Một bản sao
khác của bản khắc gỗ tương tự hiện c̣n ở London School of
Oriental Studies,4
và
nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện
được rà soát lại các ghi chép của Max Müller.
Về các ghi chú,
tôi đă dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp
theo thứ tự niên đại:
Hai nguồn tư
liệu xưa nhất là bản dịch tiếng Hán của ngài
Cưu-ma-la-thập,5
và
Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.6
Dù
tính chất cổ điển của nó. Bản dịch của Cưu-ma-la-thập đă
hé mở chút ánh sáng vào vấn đề nhận định về bản kinh. Đây
một phần v́ bản dịch ấy không xuất phát trực tiếp từ một
bản gốc bằng tiếng Sanskrit, và phần lớn v́ nó có ít liên
quan với bản gốc hơn là bản dịch tiếng Tây Tạng sau này.
Phần lớn sự
chệch hướng từ bản văn của Max Müller được ghi chú bởi De
Harlez,7
tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng vào thời đại của Max
Müller, cách đây 60 năm, thuật ngữ Phật học luôn luôn chưa
được hiểu một cách dễ dàng như trong một số trường hợp,
nơi mà chúng được thoát thai từ một nguồn khác sớm hơn,
chúng đă biểu lộ một t́nh trạng sớm hơn của kinh văn (như
trong các đoạn 3, 13e, 14a, 17d và 31).
Ở
trong một thời điểm nào đó mà ta không biết chắc, như khi
Cưu-ma-la-thập dịch ở đoạn 17e, đă dùng thuật ngữ
amahākāyaḥ8
thay v́ akāyaḥ.
Đoạn 25, đă dùng abālapṛthagjanā
(phàm phu) thay v́ ajanā (ngu si, vô trí), hoặc là nhan đề
kinh ở đoạn 13a đă ghi là vajraprajñāparamitā thay v́ ghi
đơn giản là prajñāparamitā.9
Trong đoạn 10c, ông diễn giải apratiṣṭhitaṃ
cittam là phát khởi tín tâm thanh tịnh – sanh tịnh tín
tâm,10
chúng ta hầu như thích nghi với một trong những cách chú
giải nầy bên cạnh cách ngài Cưu-ma-la-thập theo thói quen
giải thích rơ khi ngài đọc lời dịch ra.11
Ở
đây ngài lưu ư người đang tiếp nhận giáo lư Bát-nhă
ba-la-mật-đa của ḿnh về prabhāsvara-citta (hàng phục
tâm).12
Có nhiều sự khác biệt về ngôn từ, sự giản lược và bỏ sót
rất có thể do phương pháp phiên dịch của Cưu-ma-la-thập
gây ra hơn là do sự phân kỳ của bản gốc kinh văn từ tiếng
Sanskrit. Đưa ra một trường hợp sau cùng, bài kệ trong
đoạn 32a như sau:
Tất cả các pháp hữu vi
Đều giống như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đèn, như
huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng,
như ánh chớp, như đám mây.
Chúng nên được quán chiếu như vậy.
13
Có lẽ đơn giản là do vận luật nghiêm ngặt của thi ca Trung
Hoa mà các pháp hữu vi trong bài kệ nầy chỉ nêu có 6 ví
dụ,14
thay v́ 9 khi so sánh. Do vậy tôi đă chú thích bản dịch
của Cưu-ma-la-thập trong chỉ vài trường hợp, khi bản dịch
của ngài dường như có một điểm hiển nhiên là rất khác với
bản gốc Sanskrit.
Kế đến là hai thủ bản cổ xưa. Bản thứ nhất là vào khoảng
500 năm STL.. từ miền Đông Turkestan đă được Pargiter biên
tập15.
Không may là bản nầy không đầy đủ. Trong đó có ba đoạn
kinh bị mất, –khổ 1 (folio), từ đầu kinh cho đến giữa đoạn
2. Khổ 3-5, phần chính văn từ đoạn 4 đến đoạn 10; cũng như
khổ 12, tương đương với đoạn 16c đến 17b. Thêm vào đó,
nhiều chữ trong phần c̣n lại không thể đọc được. Thủ bản
nầy khác với bản của Max Müller chủ yếu là sự bỏ qua những
thuật ngữ rập khuôn và loại bỏ những chỗ lặp lại. Thỉnh
thoảng bản kinh lại duy tŕ h́nh thái ngôn ngữ Prakritie16
cổ mà người sao chép sau này đă làm theo đúng thể thức.
Bất luận nơi nào trong thủ bản sau này, khi chép câu
bodhisattvo mahāsattvaḥ
đều chỉ ghi bodhisattva, (ngoại trừ trong đoạn 32a). Tôi
đă ghi chú chỉ riêng điều này trong khổ thứ hai ấn bản này
của Max Müller. Trong phần đối chiếu của tôi về thủ bản
này và các bản tiếp theo, tôi thường bỏ qua những khác
biệt nhỏ nhặt về cách viết, v.v.. Luôn luôn có những
nguyên bản để đáp ứng điều này.
Thủ bản Gilgit Manuscript,17
từ thế kỷ thứ 5 hoặc 6 là những nguồn tư liệu giá trị sớm
nhất về những phần của bản kinh mà nó chứa đựng, có nghĩa
là về đoạn 13c đến giữa đoạn 14e, và về đoạn 15b cho đến
32b. Trong 12 khổ (folio), có 7 khổ c̣n được lưu trữ, có
nghĩa là khổ 5, và khổ 7 đến 12. Thủ bản này thậm chí hiếm
có những lập lại không cần thiết hơn thủ bản của Pargiter,
nhưng trong đó, tiến tŕnh Phạn hóa (sanskritization) đă
đi xa hơn.
Đến chừng năm 600, chúng ta có một tư liệu quan trọng, đó
là bản dịch tiếng Hán của ngài Cấp-đa (Dharmagupta),18
vốn mô phỏng lại bản gốc Sanskrit ở Trung Hoa với sự tin
cậy xác thực hơn. Với sự hỗ trợ của bản dịch này, và của
những tư liệu khác được liệt kê ở đây, khiến chúng ta có
thể tái cấu trúc với một mức độ cao về tính chính xác của
bản gốc Sanskrit như khi nó đang lưu hành vào thời ấy. V́
điều này không phải là mục đích của tập sách này, nên chưa
cần phải đề cập đến bản dịch của ngài Cấp-đa (Dharmagupta)
ở đây.
Tiếp đến chúng ta có thể đề cập đến ấn bản Khotanese19.
Không rơ niên đại chính xác, có lẽ khoảng giữa thế kỷ thứ
8-10,20
ấn bản này ngắn hơn bản Sanskrit nhiều. Nó thiếu mất một
số đoạn, như 13c, lSb, 16c, 17d (phần lớn), l8b-25, 27,
28, 30a, 30b (ngoại trừ 3 câu sau cùng). Đoạn 6 và 7 cho
thấy một vài sự khác biệt với bản Sanskrit, trong đoạn 9
và 32a là những ǵ dường như được các nhà luận giải thêm
vào.
Bản kinh gốc mà bản dịch tiếng Tây Tạng sử dụng,21
được xác định niên đại vào khoảng năm 800 stl. là có căn
cứ, vốn hoàn toàn khác với sự quen thuộc của bản gốc
Sanskrit mà chúng ta đang có. Chúng ta đă xem nó tương
đương như bản chép tay tiếng Sanskrit vào thế kỷ thứ 8, và
đă ghi chú toàn bộ những điểm lệch lạc quan trọng ở cước
chú. Có một khuynh hướng rơ rệt để viết tắt các câu rập
khuôn; và đối với tôi, dường như các bản này, với độ dài
hiện có chỉ là do công sức sao chép bản thảo qua hằng thế
kỷ.
Như trong một bản in clichés, chữ “đời sau”22,
hoặc chữ “sẽ được chư Phật thấy biết.”23
đều bị lược bớt. Sẽ có phần khích lệ khi suy luận rằng các
đoạn kinh văn tiếng Sanskrit trong bản văn của chúng ta mà
bản dịch tiếng Tây Tạng bỏ sót, đă được bổ sung vào sau
năm 800. Đây không phải trường hợp luôn luôn được tŕnh
bày theo cách bản Tây Tạng cũng như bản của Gilgit bỏ sót
ba ḍng ở đầu đoạn 18b, dường như chắc chắn là quá rườm
rà. Tuy nhiên, nó đă có trong bản của Cưu-ma-la-thập rồi.
Có lẽ rằng, như các bản kinh trong hệ Bát-nhă khác, cũng
là Vajracchedikā được lưu hành trong các ấn bản đă được
duyệt lại khác nhau, vốn đồng ư với nhau trong mọi yếu
tính, nhưng khác nhau trong những chi tiết nhỏ. Tuy nhiên,
phần lớn những tư liệu để nghiên cứu về các ấn bản đă được
duyệt lại có thể dùng làm căn cứ hiện nay th́ đă bị tiêu
trầm.
Điều cần phải nói về bản khắc gỗ song ngữ (bilingual
blockprint),24
là nó khác với bản trong tạng Cam-châu-nhĩ
25
một vài chi tiết về sự phân đoạn (như đoạn 28), và bản ấy
thường không tương đương với bản Sanskrit của chính nó
(như đoạn 32a).
Thông thường,
theo Max Müller, dịch Vajracchedika Sūtra thành Kinh Kim
Cang. Không có lư do nào để bỏ đi cách dùng thông dụng
này. Nhưng, nói một cách nghiêm túc, càng không chắc chắn
có thể xảy ra hơn khi ở đây, người Phật tử có thể hiểu
vajra như là chất liệu mà chúng ta gọi là Kim cang –
diamond. Thuật ngữ rất quen thuộc trong nhiều kinh điển
Phật giáo, gồm cả Đại phẩm Bát-nhă ba-la-mật-đa (Large
Prajñaparamita Sutras.33
Mọi nơi, kinh đều nói đến ‘tiếng sét’ mầu nhiệm, và biểu
thị cho sức mạnh không thể kháng cự lại được, cả ư nghĩa
thụ động và chủ động. Do vậy, nên đề kinh có nghĩa là,
‘trí huệ viên măn chặt đứt (các thứ) như sấm chẻ,’ hoặc ít
chắc chắn hơn, ‘trí huệ có thể chặt đứt cả sấm sét.’
Với ư tưởng
chúng ta có thể so sánh Mātṛccheta,
người ví lời nói của Thế Tôn như mặt trời, thường liên tục
xua tan bóng tối ngu si, vô trí (ajñāna), và so sánh với
vũ khí của Đế thích (Śakra), chày Kim cang (vajra) chẻ đôi
núi kiêu mạn.34
Ẩn
dụ ‘chặt đứt’ c̣n t́m thấy diễn đạt bằng h́nh ảnh đôi khi
dùng để biểu hiện Bát-nhă ba-la-mật-đa35
Và thường xuyên
là qua Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, mô phỏng h́nh tướng
nam giới với một thanh kiếm. Trong định nghĩa của
Dhammasangani,36
Bát-nhă (paññā) vốn được gọi là ‘gươm’,
v́ theo chú giải của ngài Phật Âm (Buddhaghosa),37
nó
cắt đứt phiền năo. C̣n có thể nói rằng nó cắt đứt bóng tối
vô minh, và trong vài h́nh tượng
của Văn-thù-sư-lợi, đầu lưỡi của thanh gươm
là một ngọn lửa.
Kinh Kim Cang
(Vajracchedikā) là một trong khoảng 40 bản kinh đă tạo nên
văn hệ Bát-nhă ba-la-mật-đa. Ḷng nhiệt thành xiển dương
kinh hệ Bát-nhă vào đầu kỷ nguyên Tây lịch đă có kết quả
bằng
những tác phẩm có độ dài, khó sử dụng, và sự sắp xếp lộn
xộn như
vậy, có nghĩa là, như
tôi có tŕnh
bày qua một bài viết trong tác phẩm East and West,38
niềm tin đặt vào đó đă vững chắc để thích ứng với các bản
kinh. Văn hệ mới này đối diện với một nhu cầu về t́nh
trạng canh tân trong việc biên soạn, giữa năm 300 đến năm
500 STL.., một mặt là một số tóm lược
bằng thể thơ
(trùng
tụng–versified summaries), như
Abhi-samayālaṅkāra,
và mặt khác, một số các bản kinh ngắn khác có tính chất
triết học. Nổi tiếng nhất trong số này là Kinh Kim Cang
(Vajracchedikā), vốn đă có được danh tiếng tuyệt đỉnh
trong các quốc gia Đại thừa Phật giáo. Quả thực, Kinh Kim
Cang là một trong các bản kinh sâu mầu, vi diệu và có ảnh
hưởng nhất trong số các kinh điển Đại thừa. Ngữ cú
(phraseology ) và văn phong của kinh hệ Bát-nhă mà nó đă
tiên phong, và trong ít nhất 8 trường hợp nó đă hàm chứa
sự hồi tưởng
đến Aṣṭasāhasrikā.39
Được sắp đặt như
là cuộc đối
thoại giữa Tu-bồ-đề và Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, bản kinh
cô đọng chỉ trong vài đề tài. Như
trong Đại phẩm
Bát-nhă, có nhiều không gian được dành để nhấn mạnh đến
công đức của việc truyền bá và biên chép, lưu
hành kinh. Những đoạn ít có tính truyền giáo này, gây sự
nhàm chán như
vốn có, có thể
đă có nhiều vấn đề để thực hiện đối với sự thành tựu và
tồn tại của kinh.
Vấn
đề c̣n lại là liên quan đến siêu h́nh. Hàng đệ tử Thanh
văn và Duyên giác (Disciples and Pratyekabuddha), vốn rất
được chú ư trong kinh văn Nguyên thủy, nay đă giảm bớt sức
chú ư, và chẳng có sự nhắc nhở đến họ. Giáo pháp trong
kinh đă được diễn đạt một cách khúc chiết, thẳng tắt và cô
đọng.
Ư TƯỞNG NỀN
TẢNG
Nội dung bản
kinh có thể được tóm tắt theo 5 đề mục:
I. Con người
không nên bám chặt khái niệm về một “cái ta (bản ngă),
chúng sinh, thọ mạng, người (nhân).”40
Theo cách tôi hiểu, bốn từ khóa thường lặp lại này nên
được hiểu như
sau:
(1) Ngă
(atman): tưởng
có một ṿng tṛn trung tâm mà mọi thứ thuộc về ḿnh được
sắp đặt trong đó, một phần của chính ḿnh có liên quan với
điều mà ta nói, “Đây là cái của ta. Ta là cái này. Đây là
chính tôi.”
(2) Chúng sinh
(sattva), là một cá thể riêng biệt, vốn cách biệt hẳn với
những ǵ như
thể là ở bên
trong ḿnh với những ǵ như
thể là đang ở
bên ngoài.
(3) Thọ mạng
(jīva): là cội nguồn thống nhất của sinh mạng cá nhân. Như
psyche (thể
chất) hoặc anima chính là lực truyền động và hợp nhất
trong mỗi cơ
phận, nhưng
nó chỉ kéo dài tuổi thọ một đời người, từ khi thụ thai cho
đến khi chết.
4) Người (nhân,
s: pudgala): Là một chúng sinh được nh́n từ bên ngoài, như
là một thực thể
xă hội.
Ở đây chúng ta
xem xét phần đă đóng vai tṛ trong các bối cảnh khác nhau,
sự tự ư thức về chính ḿnh (self-identification) có kết
quả từ mối tương
quan bất biến về vai tṛ con người trong mỗi hoàn cảnh.41
II. Con người không nên xem một (pháp), hay một thực thể
riêng biệt, hiện hữu bất kỳ nơi
đâu, v́ nó là không.
III. Các pháp đều không có tự tính.
IV. Chúng ta không nên kiến lập nhận thức riêng của ḿnh
trong mọi nơi.
V. Đức Phật và tánh giác ngộ của ngài là vô cùng siêu
việt.
Với giáo lư nguyên thủy về vô ngă (anattā) ngay từ điểm
khởi đầu, như vậy kinh đă phát triển hệ quả của cái thấy
các pháp và không có tự ngă (void of self). Mặc dù thuật
ngữ ‘không–empty’ dù không chỉ được đề cập một lần, tuy
nhiên, giáo lư về tánh không (śūnyatā; emptiness) là chủ
đề chính ở đây, và nó được thiết lập trên nền tảng của bản
thể học (ontological), tâm lư học (psychological) và luận
lư học (logical).
Về mặt bản thể học, tính vô ngă của các pháp có nghĩa là
chẳng phải pháp (no dharma), (như trong đề mục II vừa nêu
trên). Ngay cả tột đỉnh của những phân tích Phật học cũng
không tồn tại trong chính nó, cả giáo lư chứa đựng sự phân
tích ấy cũng không.
Về mặt tâm lư học, chúng ta được thôi thúc (như trong đề
mục IV vừa nêu trên), phải “phát khởi tâm niệm” không chấp
cứng, không vướng mắc, với bất cứ nơi nào, hoặc không đứng
ở một quan điểm nào (đoạn 10, và đoạn 4), hoặc không tùy
thuộc vào một điều ǵ.
Về mặt Luận lư học, kinh dạy rằng, (như trong đề mục III
vừa nêu trên), rằng mỗi khái niệm chính trong đạo Phật đều
tương ứng với một khái niệm tương phản với chính nó.
Một định thức đặc biệt ở đây được vận dụng để diễn đạt tư
tưởng này, có nghĩa là, “Công
đức lớn, Như Lai thuyết dạy chẳng phải là công đức lớn.
Trong ư nghĩa đó nên Như Lai mới nói đó chính công đức
lớn.”
(đoạn 19, đoạn 8) tương tự như cùng một định thức, đă được
dùng cho ư niệm chúng sinh các đoạn (14f, 17f, 21b), các
tướng của Như Lai (5, 13d, 20b, 26a), Phật pháp42
(8; cf. 17e), Bốn quả vị A-la-hán (9a-d), Phật độ43
(l0b, 17g), nhân tướng
(l0c), vi trần
(13c), chân thật tưởng (14a), nhẫn nhục ba-la-mật-đa
(14d), chúng sinh tưởng (14f), mang thân to lớn (l7e), tâm
lưu chú–trends of thought (18b), thân Như Lai viên măn
(20a), sự thuyết pháp (21a), thiện pháp (23), chấp ngă
(25), phàm phu (25), Như Lai (29), vi trần chúng (30a),
thế giới (30b), nhất hợp chấp44–
(30b), ngă kiến (31a) và pháp tưởng (3lb).
Trong mối quan
hệ này, cách dùng rơ nét của thuật ngữ tenocyate, vốn chủ
yếu xuất hiện trong phần sau này, chính là khía cạnh đặc
biệt của bản kinh. Ở đây tena có nghĩa là do vậy–
therefore, hoặc với ư nghĩa là ‘đó là lư do tại sao– that
is why’, hoặc ‘v́ lư do đó– for that reason’,45
hoặc là với ư nghĩa ‘đó là cách,’ ‘theo cách đó’. Thủ bản
của Pargiter đă dùng thuật ngữ tad trong vị trí đó. Cụm từ
này là một thành phần chung của các định nghĩa và luận
chứng Phật học, trong kinh điển của các tông phái46
và
nó biểu thị một mối tương quan luận lư vốn là đáng tin cậy
và có thể được tán đồng. Trong bản kinh này, tuy vậy, lại
thường biểu hiện một nghịch lư, bỏ lửng, và phi lư liên
quan giữa tiền đề và đoạn sau.
Nó làm nổi bật
một cách giàu trí tưởng tượng vốn hiện hữu giữa chân lư ẩn
mật và chỉ là lời nói, giữa thực thể như nó đang là, và
ngôn từ mà nó biểu hiện. Điều này hoàn toàn theo kịp với
cách dùng của thuật ngữ tasmad trong Bát-nhă Tâm kinh (Hṛdaya).
V́, trong đó chúng ta được dạy rằng, tánh không (śūnyatā)
là tương đương với các uẩn (skandhas), do vậy, chúng ta
được bảo rằng, nghịch lư chính là chân thực, có nghĩa là
các uẩn hoàn toàn rỗng lặng ở trong tánh không (śūnyatā).
Qua sự phá hủy nguyên lư mâu thuẫn,47
tính Luận lư của Bát-nhă ba-la-mật-đa khắc hẳn với phép
Luận lư học của Aristotle ít nhất trong một điểm căn bản.
Điểm thứ hai của sự khác nhau chúng ta sẽ được tiếp cận
sau.
VIỆC PHIÊN DịCH
Việc phiên dịch
theo như nghĩa đen mà tôi có thể làm được, với mức độ giảm
trừ ngay cả các cú pháp Sanskrit bất kỳ chỗ nào có thể làm
được. Trải qua nhiều năm nó đă được lưu hành bằng dạng
đánh máy, và thường gặp phải hai sự chỉ trích, một là phản
đối thuật ngữ dharma đă được chừa lại, không phiên dịch, ư
kiến kia là thuật ngữ apratiṣṭhita48
lại được dịch là unsupported.49
Trong trường hợp thứ nhất, dường như tôi đă tránh né trách
nhiệm của một người phiên dịch, trong trường hợp thứ hai
tôi chọn một thuật ngữ hơi thô, có nghĩa là hầu như chẳng
có vấn đề ǵ đối với người mới, quả thật phải lúng túng
khi lần đầu tiên gặp phải một câu như
‘unsupported he
gives a gift.’
Bây giờ với
thuật ngữ ‘dharma’ có thể ở bất kỳ đoạn nào, rất dễ dàng
để dịch thành ‘pháp’ với ư nghĩa là đối tượng của thức thứ
sáu, có nghĩa là của ư (mind), và do vậy, nên tôi đă dịch
là mind-objects hoặc là objects of mind, ở trong các đoạn
4, 9a, l0c, 14e. Nhưng
cách dùng của từ ‘dharma’ ở mọi chỗ khác có trong bản kinh
này, với sự thận trọng do nó mang nhiều ư nghĩa, thường là
ba, có khi là bốn; các nghĩa ấy là:
Trước hết, nó
biểu thị một thực tại tuyệt đối (ultimate reality) như
là một sự thực,
đó là Pháp (the Dharma). Tiếp đến, sự nhận thức và giáo
pháp của Đức Phật về thực tại đó, Pháp như
là ‘giáo
lư–doctrine.’ Từ ghép Sad-dharma (Diệu pháp)50
có
nghĩa chính là điểm này, và do vậy, tôi đă dịch là ‘good
doctrine’ ở các đoạn 6, 14b, 16b, 21b. Nhưng
hầu như
toàn bộ các trường hợp nó cũng gần với nghĩa ‘pháp – a
dharma,’ có nghĩa là một sự kiện được xem như
là thực tại
tuyệt đối, như
được hiểu theo
giáo lư A-tỳ-đạt-ma, mà ở đây tôi phải giả dụ là như
vậy. Và sau
cùng, thuật ngữ này trong một vài trường hợp, Chẳng hạn,
như: ‘dụ chiếc bè pháp’51
ở
đoạn 6, cũng có nghĩa là ‘Diệu pháp, thiện pháp–good’ c̣n
ngược lại là ‘chẳng phải pháp–adharma, có nghĩa là phi
pháp.
Trong lịch sử
tư tưởng nhân loại, những nhà tư tưởng khác nhau ưa thích
những quy tắc luận lư khác nhau, Như một vài môn đệ của
Aristotle đă chủ trương rằng các thuật ngữ phải nên mơ hồ,
và đúng như lư tưởng, chỉ cần có một nghĩa, trong cách như
vậy, một chữ tương ứng với một ư nghĩa. Những người khác
lại chọn cách chuyển tải mỗi một thuật ngữ căn bản của họ
bằng rất nhiều nghĩa đa dạng, và họ là thuộc vào hàng môn
đệ của Bát-nhă ba-la-mật-đa. Thuật ngữ của họ, śūnyatā
(tánh không), là một trường hợp khác trong quan niệm này.
Vấn đề của chúng tôi ở đây không phải là để bàn luận về sự
thuận lợi hay bất tiện của sự tiếp cận này. Chỉ có khả
năng để nói rằng nó tồn tại, kỳ lạ như có thể h́nh dung
được đối với những môn sinh của Aristote, và là một người
dịch, có nghĩa là, trước hết, là một người phụ thuộc, phải
nên tôn trọng điều ấy. Nếu độc giả của bản dịch tiếng Anh
đôi khi lúng túng về ư nghĩa chân xác của thuật ngữ
‘dharma’, th́ anh ta ở trong vị thế chẳng thiệt tḥi hơn
độc giả của bản gốc Sanskrit.
Về phần thuật
ngữ a-pratiṣṭhita
chúng ta phải ghi nhớ rằng tiếng Anh chưa từng chịu ảnh
hưởng của tư tưởng đạo Phật, do vậy nó thường không thể
kịp thời tạo nên những quan điểm và khái niệm tương đương
với Phật học. Điều cố gắng nhất mà tôi thực hiện được là
nêu ra trong bảng thuật ngữ (Glossary) một vài cách dịch
khác có thể chấp nhận được, biểu thị từng cung bậc ư
nghĩa. Người đọc sẽ nhận ra rằng thuật ngữ a-pratiṣṭhita
có quan hệ rất mật thiết với những từ khóa khác trong văn
hệ Bát-nhă ba-la-mật-đa, như aniśrita, na sthātavyam,
anālaya, anālīna, anupalambha v.v... E rằng sẽ dẫn chúng
ta đi quá xa khi bàn đến chi tiết các thuật ngữ này.
Như phần cuối
các bảng thuật ngữ, lẽ ra nên có một mục nhỏ để in toàn bộ
từ vựng của bản kinh, phần lớn các từ xuất hiện trong kinh
đều đang được dùng phổ biến và được nhiều người biết đến.
Chúng tôi tạm hài ḷng khi liệt kê 155 thuật ngữ để cung
ứng vài điểm quan tâm đặc biệt hoặc khó. Đối với bản thuật
ngữ này, chúng tôi thêm vào cách dịch của tiếng Tây Tạng
từ ấn bản Kanjur, và Anh ngữ tương đương được thừa nhận
trong bản dịch tiếng Anh của tôi, nơi chúng dường như có
sự yêu cầu. Trong trường hợp những thuật ngữ khó hơn, đặc
biệt là những phần Edgerton52
đă
bỏ qua trong cuốn Từ điển đồ sộ của ông, tôi đă thêm vào
một vài giải thích rút ra từ những tư liệu luận giải có
thể dùng được, và với điều kiện là tương đương với các
kinh hệ Bát-nhă ba-la-mật-đa khác, lấy ra từ cuốn từ điển
về bản kinh này chưa xuất bản của tôi.
❒
Dịch Việt:
Nhuận Châu
từ
Vajracchedikā Prajñāpāramitā
do Edward Conze
biên tập và phiên dịch
CHÚ THÍCH
1
Vajracchedikā Prajñāpāramitā-sūtra, ed. Max Müller.
Anecdota Oxoniensia, Aryan series, vol. l, part 1. 1811.
Text pp. 19-46.
2
Viết tắt MM. [MM19]
3
S: Kumārajīva (344-413) hoặc (350-409). Hán phiên âm Đồng
Thọ
童壽.
4
Peking blockprint with Sanskrit, 74 Phật. LSOAS. 34849.
Also Tohoku 677.
5
T 235; KUMĀRAJĪVA. A.D. 400. Chin-kang pan-jo po-lo mi
ching. vol. VIII. pp. 748.752. – C̣n có trong Hashinaoto,
Xem số 31.
4a. F. W.
THOMAS, A Buddhist Chinese Text in Brahmi Script, ZDMG,
1937, pp. 1-48. . 4b. H. W. BAILEY, Vajra-Prajñāpāramitā,
ZDMG 92, 1938, 579-593. - 4c. F. W. THOMAS’ reply to 4b,
ibd. pp. 594-610. - 44. E. CONZE, The frontispiece to the
Tun. Huang print of 868 A. D., The Middle Way xxx 1, 1955,
pp. 1-2.
6
ASANGA. 77 v. ed. Commentaries.. G. Tucci, MBT. Năng đoạn
kim cương bát-nhă ba-la-mật-đa kinh luận tụng (2 bản,
Āryabhagavatī-prajñāpāramitā-vajracchedikā-saptārtha-ṭīkā
và Triśatikāyā-prajñāpāramitāyā-kārikā-saptati); ba quyển,
Bồ-đề Lưu-chi dịch. Ngài Nghĩa Tịnh cũng có dịch một bản.
7
CH. DE HARLEZ, Vajracchedikā. Traduction du texte sanscrit
avec comparaison des versions chinoises et mand. choue.
JAs, 8ème série, tome 18, 1891, pp. 440.509. From no. 1.
8
T08n0235_p0751b04║如人身長大。(Cưu-ma-la-thập)
9
Tiếp đầu ngữ vajra- được dùng khá hiếm hoi trong Đại bản
Bát-nhă (Larger Prajñāparamitā), và trong đó đề cập đến
một loại Kim cang định–‘adamantine’ samadhi (A xxx 491, P
82, 172, 199, 201), (A xxxi 525), hoặc là Pháp (dharma) (P
169), hoặc Trí (jñāna) (P 233). Hợp từ
vajra-prajñāparamitā ít thấy dùng ở đâu.
10
T08n0235_p0749c21║菩薩摩訶薩應如是生清淨心E:
pure, translucent thought.
11
Ư dịch (e: elucidating his translations). Khác với lối
Trực dịch của ngài Huyền Trang. Demiéville, JAs 1950, pp.
375-395.
12
A i 5-6 = P 121-123 = S 490-503
13
Bản Hán dịch của Huyền Trang: Chư ḥa hợp sở vi, Như tinh
ế đăng huyễn. Lộ bào mộng điển vân. Ưng tác như thị quán.
T07n0220_p0985c19║
諸諸諸諸諸如如如如如
T07n0220_p0985c20║
露露露露露應應如應應
prasunuyādaprameyamasaṃkhyeyam
| kathaṃ
ca saṃprakāśayet
| yathā na prakāśayet | tenocyate saṃprakāśayediti
| tārakā timiraṃ
dīpomāyāvaśyāyabudbudaṃ
| supinaṃ
vidyudabhraṃ
ca |
14
Bản Hán dịch của Cưu-ma-la-thập: Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ diệc như điển, Ưng tác như
thị quán.
T08n0235_p0752b28║
一一一諸一如露如露如
T08n0235_p0752b29║
如露如如露應應如應應
.
15
The Gilgit Manuscript, ed. IsMEO . Roma, in: G. Tucci,
MBT, 1956.
16
Xuất phát từ chữ Prākṛta
có nghĩa là ‘(lời nói) của giới b́nh dân’. Cũng như tiếng
Sanskrit, có thể đại biểu thích hợp cho ngôn ngữ
Indo-Aryan cổ; tiếng Prākṛit
cũng vậy, đại biểu thích hợp cho giai đoạn trung kỳ ngôn
ngữ Indo-Aryan. Ngôn ngữ Prākṛit
được h́nh thành trong g iai đoạn hai của tiến tŕnh h́nh
thành ngôn ngữ Ấn Độ. Tiếng Prākṛit
được sử dụng phổ biến ở các vùng Māhārāṣṭri,
Śaurasenī và Māgadhi, cùng các phương ngữ trong kinh điển
Kỳ-na giáo.
17
The Gilgit Manuscript, ed. IsMEO. Roma, in: G. Tucci, MBT,
1956.
18
P 238: DRARMAGUPTA. 600. vol. VIII. pp. 766.772. Chinkang
nêng-tuan pan-jo po-lo-mi ching.
19
Ed. STEN KONOW, The V. in the old Khotanese version of
Eastern Turkestan. In HOERNLE, etc., I, pp. 214-239
(Introduction), 239-276 (Khot. text + MM’s skr.), 276-288
(English), 330-356 (Vocabulary).
20
Chứng cứ về niên đại đă được khảo sát bởi Sten Konow trong
tác phẩm Norsk Tiddskrift for Sprovidenskap xi, 1938, pp.
25 sq. Nhưng nó ít có tính thuyết phục.
21
Ses rub kyi pita rol in phyin pa rdo rje gcod pa. lOa.
Otani Catalogue 739. – l0b. Tohoku Catalogue 16 (Ka 121a
132b) lOc ed I. J. SCHMIDT, Mem Ae Imp des Sciences de St
Petersburg, IV, 1837, Über das Mahāyāna und
Pradschnā-Pāramitā der Bauddhen.- lOd. C̣n có nhiều thủ
bản (như bản Tohoku 6763), và bản khắc gỗ Lhasa Tohoku
6762, Peking LSOAS 8282’?, v.v... Hashimoto (see no 31) in
lại bằng offset, một thủ bản trên “giấy xanh sẫm với chữ
bằng bạc, được trao cho ông ta ở Mông Cổ.”
22
Hán: Lai thế; e: latter days
23
Hán: Như Lai tất tri tất kiến; e: being seen by the
Buddhas
24
Peking blockprint with Sanskrit, 74 ff LSOAS 34849. Also
Tohoku 6773.
25甘珠爾,
Bkaḥ-ḥgyur;
Kāh-gyur; Kanjur
26入菩提行論;
s: Bodhicaryāvatāra. Của ngài Tịch Thiên
寂天
Śāntideva. Luận sư Trung quán Ấn Độ thế kỷ thứ 8. B.H.
Hodgson, 1800~1894)
27
Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuccaya)
của Tịch Thiên (s: Śāntideva);)
28
(17c) And why? ‘Tathagata’, Subhuti, of true Suchness that
is a synonym. A. Tu-bồ-đề, »Như Lai« là biệt danh của chân
như.
(17d)And whosoever, Subhuti, were to say: ‘The Tathagata,
the Arhat, the fully Enlightened One, has fully known the
utmost, right and perfect enlightenment’, he would speak
falsely, and he would misrepresent me by seizing on what
is not there. And why? There is not any dharma by which
the Tathagata has fully known the utmost, right and
perfect enlightenment. And that dharma which the Tathagata
has fully known and demonstrated, on account of that there
is neither truth nor fraud.
29
kasyacid dharmasya vināśaḥ
prajñapta ucchedo veti.
“Những người đă khởi hành với Bồ-tát thừa nhận biết được
sự hủy hoại hoặc sự đoạn diệt của một pháp nào đó.
”
T08n0235_p0752a22║...發發發發發
T08n0235_p0752a23║三三三三三三說諸一諸諸諸。莫應應
T08n0235_p0752a24║念。
(Cưu-ma-la-thập)
30
Bản dịch tiếng Anh của E. Conze: “Therefore it is called
‘Wisdom which has gone beyond.’
31
Trung bộ kinh (Majjhima Nikāya). Kinh số 12.
Ko nāmo ayaṃ
bhante dhamma pariyāyo? Tasmātiha tvaṃ
Nāgasamāla imaṃ
dhammapariyāayaṃ
Lomahaṃ-
sanapaniyāyo ti na naṃ
dhāarehitī. –
Tương tự như trong Kinh số 18. 115 và Trường bộ kinh
(Dīgha-nikāya) 1.
32
E: Perfection of Wisdom in 300 Lines. Trong tác phẩm La
Somme du Grand Véhicule của E. Lamotte in năm 1939, ở
trang 195 có ghi: Dans la Trisatikā Prajñāparamitā il est
dit: Quand on parle d’une vertu, on parle de toutes les
vertus”. Từ sự thiếu sót ḍng nầy trong bản Kinh Kim Cang
(Vajracchedikā) của chúng ta, có thể suy ra rằng có một
bản đă được duyệt lại khác của ấn bản Trisatikā
Prajñāparamitā đang lưu hành. Tuy nhiên, rất có khả năng
đây là sơ suất một phần là do Giáo sư Lamotte, và sự liên
quan là với luận giải của ngài Thế Thân về Kinh Kim Cang
(Subcommentary to no. 32 by Vasubandhu. Bản Sanskrit đă bị
mất.) Có nghĩa là chú giải về đoạn 3.
33
Vajracchedikā Prajñāpāramitā-sūtra, ed. Max Müller.
Anecdota Oxoniensia, Aryan series, voi. l, part 1. 1811.
Text pp. 19-46.
34
Satapañcāśika v, 74. Ư tưởng nầy không giống như của Lucan
so sánh Julius Caesar với sấm sét trong (Pharsalia I,
151-157):
35
Có nghĩa là Prajñāpāramitā trong Hư Không tạng
(Ākāśagarbha) của Thai tạng giới Mạn-đà-la (Garbhadhātumaṇḍla)
của Chân ngôn tông (Shingon school).
36
n. 16, paññā-sattham. cf. also Theragāthā no. 1095.
37
Asi 148, kīlesa-cchedana. ef. Jat. iv 174.
38
V 3, 1954, pp. 192-497.
39
S: Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā: Bát thiên tụng Bát-nhă. Trong đoạn 3 Kinh
Kim Cang, tương đương với Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā i 20.
- Đoạn 6, câu ‘Được thấy biết bởi Như Lai–Như Lai tất tri
tất kiến’ xuất hiện trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā, x 224.
- Đoạn 7, câu cuối cùng bị lược bỏ trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā, ii 36.
- Đoạn 8, câu, ‘issued from it is enlightenment’v.v..., bị
lược bỏ trong Aṣṭa-sāhasrikā
Prajñāpāramitā, 58 và xxviii 463.
- Đoạn 12, 15c, chú thích về caitya: trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā iii 57.
- Đoạn 14d, vai tṛ của pāramitā và aparimāṇa,
tương tự như trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā A ii 45.
- Đoạn 17b. Thọ kư của Đức Phật Nhiên Đăng (Dīpañkara|
cũng giống như trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā A ii 48, iii 368.
- Đoạn 18b, câu ‘past thought is not got at’, v.v... etc.,
như trong Aṣṭasāhasrikā
Prajñāpāramitā xii 268.
40
Khác với thứ tự trong bản dịch của Cưu-ma-la-thập: Ngă,
nhân, chúng sinh, thọ giả.
41
Bốn vấn đề trên đều được định nghĩa súc tích trong tác
phẩm Abhisamayā-laṅkārālokā
của Haribhardra, U. Wogihara.
42
constituents (dharmas) of a Buddha.
43
Buddha field.
44
seizing on material objects
45
Tương đương với teno karanena ở trang 176b, và tương đương
với tasmād trong trang 485.
46
Để xác định rơ, xin xem trong Trung bộ kinh (Majjhima
Nikāya),. 129
47
Xem Selected Soyiags from the Perjecrion of Wisdom, 1955,
no. 95.100.
48
phát khởi tín tâm thanh tịnh.
49
không có ǵ chống đỡ, không có chỗ dựa, không nơi nương
tựa. (Nghĩa bóng) không được ủng hộ, không được giúp đỡ.
50
Đề kinh Pháp hoa.
51
E: simile of the raft. Hán: Như phiệt dụ giả. Pháp thượng
ưng xả, hà huống phi pháp – (Cưu-ma-la-thập)
52
Buddhist
Hybrid Sanskrit Motilal Barnasidass, 1972