làm chi
nữa.
Và
khi về Yên Tử, Điều Ngự đă cảm tác bài thơ Xuân như sau:
Thuở bé chưa từng rơ
sắc không,
Xuân về hoa
nở rộn trong ḷng.
Chúa Xuân
nay bị ta khám phá,
Chiếu trải
giường Thiền ngắm cánh hồng.
Thuở chưa biết Đạo, chưa từng hiểu lư nghĩa sắc không của các pháp,
Thái tử thấy ḷng rộn ră theo hương xuân đất trời, tâm dong ruổi
chạy theo các cảnh vô thường sanh diệt. Đến lúc trưởng thành, nhận
ra Chúa xuân lồng lộng đất trời, Ngài an nhiên tự tại giữa cảnh đời
biến đổi. Chúa xuân ấy là cái chân thường trong vạn pháp vô thường,
là cái biết sáng ngời chưa bao giờ thiếu vắng. Cái biết sáng ngời
ấy, có phải Tổ Ca Diếp đă tŕnh lên Đức Phật ngày nào trong hội Linh
sơn, làm nên sự tích Niêm hoa vi tiếu vang vọng muôn đời?
Cái biết sáng ngời hay Phật tánh, Chân tâm, Tánh giác… thật ra không
có tên gọi, không thể dùng lời diễn tả, không thể tưởng tượng suy
lường. Tất cả chúng sanh đều b́nh đẳng nơi Tánh giác, ở phàm chẳng
bớt nơi Thánh chẳng thêm. Phàm phu chúng ta mê muội, chạy theo bóng
dáng ngũ dục lục trần bỏ quên Tánh giác, tạo nghiệp rồi thọ sanh vào
các cơi. Ṿng luân hồi dường như khép kín, không có lối ra. Tuy
nhiên, nếu biết phản tỉnh, nhận lại của báu trong nhà, chúng ta có
thể t́m được mối manh thoát khỏi ṿng sanh tử. Như thế, giác ngộ là
biết ḿnh có Tánh giác thường hằng, nhận ra và sống cùng Tánh giác;
từ đó, giải thoát khỏi phiền năo và sanh tử luân hồi. Cho nên có thể
nói, Giác ngộ và Giải thoát là tiêu chí của người tu Phật, dù xuất
gia hay tại gia.
Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh là một sự kiện lịch sử, nhưng mang một ư
nghĩa siêu nhiên: Một Bậc Giác ngộ thị hiện nơi đời chỉ cho tất cả
chúng sanh hiểu rằng, ai cũng đều b́nh đẳng ở Tánh giác, ai cũng có
khả năng thành Phật. Trong nhà Thiền, sự kiện này c̣n có ư nghĩa vi
tế: Một niệm giác là Phật đản sanh, một vọng khởi là Phật nhập diệt.
Đức Phật ấy là Phật tự tâm của mỗi người, và việc t́m ra Đức Phật là
bổn phận của từng cá nhân, không ai có thể làm thay cho ai được. Đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni cùng chư Tổ biết bao đời khô cổ đắng miệng,
kinh lục nhiều như lá rừng nước biển, tựu trung cũng chỉ tuyên
thuyết thông điệp ấy mà thôi. Các Ngài là những Bậc dẫn đường tận
tụy cho chúng sanh, trao đèn nối đuốc không hề mệt mỏi.
C̣n việc đi theo sự chỉ dẫn ấy, đạt mục tiêu tối thượng là Giác ngộ
và Giải thoát sanh tử, là việc của ai? Tất cả chúng ta, xin hăy ngẫm
nghĩ điều nầy.
Thích
Thông Huệ
Thiền
Thất Viên Giác
Mùa Phật
Đản - PL. 2553