KHỦNG
HOẢNG XĂ HỘI ẤN ĐỘ THỜI TIỀN PHẬT GIÁO
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA
THẾ GIỚI NGÀY NAY
Thích Viên Trí
(Bài thuyết tŕnh
tại Hội thảo Phật giáo thế giới nhân Đại lễ Vesak 2009)
Xă
hội Ấn Độ vào những thập niên đầu của thế kỷ thứ VI trước công
nguyên được đánh dấu bằng một sự khủng hoảng trầm trọng trong lănh
vực triết học-tôn giáo. Sự sinh khởi và phát triển nhanh chóng của
sáu mươi hai học thuyết triết học và tôn giáo của xă hội đương
thời[1] đă tạo nên một bức tranh hổn loạn về niềm tin.
Nghiêm trọng hơn thế nữa, tất cả các học thuyết ấy đều cho rằng giáo
thuyết của họ mới là chân lư[2], những thứ c̣n lại là tà kiến, không
đáng tin. Để củng cố cho sự tồn tại và phát triển chủ thuyết, mọi
phương tiện xấu tốt đều được giới lănh đạo tôn giáo tận dụng để bành
trướng giáo thuyết của ḿnh. Nhằm chiếm thế thượng phong, làm chủ
diễn đàn tôn giáo ḥng nắm lấy quyền lực, thu phục tín đồ, sở hữu
lợi danh, người ta t́m cách để bôi nhọ, châm biếm, công kích lẫn
nhau. Họ không từ bỏ bất cứ hành động nào để đạt mục đích, thậm chí
những đụng độ đẫm máu về tôn giáo cũng đă từng xảy ra. Nói khác đi,
người Ấn Độ đang đứng trước một t́nh huống tiến thối lưỡng nan trong
việc lựa chọn cho chính ḿnh một lối đi, bởi v́ hầu hết những học
thuyết đương thời không tạo cho họ một cảm giác b́nh an, không thực
sự thỏa măn nhu cầu tâm linh cũng như lư tưởng sống của họ. Đây là
nguyên nhân chính đưa đến một sự khủng hoảng mang tính toàn diện đối
với xă hội Ấn Độ, bởi lẽ đặc tính của tất cả các nền văn minh Đông
Tây chính là sự biểu lộ về tôn giáo của nó và văn minh được quyết
định bởi phẩm chất tôn giáo mà nó dựa vào[3].
Tương tự như thế, con người của thế kỷ 21 cũng đang đối diện một
t́nh huống lịch sử tương tự khi mà niềm tin vào sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, chủ nghĩa dân tộc… đă không lấp đầy được khoảng trống
tâm linh do việc suy thoái niềm tin vào các tôn giáo truyền thống
gây ra.[4] Quả thật, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ
thuật và công nghệ thông tin, thế giới này dường như bị thu hẹp lại.
Với phương tiện di chuyển hiện đại, con người của hai đầu quả đất có
thể liên kết với nhau một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng cũng
chính từ đây, mâu thuẫn và xung đột bắt đầu khởi sinh khi những hệ
tư tưởng, văn hóa tôn giáo tiếp cận nhau.
Khuynh hướng cực đoan xem “chủ nghĩa”, “tôi là”, “của tôi”, “…” là
tối thượng, là duy nhất chính là nguyên nhân tạo ra sự đối đầu hiện
nay. Bước theo vết xe cũ của Ấn Độ ngày xưa, các tôn giáo, hệ tử
tưởng, các nền văn hóa khác nhau đang tận lực chứng minh tính ưu
việt của ḿnh. Khát vọng trở thành “cái giá trị nhất”, “cái thiêng
liêng nhất”, “cái tốt đẹp nhất” “cái đáng tôn kính, đáng tôn thờ
nhất…” đă tạo ra một không khí đối đầu giữa những khuynh hướng này,
thay v́ đối thoại. Bi thảm hơn nữa, thay v́ là chủ nhân của mọi thứ,
kể cả thần thánh, lẫn trời đất, con người đă trở thành nạn nhân, nô
lệ cho khát vọng của chính ḿnh.
Tuy nhiên, khi một nền triết học hay tôn giáo nào đó không c̣n đáp
ứng được nguyện vọng của con người, những người chủ xướng phải t́m
kiếm một hệ tư tưởng mới phù hợp với tiêu chí và quyền lợi của ḿnh.
Đỉnh cao của nỗ lực tâm linh siêu việt của Ấn Độ là sự xuất hiện của
Đức Phật và trí tuệ toàn giác của Ngài. Hệ thống giáo lư nhân bản do
Ngài tu chứng và tuyên thuyết đă trở thành giải pháp tối ưu cho một
xă hội đang đối mặt với chiến tranh, phân hóa và hận thù. Trải qua
hơn 25 thế kỷ, đạo Phật vẫn luôn song hành với con người. Càng ngày
con đường sống này càng trở thành nhu cầu thật sự của nhân loại, đặc
biệt con người của thế giới ngày nay, khi mà h́nh ảnh của xă hội Ấn
Độ rối loạn trước sự xuất hiện của Đức Phật đang ngày càng in đậm
cuộc sống của con người đương thời. Trong hoàn cảnh này, Nietzche
cho rằng Phật giáo chính là giải pháp khả thi cho một nền văn minh
ṃn mơi[5]. Trong khi ấy, theo một số ư kiến khác, thời đại của
chúng ta đang cần một tôn giáo có thể vượt lên trên các điểm bất
đồng của Đông và Tây, nối kết nhân loại thành một khối thống nhất,
giúp cho xă hội Âu Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng đang xảy ra và
giúp cho xă hội phương Đông vượt qua đói nghèo[6]. Elbert Einstein
nhận xét Phật giáo chính là giải pháp khả thi để giải quyết những
vấn nạn này[7].
Trong giới hạn của bài viết, chúng tôi muốn phân tích một vài điểm
trọng yếu của giáo lư Phật giáo để soi sáng lư do tại sao các nhà
văn hóa, triết gia, giáo dục lại đề nghị áp dụng hệ thống tư tưởng
này để giải quyết những rối loạn của thế giới đương thời. Như đă đề
cập ở trên, với tư tưởng tự tôn, độc tài, áp đặt, khuynh hướng bành
trướng và thống trị đang diễn ra khắp mọi ngơ ngách của cuộc sống.
Đây là đầu mối chính của thù hận, phân hóa và chiến tranh, tạo nên
sự chao đảo và rối loạn hiện nay. Do vậy, để có thể giải quyết t́nh
trạng đối đầu căng thẳng này, bước đi đầu tiên là con người phải
kính trọng lẫn nhau. Khi có thái độ kính trọng, người ta mới có thể
đối thoại. Đối thoại là phương cách duy nhất để giải tỏa mọi bế tắc,
tạo ra sự cảm thông cho mọi sự dị biệt. Từ đây, sự chấp nhận lẫn
nhau mới hy vọng trở thành hiện thực. Đối với vấn đề này, đạo Phật
chủ trương rằng một người xứng đáng được gọi là bậc thiện tri thức,
biết hộ tŕ chân lư, tôn trọng sự thật khi người ấy tôn trọng và
bảo vệ niềm tin của ḿnh, nhưng không cho rằng chỉ có niềm tin của
ḿnh là chân lư và duy nhất[8]. Rơ ràng, đây có thể là cái nh́n căn
bản và thiết yếu để mở tung cánh cửa định kiến, bảo thủ… mà con
người đương đại đang phải đối mặt.
Tại sao như thế? Nguyên lư duyên khởi (Patiyasamuttpada) của đạo
Phật- với mẫu thức ngắn gọn: “Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái
này diệt cái kia diệt. Do cái này có cái kia có. Do cái này không,
cái kia không”- sẽ giải thích quy luật tương quan tương duyên của
vạn pháp trong vũ trụ. Theo nguyên lư này, không có cái ǵ tồn tại
độc lập trong thế giới sinh diệt này, Sự tồn tại của cái này chính
nhờ vào sự tồn tại của một pháp nào đó. Ngược lại, sự hoại diệt của
pháp này đưa đến sự tàn lụi của pháp khác. Thử quan sát những bệnh
tật, dịch nạn mà nhân loại ngày nay đang đối mặt th́ sẽ thấy được
tầm quan trọng của Nguyên Lư Duyên Sinh này. Nếu dịch cúm gia cầm
(Bird Flu) của Trung Quốc không ảnh hưởng đến mạng sống và sức khỏe
của gia cầm và con người ở Âu Mỹ, chắc chắn chính phủ của những nước
phát triển (mà triết lư sống của họ là thực dụng và thực tế) không
đời nào viện trợ không cho Trung Quốc và các nước nghèo thuốc men và
dụng cụ y khoa để ngăn chặn cơn dịch nguy hiểm này, v́ lẽ “Do cái
này có mặt nên cái kia có mặt”. Nếu Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào
gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) mà chỉ đem đến lợi nhuận
riêng cho quốc gia của ḿnh, chắc hẳn các cường quốc kinh tế sẽ
không bao giờ tốn thời gian để thương thuyết, đàm phán, v́ “Do cái
sinh nên cái kia sinh”, v.v... Rơ ràng, tinh thần duyên khởi của
Phật giáo đang được nhân loại cân nhắc và áp dụng trong mọi lănh vực
của cuộc sống để giải quyết quyền lợi, thực hiện trách nhiệm của
nhau; đồng thời để giải tỏa những xung đột, bất đồng mà thế giới
ngày nay đang đối mặt, như Tổ chức chống buôn lậu người, Cuộc chiến
chống khủng bố, Chống buôn bán ma túy, Chống chiến tranh hạt nhân.
Một lănh vực khác của cuộc sống mà con người dường như cũng đang
nghiêm túc ứng dụng nguyên lư này là nhân sinh quan và vũ trụ quan.
Trong cái nh́n Phật giáo, con người do năm uẩn hay nhóm, gồm sắc,
thọ, tưởng, hành và thức tạo thành. Năm nhóm này được phân thành hai
nhóm: sắc pháp và tâm pháp. Tâm pháp gồm thọ, tưởng, hành và thức.
Trong khi ấy, sắc pháp bao gồm có nội sắc và ngoại sắc. Nội sắc gồm
bốn yếu tố đất nước lửa gió, và ngoại sắc là thế giới tự nhiên. Như
vậy, chúng ta thấy rằng con người và vũ trụ liên quan mật thiết với
nhau. Do bởi, sự tồn tại của con người có liên quan đến vũ trụ và
ngược lại; cho nên sự suy thoái và hoại diệt của thế giới tự nhiên
sẽ tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của đời sống con
người. Những thảm họa về môi sinh do con người trực tiếp hoặc gián
tiếp gây ra như hiện tượng trái đất nóng dần, băng tan ở Nam Cực và
Bắc Cực đă gây ra hậu quả nghiêm trọng. Đó là mực nước biển mỗi ngày
mỗi dâng cao, có thể vùi lấp nhiều vùng đất màu mỡ dưới đáy biển.
Nhiệt độ quả đất đang nóng dần, đe dọa đến sự sống của nhiều loài.
Việc tàn phá rừng một cách ồ ạt đă đưa đến những thiên tai khốc liệt
như bảo tố, lũ lụt, khô hạn, đất lở. Nói chính xác hơn, khi con
người làm tổn hại đến thế giới tự nhiên, cũng có nghĩa là con người
đang xúc phạm đến chính cơ thể của ḿnh, v́ thế giới vật lư này
chính là phần ngoại sắc của con người. Thử quan sát sự ô nhiễm không
khí tại các đất nước đang phát triển và bệnh hô hấp, khí quản mà
nhân dân họ đang đối mặt là một minh chứng rơ ràng cho mối tương
quan này.
Một vài thập kỷ trước đây, khoa học phát minh ra một số chất hóa học
có thể giết chết, triệt tiêu những thực vật, sinh vật mà họ cho là
không có ích cho con người trong một lănh vực nào đó. Khi đem ra ứng
dụng, kết quả của chúng đă thực sự đem đến cái lợi trước mắt cho con
người nên những phát minh ấy được xem như là chân lư; c̣n những chủ
thuyết trước đó được xem như là cổ hủ, lạc hậu. Con người tung hô
khoa học, xem khoa học như là “Thượng Đế”, có thể giải quyết mọi
khát vọng cho con người. Thế nhưng sau một thời gian ứng dụng, chính
các nhà khoa học, cha đẻ của những phát minh này, tự xác định rằng
những phát minh của họ thực sự đang tàn phá và đang là mối hiểm họa
đe dọa sự tồn tại bền vững của hệ sinh thái toàn cầu. Sự hủy diệt
những sinh vật, thực vật mà khoa học xem là có hại cho con người và
môi trường đă tạo nên sự mất cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên, một
yếu tố mang tính duyên sinh mà cho đến nay các nhà khoa học mới nhận
chân được. Do vậy, những nỗ lực bảo vệ các loài sinh vật đang có cơ
nguy diệt chủng đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm.
Như thế, trong ư nghĩa duyên sinh, khi chúng ta đề cập đến sự tồn
tại của một cá nhân, nghĩa là đề cập đến sự tồn tại của cả vũ trụ.
Khi nói chúng ta đang sống, có nghĩa là toàn bộ thế giới đang sống.
Không thể có bất cứ một sinh vật hay thực vật nào có thể tồn tại một
cách độc lập giữa thế giới duyên sinh này. Nói cụ thể hơn, nếu chúng
ta muốn tồn tại, chúng ta phải tôn trọng sự tồn tại của mọi loài.
Nếu không có gia đ́nh, cộng đồng, xă hội th́ làm sao chúng ta sống.
Nếu không có môi trường, không khí th́ con người lấy ǵ mà hít thở…
Vả lại, nếu cuộc sống chỉ có một ḿnh và chỉ sống cho ḿnh th́ c̣n ư
nghĩa ǵ nữa.
Đức Phật - Sứ giả của
ḥa b́nh
Do
vậy, người ta có thể thấy rằng không có cái ǵ gọi là tối ưu, là cực
tốt, là hoàn toàn hữu dụng trong cuộc đời này. Cũng không có cái ǵ
là vô ích, độc hại hay vô giá trị trong thế giới tương quan tương
duyên này. Tất cả sinh vật, động vật, tất cả các sự sống trong hệ
sinh thái này đều có một vai tṛ và ư nghĩa trong sự tồn tại của nó.
Nếu con người nhận thức được như thế, chắc chắn những nỗ lực nhằm
củng cố và bành trướng tự ngă, chủ nghĩa v.v.. hy vọng sẽ lắng dịu
dần. Những tư tưởng làm hại lẫn nhau, triệt tiêu nhau v́ những tà
kiến, tham vọng sai lầm sẽ được kiềm chế và loại trừ.
Rơ
ràng, Nguyên Lư Duyên Sinh đang được con người đương thời, đặc biệt
là giới thượng tầng kiến trúc xă hội đang tận lực để xiển dương.
Nguyên Lư Duyên Sinh đang được người ta nói nhiều trong cuộc sống.
Nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ, lời kêu gọi khắp nơi trên thế giới, thậm
chí ngay cả chủ đề bàn luận của tuần lễ đặc biệt “Lễ Phật Đản Liên
Hiệp Quốc 2008” cũng không nằm ngoài những vấn đề chủ yếu trên.
Nhưng tại sao nhân sinh vẫn đang ch́m sâu trong khủng hoảng. Chiến
tranh, hận thù, phân hóa vẫn đang thiêu rụi sự tồn tại của mọi loài!
Thế giới tự nhiên vẫn đang bị lạm dụng và tàn phá một cách vô ư
thức. Tiếng than của con người mỗi ngày mỗi trầm thống hơn! Giả
thuyết có thể thấy ở đây là sự mâu thuẫn trong nội tại của mỗi cá
nhân, một tế bào của xă hội và toàn bộ thế giới, v́ khi một tế bào
trong cơ thể bị ô nhiễm, bệnh tật, sự tác hại không chỉ là tế bào
ấy, mà toàn bộ cơ thể. Mâu thuẫn này chính là mâu thuẫn giữa “cái
nhận thức và cái muốn (dục vọng)”. Sự thật này đă được đức Phật
tuyên bố trong bài pháp đầu tiên tại Vườn Nai “Nguyên nhân của khổ
chính là ái dục (Tanha)”[9].
Do
vậy, muốn giải quyết tất cả mọi rắc rối của con người, cụ thể là
chính mỗi cá nhân, người ta phải xác định mục đích thiết thực của
việc làm này. Mỗi chúng ta hăy tự hỏi ḿnh “chúng ta có thật sự muốn
t́m giải pháp cho sự khủng hoảng này không?”. “Chúng ta đă thật sự
loại trừ sự mâu thuẫn nội tại hay chưa?” “Chúng ta thật sự đă loại
trừ cái bản ngă tôi là chưa?”, “cái tư tưởng của tôi, tôn giáo của
tôi, hệ phái của tôi, quốc gia của tôi là hay nhất, tốt nhất, đáng
tôn trọng nhất… hay chưa?”. V́ thực tế cho thấy rằng những tư tưởng
này đang vận hành và phân hóa khắp mọi ngơ ngách của đời sống, ngay
cả trong cái thực thể mang màu sắc gọi là “tôn giáo”, “bộ phái”, v.v…
cũng khó tránh được. Rơ ràng, gốc rễ của căn bịnh muôn thuở này có
nguồn gốc từ “cái tôi”, “cái của tôi”, “tự ngă của tôi’. Chừng nào
những câu hỏi này chưa có câu trả lời hợp lư, chừng đó mọi giải pháp
cho một xă hội tương lai tốt đẹp, hạnh phúc, b́nh an đều chỉ là đề
án, chỉ là dự kiến, chỉ là ước mơ và hy vọng.
Nói tóm lại, dường như nhân loại đă h́nh dung được lộ tŕnh- nếu như
không muốn nói là đă t́m ra giải pháp- cho cuộc khủng hoảng hiện
nay. Vấn đề c̣n lại là việc thực hiện con đường này. Nếu con người
thật sự mong muốn thế giới này ḥa b́nh, thịnh vượng và phát triển
bền vững, th́ người ta phải tuân thủ nguyên lư Duyên Sinh- Vô Ngă
của đạo Phật. Nhân loại phải sống vị tha, thay v́ vị kỷ; phải biết
lấy tâm của người làm tâm của ḿnh, lấy cái ước muốn của người làm
cái ước muốn của ḿnh[10]. Quan trọng hơn hết, để đạt được mục đích
này, tất cả chúng ta, cụ thể là những người con Phật phải áp dụng
những giáo lư này vào trong cuộc sống của chúng ta ngay tại đây và
bây giờ. Có như vậy, chúng ta mới có thể tự xem ḿnh là những Phật
tử chân chính, do v́ đức Phật dạy “ Hăy tự làm cho ḿnh, Những điều
ḿnh dạy người. Khéo tự điều, điều người, Khó thay tự điều phục”.[11]
Thích Viên Trí
[1] Kinh Trường Bộ, tập I, Kinh Phạm Vơng, Viện Nghiên Cứu Phật Học
Việt Nam [2] Kinh Tăng Chi Bộ, tập I, VNCPHVN, tr. 338 [3] A.
Toynbee-D.Ikeda, Man Himself Must Choose, Koddansha, I.Lid.
Tokyo-USA, 1976. tr. 288-289 [4] Daisuka Ikeda, Man Himself Must
Choose,tr. 293 [5] Niezche and Philosophy, Ed. Gilles Deleuze, Tr.
Hugh Tomlinson, tr.155-156 [6] Viên Trí, Khái Niệm về Bồ Tát Quán
Thế Âm, NXB Tôn Giáo, 2003, tr. 33 [7] Elbert Einstein, Ideas and
Opinion, Rupa & Co. Calcutta-Bombay-Delhi, India, tr.38 [8] Đại Tạng
Kinh Việt Nam, Trung Bộ Kinh, Kinh Canki, VNCPHVN [9] Đại Tạng Kinh
Việt Nam, Kinh Trung Bộ III, Đế Phân Biệt Tâm Kinh. [10] Thiền Học
Trần Thái Tông, “Dĩ thiên hạ chi dục chi dục, Dĩ thiên hạ chi tâm vi
tâm”. [11] Kinh Pháp Cú, Kệ số 159