|
Nhơn Ngày
Khai Đạo Phật Giáo Ḥa Hảo
Kính Niệm Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ
Và Nhớ Lại
Những Gi Gắn Liền Tôi Với Tinh Thần Phật Giáo Hoà Hảo
Kư giả lăo thành Trần Văn Ân,
bút hiệu Văn Lang

Cụ Trần Văn Ân
Trong Ngày Thượng Thọ 100 Tuổi Tại
Tư Gia, Rennes- Pháp Quốc
Tôi đă bắt đầu viết báo từ năm 1927.
Đến trước đây mấy năm, tôi c̣n viết cho báo bạn ở các nơi.
Mà nay với niên cao tôi không c̣n viết được như trước. Tư
tưởng, ư nghĩ vẫn có, tinh thần c̣n sáng, nhưng rất khó cho
tôi xếp đặt mạch lạc. Cả tuần nay, sáng nào tôi cũng ngồi
trước bàn viết và muốn viết. Rồi lại nghỉ, rồi hẹn qua ngày
sau. Tôi muốn cưỡng lại định luật trời đất, mà tôi không làm
được. Hôm nay, sau một đêm ngủ, có thể hơi ngon, tôi quyết
định viết, ít là vài trang.
Nhớ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, nhớ các đồng chí đă ra đi từ
trước. Nhớ nước và nghĩ việc thế gian. Nhớ bạn Thành Nam và
muốn thừa dịp nhắc chư hữu, chư đạo hữu, chư dồng chí Dân
Xă, không quên công ơn người quá cố đối Đạo Phật Giáo Hoà
Hảo và Đảng Dân Xă.
Vẫn biết kẻ hành thiền không được thương nhớ. Mà tôi là
Thiền sĩ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nên chưa hoàn toàn thoát ly, để
luôn luôn “vô cầu bất chấp thị toàn không”. Có khi tôi c̣n
chấp, c̣n nhớ, c̣n thương. Tôi chưa hẵn thoát ly và chưa
“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.
Tôi đốt hương dâng lên bàn thờ Phật Tổ, lên bàn thờ Quốc Tổ,
rồi hướng về chân dung Đức Huỳnh Giáo Chủ mà bái niệm, để
rồi ngồi viết. Tôi viết:
Cái ǵ làm cho đời chánh trị của tôi dính dấp tới Đức
Thầy?
Cái ǵ làm cho tôi nhớ măi ơn ích của Đức Thầy?
Thông Điệp gởi toàn dân Việt của Đức Thầy và Thông Điệp
gởi nhân loại của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thưa chư hữu, chư đạo hữu, chư
đồng chí Dân Xă,
Hôm nay chúng tôi xin có những hàng dưới đây, viết ra với hy
vọng rằng đồng bào Việt Nam sẽ là một trong tinh thần quang
phục Tổ Quốc và phục hưng nước nhà v́ Lẽ Sống C̣n. Tôi hy
vọng rằng những lời tôi nói sẽ có phần nào đóng góp vào sự
củng cố gia đ́nh t́nh thương dân tộc, xiết chặt t́nh đoàn
kết giữa người ái quốc, người cùng đức tin, với ư chí xây
dựng một nước Việt Nam tự do, độc lập cho đồng bào ta sống
đời đáng sống. Tôi muốn nói nền tảng của mọi kiến trúc sẽ là
T́nh Thương và Đạo Nghĩa và phương pháp cùng phương tiện xây
dựng sẽ là Tân Khoa Học. Cũng nói là Đạo Học hiệp nhất với
Khoa Học.
Tôi chỉ gợi ra đây nguyên tắc chỉ đạo mà thôi, và dành cho
bậc học giả cao thâm công tŕnh khai triển.
Tôi Đă Gặp Đức Thầy HUỲNH
PHÚ SỔ Với Ư Định Nào?
Ở vùng tôi ra đời, đồng bằng Hậu Giang, Châu Đốc, Long
Xuyên, Cần Thơ, Sa Đéc, không đứa trẻ nào thời đầu thế kỷ 20
không nghe nói tới Phật Thầy Tây An, Bửu Sơn Kỳ Hương. Lên
bốn mươi tuổi, sau khi học Tây, học Tàu, tôi vẫn c̣n nhớ,
năm 1942, sau khi bị đưa ra Toà Án Quân Sự Tối Cao Pháp Đ́nh
và bị giam gần một năm ở trại Bà Rá (Biên Hoà), tôi cùng một
người bạn đi Cần Thơ nghe Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ giảng đạo mà
người ta gọi là Phật Giáo Ḥa Hảo, và Đức Thầy được coi như
vị tiên tri hay vị Thánh sống, hay Phật sống.
Thuở học trường Chasseloup, tôi có dịp đọc ba cuốn sách tôi
cho là có giá trị là: Trước Khi Chết (Avant la Mort), Chung
Quanh Cái Chết (Autour de la Mort), và sau Khi Chết (Après
la Mort) mà tác giả là Flammarion. Nay không c̣n nhớ rơ ông
là nhà thiên văn học hay chiêm tinh học. Tôi cố t́m lại
nhưng không có v́ quá xưa. Thường nhựt, tôi để ư nhiều tới
sức người hơn sức trời trong sự thành tựu của mỗi con người.
Tôi rất tin tưởng ở câu: “Tận nhân lực, tri thiên mạng”. Mà
tôi cũng tin tưởng và tôn trọng cái thiêng liêng mà tôi
không biết, không hiểu, không thể suy diễn, cái mà nhà Phật
gọi là “Bất khả tư ngh́”.
Tôi nhớ lúc nọ Đức Thầy ở rạch Sua Đủa, tôi tới để kính nh́n
Đức Thầy chớ không nghĩ xin bùa phép. Tôi thích nghe giảng.
Bạn tôi ắt không nghĩ như tôi. Tôi nhớ có làm một bài thơ
tám câu dâng lên Đức Thầy và có được Đức Thầy trả lời. Đến
nay, tôi không c̣n nhớ bài nào cả. Chỗ tôi để tâm, mà không
hề nói ra, là xem coi sắc tướng và linh quang của Đức Thầy
có phi phàm không, lời nói của Đức Thầy có gần dân tộc
không, và nhất là coi thần điện của chính tôi có được linh
điện của Đức Thầy cho hội nhập không? Nh́n được Đức Thầy và
được Đức Thầy nh́n trả lại, nghe Đức Thầy nói, tôi măn
nguyện. Từ đó tôi tin tưởng là sẽ có dịp nghe Đức Thầy dạy
và hầu chuyện với Đức Thầy. Tôi nghĩ tôi sẽ có duyên lành
được Đức Thầy gia hộ. Nếu Đức Thầy chỉ nói chuyện huyền bí,
chuyện trên trời, ắt là tôi không có trở lại bái kiến Ngài.
Đức Thầy nói chuyện đau khổ của con người nói chung. Đức
Thầy dạy nếp sống đạm bạc và cách trị bệnh tự nhiên, đơn
giản, tôi tin ngay Đức Thầy là hiện thân của Đức Phật Thầy
Tây An khi biết rơ Ngài sống như Đức Phật, khiêm tốn, đạo
đức, và chỉ giữ nhu cầu tối thiểu cho thể xác.
Trên đường về, tôi nói với bạn: Chắc là tôi phải trở lại hầu
Đức Thầy khi nào có dịp.
Tháng ngày qua … Lúc Đức Thầy bị Pháp bắt buộc ở nhà thương
Chợ Quán, có nhiều bạn và nhiều người đồng hương (Thốt Nốt)
gọi tôi đi thăm Đức Thầy. Tôi nói không ích, chỉ có hại cho
Đức Thầy v́ tôi có ít nhiều thành tích chánh trị, lại mang
danh người làm cách mạng ái quốc.
Những Đề
Nghị Của Tôi Đều Được Đức Thầy Vui Ḷng Chấp Nhận.
Thời cuộc năm 1942, 1943 rất sôi động. Khắp nơi đồng bào ta,
các phần tử ái quốc, đều nô nức muốn làm một cái ǵ đó cho
đất nước. Ra trại Bà Rá, tôi muốn ở ẩn tỉnh nhà không muốn
hoạt động. Mặc dù tôi biết chắc là Nhựt quân chung quy sẽ
bại trận, tôi cũng cố tránh. Nhưng rồi không tránh khỏi cũng
v́ cái bản buộc tội Trần Văn Ân (Chef d’accusation) của Toà
Án Quân Sự Tối Cao Pháp. Người lục ra cái án ấy chính là ông
Nguyễn Vĩnh Thạnh, mang lon Trung Úy Quân đôi Nhựt, tên là
Nagata. Thế rồi tôi bị lôi cuốn vào thời cuộc và lâm vào
cảnh làm Tổng Thư Kư Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội của cụ
Cường Để, là người tôi rất kính phục, sau khi đọc qua các
lời kêu gọi phục quốc của Ngài (với ḷng v́ Tổ Quốc hơn là
v́ nhà Nguyễn). Đến gần tháng 10 năm 1943, Trần Văn Ân bị
mật thám Pháp mưu hại đủ cách, Bộ Tham Mưu Nhựt và cả Hiến
Binh biết rơ tin ấy, đồng ư đưa Ân ra khỏi nưóc và cho đem
theo một người bạn. Thế rồi tôi bị Nhựt quân đưa ra khỏi
nước không biết đi đâu. Chỉ tới Chiêu Nam mới biết ḿnh tới
Singapore. (Chiêu Nam là tên mới của Nhựt đặt. Bài này không
nói về vấn đề đi Singapore. Ở hai năm tại Chiêu Nam với hai
cụ Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc và ông Đặng Văn Kư -cụ Trần
Trọng Kim có nói sơ qua trong cuốn “Một Cơn Gío Bụi”).
Tôi nói rằng những đề nghị của tôi đều được Đức Thầy chấp
nhận và có những điều Ngài đă làm y lời. Nói cách khác h́nh
như linh điện của Ngài giúp tôi nghĩ ra những điều mà lùi
trong thời gian tôi xét là đúng đắn. Ít ai nghĩ tới vấn đề
kháng chiến chống Pháp sau khi Nhựt bại trận. Trước khi bị
đưa ra khỏi nước, tôi tới hầu Đức Thầy ở căn nhà đựng
Lefebvre, sau Sở Hiến Binh Nhựt. Nhơn tiện tôi xin Đức Thầy
nên nghĩ tới và nên giúp ngầm ông Trần Quang Vinh, chức sắc
Cao Đài, thành lập Binh đội Heiho bên quân đội Nhựt và được
Nhựt huấn luyện. Có bộ đội Heiho Việt th́ khi muốn đảo chánh
Pháp, Nhựt sẽ dễ bề cử động, v́ lúc đó Nhựt sẽ thiếu binh.
Mục dích là không để cho Pháp giữ thế thượng phong của người
cầm quyền thống trị, có đủ phương tiện trong tay, như có phi
cơ dội bom chẳng hạn, có thế th́ kháng chiến Việt Nam mới có
cơ thành công. Đức Thầy đồng ư và nhận lời đề nghị của tôi
sẽ giữ thái độ “không thân Nhựt, không chống Nhựt” và sẽ dấn
thân vào một tổ chức giành độc lập quốc gia. Đức Thầy chấp
nhận và đă làm y lời. Ông Trần Quang Vinh làm tướng lănh đạo
bột đội Heiho Việt Nam. Quả t́nh bộ đội này được trọng dụng
khi Nhựt đảo chánh Pháp vào ngày 09 tháng 03 năm 1945.
Trước khi ra đi tôi ân cần dặn ḍ bạn Trần Quang Vinh, khi
tiếp tay Nhựt đảo chánh Pháp nên lưu nhân t́nh với Pháp là
không giết, bởi v́ trên chánh trường không ai thù nhau măi
và cũng không ai bạn nhau hoài. Ông Vinh đă làm đúng lời, ở
Nam Việt người Pháp không có bị hại. Về sau, trong chánh phủ
Bảo Đại, ông Vinh có lần đảm trách Bộ trưởng Quốc Pḥng.
Dấn thân trong một tổ chức mang danh cách mạng là lấy thế
đứng trong công cuộc giành độc lập. Đức Thầy hiểu ư nên khi
Việt Minh ra đời, Đức Thầy là một trong số những người lănh
đạo trong Nam. Ngày 31 tháng 05 năm 1945, từ Singapore tôi
về tới Sàig̣n. Ngày 02 tháng 06 tôi về Thốt Nốt bái mộ vợ,
măn phần trong những ngày đầu tháng 05 (Mai). Tới ngày 05
hay 06 tháng 6, Đức Thầy nhờ Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Linh
và Nguyễn Thạnh Cường (tôi nhớ hầu như Trương Đ́nh Dzu cùng
đi) tới Thốt Nốt gọi tôi lên SàiG̣n lập tức. Thấy Trần Văn
Thạch là tôi hiểu ngay ư Đức Thầy và nhớ có bàn tới những
anh em nào ra mặt v́ thế chúng tôi đă mang tai tiếng gần
Nhựt. Lúc nọ tôi đề nghị anh em Đệ Tứ Quốc Tế, Thâu, Thạch,
Hùm, Chánh mà tôi cho là người chân thật, ngay thẳng và được
đa số quần chúng ủng hộ. Nên đi với Đệ Tứ v́ họ không bị cơ
quan quốc tế nào chỉ huy, trong khi đó các lănh tụ Đệ Tam
Quốc Tế hoàn toàn chịu mạng lịnh Moscou. Thế rồi tôi tức tốc
trở lên SàiG̣n hội ngộ Đức Thầy tại đường Miche với các đại
diện nhiều đoàn thể khác.
Cái Ǵ Làm Tôi Dính Liền Chủ
Trương của Đức Thầy?
(Hay nói cách khác, Cái ǵ làm tôi không xa Đức Thầy trong
tinh thần và trong tư tưởng chánh trị?)
Thưa, cái đó là Tứ Ân Hiếu Nghĩa đă có từ thời Bửu Sơn Kỳ
Hương. Tôi từng nói với bạn: Cái ǵ ở trên Trời th́ tôi xin
không nghĩ tới, v́ có Thần, Thánh, Tiên, Phật lo. Tôi lo
nghĩ tới đời sống của đồng bào, tương lai đất nước và việc
thế gian. Tôi thích Phật Giáo Tứ Ân, tôi thích nghe nói Hiếu
Nghĩa. Tôi nghĩ rằng tôi sống với cha mẹ và gia đ́nh, với
đồng bào và đất nước tôi trước hết, cho nên chịu nghe nói
tới Tứ Ân và biết ơn đồng bào ḿnh là có biết ơn các dân tộc
khác, biết ơn cả nhân loại.
Tức nói biết có quốc gia ḿnh tất phải nghĩ Đại Đồng.
Do đó tinh thần dân tộc, hay lập trường dân tộc của tôi nằm
trong tinh thần Đại Đồng hay Quốc Tế. Cũng do đó mà tôi
thích đọc câu “Bất độc tử kỳ tử, bất độc thân kỳ thân” trong
học thuyết Đại Đồng của Khổng Tử.
Tôi măi nghĩ Đức Thầy là vị kế nghiệp của Đức Phật Thầy Tây
An, có sứ mạng hoằng dương Phật Giáo Tứ Ân. Cho nên thông
điệp của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ xuất xứ từ thông điệp của Đức
Phật Thầy Tây An. Tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo nên coi đó là
Thông Điệp gởi hậu thế mà ta có thể thu gọn trong những câu:
Sống không hổ kiếp anh hào
Không ham tiền bạc sang giàu cá nhân
Thân chiến sĩ v́ dân v́ nước
V́ tự do hạnh phúc đồng bào
(Trích Tế Chiến Sĩ Trận Vong Vườn Thơm 01/01/1946)
Kư giả tôi cũng xin nhắc đến Thông Điệp muôn đời của Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni: ĐẠI HÙNG - ĐẠI LỰC - ĐẠI TỪ BI.
Lăo kư giả Trần Văn Ân
cẩn khải.
(Trích) |