|
NHỮNG GIẤC MỘNG CỦA
ĐỨC BÀ
TRƯỚC KHI THAI SANH
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
Tại Tổ Đình Hoà Hảo thuở Đức Bà còn sanh
tiền, tuy tuổi hạc đã cao, nhưng vẫn còn sáng suốt, không lầm lẫn như
những thường nhân. Ngày nọ, nhân bà nhìn những cháu bé mới lẩm đẩm
biết đi, bỗng bà nhớ lại hình ảnh Đức Thầy lúc Ngài còn nhỏ, cảm xúc
trước cảnh đó, Đức Bà kể lại mẫu chuyện sau đây:
Đức Bà nói:
Sau một thời gian về gá nghĩa với Đức
Ông, một hôm bà nằm mộng thấy một dị nhân đến mời bà đi viếng núi.
Trên đường đi cảnh vật thật là đẹp mắt, ngàn hoa khoe sắc thắm, ngào
ngạt gió đưa hương. Mãi mê trước phong cảnh mà ở thế gian này bà chưa
hề nhận thấy, chợt bước đến cuối vồ đá thật cao, nhìn quanh toàn là đá
dựng lởm chởm, bà nghĩ là không thể nào đi lên được nữa, bà dừng chân
lại không biết phải làm sao thì dị nhân mới nói:
-
Tôi sẽ đưa
bà lên viếng cảnh Non Bồng cho biết.
Dị nhân nắm tay bà. Bà cảm thấy thân
hình mình nhẹ bỗng cùng bay vượt lên đến tận đỉnh của non cao. Nơi đây
là một bình nguyên khá rộng, tòng bá xanh um, hoa kiểng lạ mắt mọc
khắp nơi, cảnh đẹp vô cùng, không sao nói hết đặng. Chân bà bước đi có
cảm giác hết sức nhẹ nhàng đến bên gành đá, cạnh đó có một tảng đá như
cẩm thạch, mặt bằng phẳng bóng ngời, trên mặt có để một cái dĩa trắng
chói sáng như thể bằng ngọc, trong đựng một trái đào chín đỏ, toả ngát
mùi thơm. Người dẫn đường liền mời bà dùng trái cây đó. Bà đến bưng
dĩa trái cây, mời trở lại dị nhân thì ông ta khoát tay từ chối:
-
Vật qúy
này là riêng phần của bà được hưởng còn người khác thì không.
Không khí nơi đây thật trong lành mát
dịu. Hương thơm của những loại kỳ hoa dị thảo cùng hương vị đặc biệt
của trái đào mà bà chưa từng nếm qua làm cho tinh thần của bà phấn
chấn chưa hề có. Ôi! Nói sao cho xiết. Đến khi bà vừa dùng xong trái
đào thì người dẫn đường nói tiếp:
-
Như vậy
thì phần của bà đến đây đã xong. Bà vừa ăn trái đào này là để gieo
duyên cùng Phật Pháp.
Nói xong, dị nhân đưa bà xuống núi. Khi
đi qua vồ đá cao bị trợt chân, bà liền tỉnh giấc mộng mà lòng vẫn còn
cảm giác thơ thới nhẹ nhàng. Sau đó không lâu thì bà thọ thai. Thắm
thoắt đến tháng 11 Âm lịch năm 1919, bà lại nằm mộng thêm một lần nữa:
Đang ngủ bà nghe hình như có tiếng gọi ở
ngoài sân nhà. Bà bước ra ngoài thì cảnh vật ở đây không phải là cái
sân nhà mình mà hoàn toàn thay đổi. Khắp nơi cây cỏ tươi tốt và chung
quanh muôn hoa như đang nở rộ đón chào bà, trong đó có một cành hoa lạ
trổ ra mùi thơm ngào ngạt. Đang đứng thưởng thức cái không khí trong
lành, cảnh vật tươi mát đó thì bỗng chốc có một vầng mây trắng kéo
đến, rồi một đám mưa phủ xuống mình bà, những hạt mưa như mù sương ve
vuốt khắp thân thể tạo cho bà một cảm giác sảng khoái như cởi bỏ được
tất cả sự nặng nhọc mà bà đang cưu mang. Kế đến, một vầng mây ngũ sắc
từ trên cao rơi nhẹ xuống phủ quanh mình bà tạo một cảm giác êm dịu cả
tâm hồn lẫn thể xác không sao tả xiết được. Một hồi lâu, vầng mây ấy
tan đi, bà bước trở vào nhà và thức giấc.
Kế đó bà cảm thấy trong người có sự
chuyển động báo cho bà biết sắp đến lúc lâm bồn, bà liền gọi Đức Ông
để báo tin.
Chuyện hạ sanh Đức Thầy cũng rất khác
thường, được Đức Bà thuật lại như sau:
Đức Thầy ra đời được bao trong một cái
bọc, khi ra khỏi mình mẹ thật là trong sạch, không có máu huyết đầm
đìa, hôi tanh dơ bẩn. Cái bọc tự nứt ra một hài nhi với cặp mắt long
lanh nhìn thế gian trầm tư chứ không hề có tiếng khóc.
Đức Bà kể tiếp: Từ lẫm đẫm tuổi biết đi
cho tới tuổi khôn lớn, phẩm hạnh của Thầy nghiêm trang khác thường.
Khi đến tuối cắp sách, đầu tiên học với ông thầy giáo Khoái tại thôn
Hoà Hảo, sau đó Ngài đi thi Tiểu học tại quận Tân Châu, thi xong, Ngài
về nhà, không chịu tiếp tục học thêm nữa.
Ngài vẫn ở chung trong gia đình, sinh
hoạt bình thường như mọi người khác, nhứt là công việc đồng áng,
thường ngày tuy có gần gũi với những người thiếu niên đồng lứa tuổi,
nhưng chưa bao giờ Ngài dự vào những cuộc vui chơi. Điều đặc biệt hơn
nữa là tuy với lứa tuổi còn đang niên thiếu, nhưng người ta thường
thấy Ngài hay ngồi trầm tư dưới những cội cây cao bóng mát trong khu
vườn sau nhà.
Thuở đó Đức Ông làm ruộng ở Kinh Thần
Nông, Ngài cũng theo giúp việc, thường khi trâu bò đến ăn phá, Ngài
chỉ đuổi chúng đi nơi khác, không hề đánh đập những con vật này.
Tuy đang mắc việc ở trại ruộng, nhưng hễ
cứ đến ngày 14, ngày Rằm hoặc 29,30 Âm lịch thì người ta thường thấy
Ngài trở về ở tại nhà. Sự có mặt đều đặn trong nh4ưng ngày nói trên
làm cho hầu hết những người trong nhà cho là chuyện lạ và có ý tò mò;
tuy nhiên nếu có ai hỏi đến đều được Ngài trả lời là bị bệnh nhưng
người ta chưa bao giờ thấy Ngài dùng thuốc men hay có vẻ chi là bệnh
cả.
Lúa gặt xong ngoài đồng người ta phải
gom từ cụm nhỏ lại thành đống lớn, được gọi là chồng mớ lúa, Ngà cũng
làm như mọi người nhưng công việc thì khác thường hơn: Ngài cũng gom
lại từng mớ và xếp ngay hàng thẳng lối, chiều nào cũng ngay thẳng
giống như nhau, mớ nào lớn thì sới qua nhỏ, chia đều nhau, lại còn lấy
tay vỗ vào gốc lúa cho bằng đầu. Thấy chuyện làm lạ thường, ông Út
(bào đệ của Đức Ông) và ông Tám Khâm (cháu gọi Đức Ông bằng cậu) đều
nói:
- Ngày mai thì đã gom vô cà lang mà ở đó
sắp cho ngay hàng, vỗ cho bằng đầu, sớt mớ này qua mớ nọ làm chi?
Có nói chi thì Đức Thầy cũng không trả
lời, vẫn yên lặng làm theo ý của Ngài. Thấy vậy ông Út mới rầy:
-Cứ chồng thí cho mau, ở đó sớt đi sớt
lại, so tới so lui, còn nhắm cho ngay hàng thẳng lối làm gì.
Đức Thầy trả lời:
- Mấy ông làm sao thì làm, còn tôi
làm như vậy đó!
Ông Út nói nhiều lần mà Thầy vẫn làm
theo việc Ngài làm, thấy vậy ông Út phó mặc.
Khi Đức Thầy được 18 tuổi, Đức Ông tính
đến chuyện lập gia thất cho Ngài. Ở tại xã Hưng Nhơn, ông Cả Cẩn có
người con gái cùng tuổi với Đức Thầy, nhan sắc vaàtánh tình thùy mị,
trang nghiêm. Xét về lý đời thì thật tương xứng, vì thế ông Cả Cẩn
muốn kết nghĩa thông gia với Đức Ông. Hai người đã ước hứa với nhau,
Đức Ông hẹn sẽ đưa Thầy đến để trai gái gặp nhau, điều này được tỏ ý
nhiều lần, nhưng lần nào cũng bị Ngài cự tuyệt. Hết cách giải quyết,
Đức Ông đến bàn chuyện với ông Út giúp ông làm cách nào để đưa Thầy
sang nhà ông cả Cẩnđể cho ông giữ đúng lời hứa hẹn. Ông Út vâng theo
lời.
Nhân một hôm Thầy sang chơi nhà ông Út,
ông ngỏ lời nhờ Thầy cùng đi với ông sang nhà ông Cả Cẩn để giúp cho
ông giải quyết việc sổ sách. Đức Thầy trầm ngâm hồi lâu rồi mới lên
tiếng:
- Ông Út cần tiếp việc thì tôi sẽ đi
với ông.
Vài ngày sau hai người cùng đi đến nhà
ông Cả Cẩn. Ông tiếp khách được một lúc thì người con gái bưng nước ra
mời. Trông cử chỉ của chủ, khách và cô con gái ông Cả Cẩn thì Đức Thầy
đã biết rõ câu chuyện. Ngài liền đứng lên nói cùng ông Út:
- Ông nói gạt tôi phải không ông Út?
Nói xong Đức Thầy bước ra cửa đi về.
Ông Út cho biết Đức Thầy có ý phiền nên
sau này cả tháng không qua lại nhà của ông Út. Thời gian sau Đức Ông
lại có lần đề cập đến chuyện hôn nhân nhưng đều bị Đức Thầy từ chối
quyết liệt.
(Vìết theo lời thuật trong băng nhựa
của ông Năm Chơn -tức ông Ngô Ngọc Chơn trước khi Đức Thầy mở đạo
người ta thường gọi là ông đạo Năm- là cháu con người chị thứ Tám của
Đức Ông, nhà ở kế cạnh Tổ Đình).

  [BANTIN]
|