-
Phương pháp chữa bịnh, cứu thế trợ duyên
-
Biến bưng lầy rừng rậm thành đồng ruộng ph́ nhiêu
-
Công tŕnh khai lâm phá thạch
-
Một mối đạo ḥa đồng nhân sinh
Ngày xưa,
phần đất An-giang, kể cả miền Thất Sơn, sáp nhập vào
bản đồ Việt Nam trễ nải sau cùng hết. Năm 1816, Thoại
Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại được vua Gia Long thăng làm
Trấn Thủ trấn Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Long và An Giang
nhập thành) . Năm 1819, Kinh đào Vĩnh Tế nối liền
Châu Đốc qua Hà Tiên mới được khởi công do Thoại Ngọc
Hầu đốc xuất . Bao nhiêu công việc nặng nhọc, dân phu
huy động phục dịch mỗi kỳ trên dưới 30.000 người phải
bịnh hoạn, chết chóc v́ khí hậu, v́ nạn cọp sấu, nhưng
Thoại Ngọc Hầu vẫn cố gắng đốc xuất hoàn thành để làm
biên thùy chiến lược ngăn giặc và đồng thời cũng nhắm
vào việc thiết lập đồn điền trong một vùng rộng lớn
sơn lâm nê địa .
Nguyện vọng
của Thoại Ngọc Hầu đối với vùng An Giang và Thất Sơn
c̣n ghi lại bia đá núi Sam : "Sao cho đồng ruộng
đông đúc vườn nhà cửa, có vườn dâu, vườn gai và khói
bếp trong nhà bay lên đó đây không dứt" . Đó cũng
là nguyện vọng chung của những vùng mới vừa mở mang
khai thác .
Những năm gần
đây, danh từ Dinh điền lại xuất hiện trong ngôn ngữ
b́nh dân . Công cuộc khai hoang cải tiến nông thôn,
tất cả hướng về nông thôn, đang trên đà phát triển
mạnh .
Ngược lên dĩ
văng, vào khoảng năm 1849 đến 1856, nhắc đến công
tŕnh của tiền nhân đă tổ chức khai hoang lập ấp, hẳn
chúng ta cũng không bao giờ quên ghi nhớ công tŕnh và
thầm kính phục Đức Phật Thầy Tây An với công cuộc khai
hoang dựng ấp, lập trại ruộng khắp vùng mà Ngài đă có
cơ hội vân du hóa độ chúng sanh vào con đường đạo hạnh
.
ĐỨC PHẬT THẦY,
MỘT NHÀ TRUYỀN GIÁO BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỊNH
Từ trước đến
nay, hễ nói đến Đức Phật Thầy th́ người ta đều biết
rằng Ngài là một đấng phi phàm, thấu triệt huyền cơ
phổ biến một quan niệm về Phật Giáo vô vi .
Theo Coulet
(trong Bonzes et Societes secretes en Cochinchine,
Extrême-Orient ) th́ cho rằng Ngài phổ biến một
quan niệm mới về Phật Giáo, ngoài các môn phái ở Ấn Độ
truyền sang Việt Nam, từ thế kỷ thứ 3 đến nay; nhưng
t́m hiểu chân xác về pháp môn hành đạo của Ngài th́
Ngài vẫn noi theo giáo pháp vô vi chơn truyền của Đức
Phật Thích Ca, tức nhiên không chú trọng việc thờ
phượng cốt cùng tŕ kinh độc tụng như các nhà thiền
chú trọng về thanh âm sắc tướng .
Tiểu sử của
Ngài đă được các nhà nghiên cứu sưu tầm khá đầy đủ .
Về công việc phổ biến đạo giáo cũng đă được nhiều sách
báo đăng tải . Người dân quê Hậu Giang có tinh thần
mộ đạo Phật xem Ngài như vị Giáo Chủ đă đề ra thuyết
Tận Thế, Hội Long Hoa, lập đời Thượng Nguơn, một vị
lănh đạo Tôn Phái Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Thất Sơn mầu
nhiệm .
Vào mùa thu
năm Kỷ Dậu (1819), bịnh thời khí hoành hành dữ dội
khắp miền Hậu Giang. Cứ theo giảng xưa, Ngài từ Ṭng
Sơn (Cái Tàu Thượng - Sađéc) vào Trà Bư rồi đến vùng
Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang)
. Dân làng mắc bịnh và chết vô số kể, không vị lương
y hay pháp sư nào chữa cho hết . Ngài đến đó trổ tài
dùng nước lă giấy vàng trị bịnh . Không người nào
Ngài chịu chữa trị mà không cứu khỏi . Dân chúng xem
Ngài như một vị cứu tinh có tài cải tử hoàn sanh .
Ngài dời đến cái cốc của ông Kiến để có chỗ thờ Phật,
cho dân chúng dễ bề lễ bái và nhơn đó Ngài mới d́u dắt
họ từ chỗ khâm phục đến chỗ qui y phụng thờ Phật Đạo .
Nghi thức tu
hành thờ phượng khác thường, về cách trần thiết, Ngài
cho thờ một tấm trần điều, thay thế cho h́nh ảnh hay
tượng cốt . Cư sĩ không thế phát, nhưng thu hút tín
đồ đông vô số kể, những người đă từng đau khổ của thời
hậu chiến mà An Giang đă là băi chiến trường chống
giặc Xiêm giặc Miên suốt 70 năm .
Sau đó, v́ bị
phao là gian đạo sĩ toan gây rối loạn, nên nhà cầm
quyền An Giang bấy giờ cho lịnh bắt Ngài . Họ đă t́m
mọi cách thử Ngài, nhưng Ngài đă làm cho họ khâm phục
và dâng sớ lên Triều đ́nh chánh thức nhận Ngài là một
Đại Đức Chân Tu .
Sau khi được
thọ sắc, Ngài đến các phần đất hoang vu phía Tây -
vùng Thất Sơn và Láng Linh - để lập những chùa, những
trại ruộng và luôn luôn vân du khắp tỉnh Châu Đốc -
Long Xuyên .
Nói đến Đức
Phật Thầy, như trên, người người đều liên nghĩ đến tôn
phái Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng ít ai nghĩ rằng Ngài c̣n
là một nhà kinh tế, xă hội, một người cổ xúy phong
trào khai hoang đầu tiên ở vùng Hậu Giang .
ĐỨC PHẬT THẦY
LÀ MỘT NHÀ KINH TẾ XĂ HỘI, MỘT NGƯỜI CỔ XÚY PHONG TRÀO
KHAI HOANG
Theo M.
Labussière (trong Excursions et Reconnaissances
(1) ) và Đại Nam Nhất Thống Chí cùng nhiều
sách luận cứu, Đức Phật Thầy, sau khi rời Kiến Thạnh,
đă đến núi Sam lập một ngôi chùa công, rồi đến Thới
Sơn lập một trại ruộng . Nhận định vùng biên giới,
dân chúng nghèo đói, đất th́ bỏ hoang nhiều, Ngài mới
khuyến khích tín đồ vốn phần đông giỏi về vơ thuật, về
y khoa nên ứng phó có hiệu quả trong vùng sơn lam
chướng khí, cọp sấu hoành hành, dắt dẫn dân chúng phá
rừng khai hoang trồng lúa bắp, dựng lên ấp làng
....Ban ngày th́ lo làm lụng phá cây rừng, đốt cỏ cày
cấy, ban đêm th́ về nhà để đôi giờ nghiền ngẫm suy cứu
lời dạy đạo của Ngài hầu tu tâm dưỡng tánh . Nhưng
địa thế Thất Sơn rất bất lợi cho sự phát triển nông
nghiệp : sườn núi rất ít đất, đă có người Miên canh
tác, chỉ c̣n vùng Láng đất quá thấp, mùa hạn thành sa
mạc nắng cháy khói bốc lên mịt trời như buổi hoàng hôn
Tận thế . Mùa nước nổi, vùng đồng ruộng, nước ngập
mênh mông như biển cả dâng tràn . Đức Phật Thầy đến
Láng Linh lập trại ruộng bằng tre lá . Về cách xếp
đặt thờ phụng vẫn cùng một thể thức như ở Thới Sơn,
đúng theo giáo pháp vô vi của Ngài, nghĩa là tượng
trưng lối thờ Trần Điều .
Điều đáng để
ư, Đức Phật Thầy lại đặt danh hiệu cho trại ruộng nầy
là Bửu Hương Các . Đây là lần đầu tiên Ngài nêu ra
Tôn phái của Ngài cho người đời biết. Từ lâu, mỗi khi
một tín đồ đến xin qui y th́ Ngài phát cho một ḷng
phái trong đó có vỏn vẹn có 4 chữ "Bửu Sơn Kỳ Hương"
. Đặt biệt cái ḷng phái nầy mỗi tín đồ của Ngài đều
giữ kỹ, sống chết ǵ cũng phải giữ cho c̣n, không hề
trao lại cho ai .
Dù công việc
khai hoang ban đầu kết quả không được mấy tươi sáng "Trích
c̣ nghe át la vang, đậu khoai nuôi bữa bắp rang đỡ
ḷng" như cụ Vương Thông, một tín đồ Bửu Sơn Kỳ
Hương đă viết, nhưng theo G. Coulet (2) và Gourou (3)
nhận xét vùng Láng Linh công cuộc khai hoang lần lần
có kết quả tốt đẹp, nhờ giống lúa sạ từ Kompong-Cham
mang đến .
Dân chúng ở
khắp Láng Linh và hữu ngạn Hậu Giang bắt đầu dư giả về
lúa gạo . Nhà cửa bắt đầu dựng lên đông đúc, đúng như
nguyện vọng của Thoại Ngọc Hầu đă mong muốn mà chúng
ta đă thấy bây giờ .
Đó đây khắp
các nơi trong vùng Thất Sơn và tỉnh An Giang thường có
bóng Phật Thầy lui tới . Ngài không nệ gian lao băng
rừng lướt bụi để hoá độ quần sanh trầm luân mê muội,
khuyến khích khai kinh phá rừng cày ruộng .
Giống lúa sạ
thích hợp cho miền Láng Linh, Châu Đốc, lần lượt lan
tràn đến các tỉnh kế cận Long Xuyên, Sađec, Vĩnh Long,
Rạch Giá, Cần Thơ, Kiến Phong ngày nay, há không do
công tŕnh của Đức Phật Thầy và tín đồ của Ngài đă
biết đem gieo rắc từ mùa khai hoang đầu tiên ư ?
TÓM
KẾT
Ngoài danh vị
Giáo Chủ của Tôn phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Đức Phật Thầy
c̣n là nhà kinh tế xă hội, v́ Ngài đă nhận định rằng
Đạo và Đời luôn luôn phải ḥa đồng . Đem Đạo cứu Đời
th́ cũng thiết thực lo nghĩ đến việc phát huy Kinh-tế,
nâng cao mực sống của xă hội. Đối với Ngài, thành
phần cùng cực của xă hội lúc bấy giờ là lớp nông dân
đa số, một lớp người cần được cứu khổ . Mà phương
cách gần gũi và tiện giúp cho nông dân là khai hoang
pháp rừng đốt cỏ, phát triển nông nghiệp và lập nhiều
trại ruộng .
Suy gẫm,
ngoài công đức khai sáng tôn phái Bửu Sơn Kỳ Hương,
Đức Phật Thầy Tây An c̣n là một nhân vật tiền phong cổ
xúy công cuộc khai hoang đất nước Việt Nam, làm cho
miền Hậu Giang ngày nay trở thành cánh đồng ph́ nhiêu,
vựa lúa vô tận của vùng Đông Nam Á .
Ăn trái nhớ
kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn, ấy là t́nh cảm đậm
đà của người Việt Nam muôn thuở. Thế nên mỗi khi về
Hậu Giang, qua ngang Ṭng-sơn với dấu xưa tích cũ hay
lên núi Sam nh́n tấm bia lờ mờ nét rêu thiên cổ, ḷng
khách mộ đạo hành hương không khỏi nao nao hoài niệm
đấng tiền nhân đă dày công tưới giọt mồ hôi xuống cánh
đồng bao la bát ngát cùng gửi niềm tin bất diệt vào
Đạo-giáo muôn đời .
Nguyễn Trung
Nghĩa
CHÚ THÍCH:
(1) N. 4 (anc. N. 6), 1880 Marcel
Ner, Les Musulmans de l'Indochine Extrait du BBFBO
(2) G. Coulet, Bonzes, Pagodes et
Sociétés secrètes en Cochinchine, Extrême Asie,
Juillet 1928
(3) Gourou, l'Utilisation, trang 146
|