|
T Ừ
QUY Y
ĐẾ N
QUY Y NHẤT
THỪA
THÍCH THÁI H̉A
Quy y, tiếng Phạn Saranīa,
có nghĩa là trở về nương tựa hoặc trở về với sự che chở và
cứu hộ.
Nhưng, tại sao con người
cần phải nương tựa, cần phải che chở, cần phải cứu hộ? V́
chính trong con người có những chất liệu của sự yếu đuối và
sợ hăi.
Yếu đuối trước phong ba
băo táp của cuộc đời, yếu đuối trước những cái thương và cái
ghét, trước cái được, cái mất, trước những cái khen, cái
chê, trước những nỗi sinh ly và tử biệt. Và sợ hăi, v́ trước
những biến thiên vô tận của cuộc đời mà con người không biết
ḿnh là ai, ḿnh là cái ǵ trong tṛ chơi thiên diễn dâu bể
ấy. Và sợ hăi, v́ đứng trước cái sống và cái chết của con
người, con người không biết thân phận của ḿnh là ǵ, mặc dù
con người đă có sự chinh phục được thiên nhiên phần nào,
nhưng con người đă đầu hàng trước cái chết.
Bởi không chinh phục được
cái chết, nên trong sự sống của con người sinh ra hoảng sợ,
do đó:
"Loài người sợ hoảng
hốt
T́m nhiều chỗ nương
tựa
Hoặc rừng rậm, núi non
Hoặc vườn cây rừng
tháp". 1
Nhưng với sự nương tựa mơ hồ và hoảng hốt
như thế, không có ǵ bảo chứng cho sự an toàn và hạnh phúc
của con người cả:
"Các chỗ nương tựa ấy
Không nương tựa an ổn
Không nương tựa tối thượng
Không thoát mọi khổ đau".2
Và sự nương tựa có thể giúp cho con người
thoát ly khổ đau đến nơi an toàn, chính là sự nương tựa
Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng.
"Loài người nương tựa Phật
Nương tựa Pháp và Tăng
Ở trong Tứ Thánh đế
Thường dùng tuệ quán sát
Biết Khổ, biết Khổ tập
Biết Diệt siêu các Khổ
Biết Đạo tám yếu tố
Đến Niết-bàn an ổn
Nương tựa này tối thượng
Nương tựa này tối tôn
Do nhân nương tựa này
Các khổ đều thoát ly".3
C on người
biết quay về nương tựa Phật, Pháp và Tăng đầu tiên là hai vị
thương chủ gồm Tapassu (Đế Lệ Phú Sa) và Bhallika (Bạt Lệ
Ca).4
Hai vị thương chủ này, từ Trung Ấn muốn
về phía Bắc, khi họ đi ngang qua khu rừng nơi đức Thế Tôn
vừa mới thành đạo, họ gặp nhiều trở ngại tâm linh khởi sự lo
âu, sợ hăi. Bấy giờ giữa không trung họ nghe tiếng nói của
các vị thiên thần bảo rằng:
"Này các thương chủ! Quư vị đừng sợ hăi,
ở nơi này không có tai họa, không có các ương lụy, quư vị
không nên khiếp đảm.
Này quư vị thương chủ! Nơi rừng này chỉ
có đức Như Lai, Bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, mới thành tựu
đạo quả Vô Thượng Bồ đề, hiện Ngài đang an trú trong rừng
này, kể từ khi Ngài thành đạo đến nay, trải qua bốn mươi
chín ngày, Ngài chưa thọ dùng bất cứ vật thực ǵ.
Vậy, quư vị hăy đem mạch nha, mật, tô lạc
để đến cúng dường Ngài, quư vị sẽ được an ổn lâu dài, sẽ có
an lạc và lợi ích lớn.
Quư vị kia nghe vị Thiên
Thần bảo như vậy, họ liền vâng hành, đi đến chỗ đức Thế Tôn,
thấy Ngài, họ sanh tâm cung kính, đảnh lễ, phát khởi niềm
tin thanh tịnh và thành kính cúng dường Ngài.
Nhân ở nơi sự cúng dường
thức ăn của hai vị thương chủ này, đức Thế Tôn cũng nhận sự
cúng dường b́nh bát của quư vị Tứ Thiên vương dâng hiến để
nhận thức ăn.
Sau khi đức Phật nhận thực
phẩm của hai vị thí chủ cúng dường xong, Ngài gọi hai vị
thương chủ và quyến thuộc của họ mà bảo rằng:
"Quư vị hăy nương tựa
Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng, thọ tŕ năm giới cấm,
th́ quư vị sẽ được sự an lạc lâu dài, sẽ thâu hoạch được
nhiều lợi ích cao quư và rộng lớn".
Khi nghe đức Thế Tôn dạy
như vậy, tất cả họ đều bạch với Ngài rằng: "Đúng như lời dạy
cao quư của Ngài, chúng con không trái". Họ liền nhận lănh
ba pháp tự quy y, năm giới cấm và họ trở thành những vị cận
sự đầu tiên đệ tử của đức Phật.
Bài pháp đầu tiên, đức
Phật thuyết pháp cho hai vị thương chủ và thân quyến của họ,
trong đó có đoạn nói như sau:
"… Muốn được tự lợi và lợi
tha cho tất cả, muốn mong cầu có đạo lư để dẫn đường cho thế
gian, th́ phải nương tựa Phật, Pháp, Tăng; phải phát khởi
tâm thực hành chánh tín, v́ do tín tâm mà được quả báu tốt
đẹp, v́ do thực hành được tín hạnh cao quư, rộng lớn mà
chứng được giới hạnh khó nghĩ bàn chứng được đạo lư tối
thắng vô thượng.
Người thực hành bố thí, có
thể chứng đắc quả báo này, họ thấy rơ tính chân thật của
toàn thể vũ trụ, và họ có thể chứng đạo, đầy đủ trí tuệ.
Do bậc Thánh có cách nh́n
chính xác như vậy, nên các Ngài được gọi là các bậc có chánh
niệm, mở ra các trói buộc của trần lao, đạt được vô úy,
chứng đắc Đại Niết- bàn, giải thoát tất cả các khổ về thế
gian, đầy đủ tất cả thiện pháp, nên các bậc Thánh đều ca
ngợi pháp này là pháp tôn quư, hoàn toàn không c̣n sanh,
lăo, bệnh, tử, diệt tận mọi sầu muộn về oán tắng và ái biệt,
các đức Thế Tôn trong mười phương đều ca ngợi niềm vui này,
v́ đă đến nơi không c̣n sanh tử".5
Như vậy, quy y hay nương
tựa Phật, Pháp, Tăng là pháp tối yếu để người đệ tử Phật đối
diện với khổ đau mà không hề khiếp đảm, đối diện với sống
chết mà chẳng lo âu, làm lữ khách lên đường mà không hề có
cảm giác lạc lơng, bởi v́ ở nơi họ đă có sự bảo chứng của an
toàn, có con đường sáng để đi và có đích điểm để đạt tới.
Vậy, quy y Phật, Pháp,
Tăng hay nương tựa Phật, Pháp, Tăng là ǵ? Điều này, theo
các nhà A Tỳ Đàm Đại Tỳ Bà Sa giải thích như sau:
"Quy y Phật chính là quy y
Pháp thân, đó là pháp vô học thành tựu tuệ giác của Phật".
"Quy y Pháp là quy y Diệt
đế đó là pháp Niết-bàn vắng bặt mọi tham ái
"Quy y Tăng là quy y pháp
học và vô học tạo thành phẩm chất của Tăng"."6
Và, ư nghĩa quy y của các Luận sư Đại
Tỳ Bà Sa (Mahāvibhasa) này, lại
được Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tóm tắt lại trong bài kệ của
Luận Câu Xá rằng:
"Quy y thành Phật Tăng
Vô
học nhị chủng Pháp
Cập
Niết- bàn trạch diệt
Thị
thuyết cụ tam quy".7
Nghĩa là:
Quy y Phật là quy y Pháp
vô học tác thành phẩm chất của Phật. Quy y Tăng là quy y hai
loại Pháp học và vô học tác thành phẩm chất của Tăng. Và quy
y Pháp là quy y sự an tịnh của Niết-bàn.8 Ấy là
tŕnh bày đầy đủ ba pháp quy y.
Như vậy, quy y Phật là quy
y thể tính giác ngộ của Phật. Quy y Pháp là quy y Niết- bàn
và quy y Tăng là quy y Pháp học và vô học tạo thành phẩm
tính của Tăng.
Theo Ngài Chúng Hiền
(Samïghabhadra) ở trong A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lư Luận th́
Tăng già sai biệt có năm chủng loại.
1. Vô Sỉ Tăng: Nghĩa là
những con người hủy phạm giới pháp mà vẫn mặc y phục của
Tăng, tạo ra tập thể Tăng không có liêm sỉ.
2. Á Dương Tăng: Những
thành viên Tăng đối với tam tạng giáo điển không liễu đạt.
Ví như dê câm không có khả năng biện thuyết.
3. Bằng Đảng Tăng: Những
người kết cấu bè đảng dưới h́nh thức của Tăng, để đấu tranh,
kiện tụng, kinh doanh dịch vụ, phần nhiều tạo ra những hành
động phi pháp.
4. Thế Tục Tăng: C̣n gọi
là phàm phu Tăng, ấy là những thành viên Tăng có phước thiện
ở trong phàm phu, họ có những hành động đúng pháp và không
đúng pháp.
5. Thắng Nghĩa Tăng: Tăng
là bao gồm những thành viên thành tựu pháp hữu học và vô
học, là chỗ nương tựa của mọi người.
Thắng Nghĩa Tăng nhất định
không chấp nhận những thành viên tạo ra những hành động phi
pháp.
Như vậy, quy y Tăng là quy
y Thắng Nghĩa Tăng mà không quy y với bốn loại Tăng kia.
Nên Luận có bài kệ ca ngợi
sự quy y này như sau:
"Thử quy y tối thắng
Thử quy y tối tôn
Tất nhân thử quy y
Năng giải thoát chúng
khổ". 9
Nghĩa là:
Quy y này tối thắng
Quy y này tối tôn
Do nhân quy y này
Các khổ đều thoát ly.
Lại nữa, quy Phật, Pháp, Tăng được Ngài
Long Thọ (Nagārjuna) giải thích ở trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa
Luận như sau:
"Bất xả bồ
đề tâm
Bất hoại sở thọ pháp
Bất xả đại bi tâm
Bất tham lạc dư thừa
Như thị tắc danh vi
Như thật quy y Phật".10
Nghĩa là:
Không bỏ tâm bồ đề
Không hoại pháp được thọ
Không bỏ đại bi tâm
Không ham thích thừa
khác
Như vậy mới gọi là
Quy y Phật như thật.
Ở đây,
quy y Phật là nương tựa tâm bồ đề và phát khởi tâm ấy để
mong cầu thành tựu địa vị toàn giác. Đối với các giới
pháp đă lănh thọ th́ không để cho hủy phạm, v́ lợi ích
chúng sanh mà làm các thiện sự. Đối với tâm đại bi là v́
muốn độ chúng sanh thoát khỏi khổ đau mà mong cầu Phật
đạo, ngay ở trong giấc ngủ cũng không có lăng quên tâm
đại bi ấy. Chỉ có niềm tin sâu xa và duy nhất là hướng
đến Phật đạo mà không hướng đến Thanh văn thừa, Duyên
giác thừa.
Quy y
Phật đích thực là quy y với tất cả tâm nguyện và chí
hướng ấy.
Thế th́
theo Ngài Long Thọ (Nagārjuna) thế nào là quy y Pháp?
Quy y Pháp được Ngài giải thích như sau:
"Thân cận thuyết pháp giới
Nhất tâm thính thọ pháp
Niệm tŕ nhi diễn thuyết
Danh vi quy y Pháp".11
Nghĩa là:
Gần gũi Bậc thuyết pháp
Một ḷng nghe thọ pháp
Ghi nhớ và tuyên dương
Gọi là quy y Pháp.
Ở đây,
quy y Pháp là gần gũi vị Pháp sư, Bậc thông hiểu Pháp
thâm diệu của Phật, vị ấy có khả năng tŕnh bày diễn đạt
nêu rơ thế nào là thiện - ác để hưng thiện diệt ác, đoạn
trừ mọi nghi hoặc cho chúng sanh, do đó người muốn quy y
phải gần gũi vị Pháp sư để lắng nghe, học hỏi và lănh
thọ Chánh pháp, ghi nhớ và hành tŕ Chánh pháp không để
quên mất, vị ấy luôn luôn chiêm nghiệm nghĩa lư của
Chánh pháp để thuận hành.
Sau đó,
người quy y Pháp là người v́ người khác mà tŕnh bày
Chánh pháp đúng như sự hiểu biết, sự hành tŕ của ḿnh
để thành tựu công đức Pháp thí và đem công đức ấy
mà hồi hướng về Phật đạo, đó gọi là quy y Pháp.
Và theo
Ngài Long Thọ (Nagārjuna) thế nào là quy y Tăng? Ư nghĩa
quy y Tăng được Ngài giải thích như sau:
"Nhược chư Thanh văn nhân
Vị nhập pháp vị giả
Linh phát vô thượng tâm
Sử đắc Phật thập lực
Tiên dĩ
tài thí nhiếp
Hậu năi tài pháp thí
Thâm tín tứ quả Tăng
Bất phân biệt quư chúng
Cầu Thanh văn công đức
Như bất chứng giải thoát
Thị danh quy y Tăng
Hựu ưng niệm tam sự". 12
Nghĩa là:
Nếu những người Thanh văn
Chưa vào địa vị pháp
Khiến phát tâm vô thượng
Khiến đắc mười lực Phật
Trước nhiếp bằng tài thí
Sau nhiếp bằng pháp thí
Tín sâu Tăng tứ quả
Tăng bảo không phân biệt
Cầu công đức Thanh văn
Không cầu giải thoát ấy,
Đó là quy y Tăng
Lại cần nhớ ba việc.
Ở đây,
quy y Tăng là quy y đoàn thể Tăng đệ tử của Phật, đoàn
thể này là những thành viên chưa có tính quyết định theo
hướng của Thanh văn thừa, hay Duyên giác thừa, do đó
phải tạo điều kiện để họ phát tâm vô thượng hướng đến
Phật đạo, hay Nhất thừa đạo. Họ là những người có niềm
tin sâu xa đối với bốn Thánh quả của Tăng và là thành
viên của Tăng bảo.
Tuy
rằng, họ cần thành tựu các công đức của hàng Thanh văn
như cụ túc về Giới, cụ túc về Định, cụ túc về Tuệ, cụ
túc về giải thoát, cụ túc về giải thoát tri kiến, cụ túc
tam minh, lục thông, tâm được tự tại, có đại oai đức, xả
trừ niềm vui thế tục, vượt khỏi thế giới của ma… Nhưng
không cầu chứng giải thoát theo cảnh giới của Thanh văn
do các công đức ấy đem lại, mà tâm của họ tin tưởng sâu
xa và mong thành đạt đời sống giải thoát vô ngại của
Phật.
Như vậy,
quy y Tăng là quy y với một đoàn thể đệ tử xuất gia của
Phật có tâm chí, có công đức và hạnh nguyện như vậy.
Lại nữa,
đă quy y Phật th́ phải luôn luôn nhớ đến thể tính giác
ngộ của Phật, đă quy y pháp th́ phải luôn luôn nhớ đến
thể tính tịch diệt của Pháp và đă quy y Tăng phải luôn
luôn nhớ đến thể tính thanh tịnh và ḥa hợp của Tăng.
Lại nữa,
theo Ngài Long Thọ (Nagārjuna) là do nhớ đến Phật đạo mà
thực hành bố thí gọi là quy y Phật; do thủ hộ Chánh pháp
mà thực hành bố thí gọi là quy y Pháp và do bố thí mà
khởi tâm hướng về thành tựu Phật đạo nhiếp phục hàng
Bồ-tát tăng và Thanh văn tăng gọi là quy y Tăng. 13
Theo
kinh Thắng Man, quy y Phật hay quy y Như Lai chính là
quy y Nhất thừa đạo.
Thắng
Man nói: "Như Lai đồng với thời gian vô hạn. Như Lai,
Bậc Ứng Cúng, Bậc Chánh Đẳng Giác tồn tại ngang với biên
cương của thời gian tận cùng vị lai. Như Lai đồng với vô
hạn, đại bi cũng đồng với vô hạn an ủi thế gian. Đại bi
vô hạn an ủi thế gian vô hạn, nói như vậy là nói về Như
Lai một cách toàn hảo.
Lại nữa,
nếu nói rằng, pháp vô tận, pháp thường trú là pháp cho
hết thảy thế gian nương tựa, cũng là nói về Như Lai một
cách toàn hảo.
Do đó,
đối với thế gian chưa được hóa độ, không có nơi nương
tựa, th́ làm nơi nương tựa vô tận, làm nơi nương tựa
thường trú cho đến cùng tận biên cương vị lai, chính
Đấng để nương tựa ấy là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng
Giác vậy.
Pháp
chính là nói về một con đường duy nhất. Tăng là chúng ở
trong ba thừa. Hai chỗ nương tựa này không phải là chỗ
nương tựa tuyệt đối, chỉ gọi là nơi nương tựa thiểu
phần.
V́ sao
vậy? V́ nói về đạo pháp Nhất thừa, chứng đắc pháp thân
tuyệt đối mà không nói c̣n có Pháp thân Nhất thừa nào ở
bên trên nữa."14
Như vậy,
theo Thắng man, quy y Như Lai chính là quy y Nhất thừa
đạo và quy y Nhất thừa đạo là quy y chân lư tuyệt đối.
Chân lư tuyệt đối chính là Pháp thân, Pháp thân chính là
Như Lai. Từ nơi Như Lai mà pháp được duy tŕ và biểu
hiện, pháp được tuyên dương và từ nơi Như Lai và lư tánh
ḥa hợp thanh tịnh của Tăng được duy tŕ và biểu hiện và
cũng từ nơi lư tánh của Như Lai mà Tăng đoàn được thành
lập.
Do đó,
trong Như Lai có đầy đủ lư tánh tuyệt đối của Pháp và
Tăng. Bởi vậy, khi mới thành đạo, đức Như Lai đă trao ba
pháp tự quy y cho hai vị thương chủ Tapassu và Bhallika
đầu tiên trong ư nghĩa quy y Nhất thừa đạo này.
Pháp và
Tăng không khác biệt với Như Lai. Chính Như Lai đầy đủ
cả ba sự nương tựa. Pháp và Tăng từ Pháp thân của Như
Lai mà biểu hiện, nên Pháp và Tăng đồng nhất thể với Như
Lai.
Chúng ta
có thể là những lữ khách phong trần măi mê theo cơi sắc
thanh, bất chợt đứng đối diện với thác ghềnh sinh tử, ta
không biết ta là ai trước khi cha mẹ sinh ra và ta là ǵ
sau khi h́nh hài này hủy diệt và hoảng sợ nên sinh khởi
cảm giác bế tắc, bơ vơ và hoảng sợ. Nên, bấây giờ Tăng
đoàn xuất hiện như là chỗ nương tựa cho ta, giúp ta thực
hành Chánh pháp, tâm ta sinh khởi sự an ổn, tin tưởng và
vui sướng, ta sinh tâm nương tựa nơi Pháp và càng thực
tập Pháp th́ phẩm tính siêu việt của Như lai ở nơi ta
càng ngày càng hiển lộ.
Bây giờ,
Như Lai đối với ta không c̣n là một ước mơ mà là một
hiện thực. Một hiện thực của vô tận không gian, vô tận
thời gian và vô tận tâm thức, Như Lai không phải chỉ là
nơi nương tựa duy nhất mà c̣n là nơi bảo chứng an toàn
tuyệt đối cho ta và cho tất cả muôn loài.
Nên, quy
y Như Lai chính là quy y Nhất thừa đạo, quy y Pháp thân
thường trú, đó là sự quy y hay là sự nương tựa an toàn
tuyệt đối vậy.
T.T.H
Chú
thích:
1
Kinh Pháp Cú 188.
2 Kinh Pháp Cú 189.
3 A tỳ đạt ma đại tỳ bà sa luận34, tr. 177a, Đại
Chính 27.
4 Tăng Chi bộ kinh1, tr. 34, Phật Học Vạn Hạnh,
1980.
5 Phật thuyết bản hạnh tập kinh 32, tr. 802, Đại
chính 3.
6
所 歸 依 者 ,謂 佛 無 學
成 菩 提 法 ,即 是 法 身 .所 歸 依 者 ,謂唯 滅 諦 ,愛 盡 涅 槃 .所 歸 依 者 ,謂 成
僧 伽 學 無 學 法
.
(A tỳđạ ma Đại tỳbàsa
luận 34, tr. 177a, Đại Chính 27).
7
歸 依 成 佛 僧 ,無 學 二
種 法 ,及 涅 槃 澤 滅 ,是 說具 三 歸
.(A
tỳ đạt ma Câu xá luận 14, tr. 76b, Đại chính 29).
8 Trạch diệt: Là trong sự tương tục giữ tự và tha,
giữa phiền năo, hoặc, nghiệp và khổ quả đề là nhất tướng
vắng lặng. (Câu xá thính luận 11, tr. 273, Đại chính
29).
9
此 歸 依 最 勝 ,此 歸 依
最 尊 ,必 因 此 歸 依 ,能 解 脫眾苦
.A
tỳđạ ma Thuậ cháh lưluậ 38, tr. 557, Đạ Chíh 29.
10
不 捨 菩 提 心 ,不 壞 所 受 法 ,不 捨 大 悲 心 ,不 貪 樂 餘 乘 ,如 是 則 名 為 ,如
實 歸 依 佛.(Thập
trụTỳ bà sa luận 7, tr54, Đại Chính 26).
11
親 近 說法 者 , 一 心 聽
受 法 ,念 持 而 演 說,名 為 歸 依 法.(Luận
đă dẫn).
12
若 諸 聲 聞 人 ,未 入 法
位 者 ,令 發 無 上 心 ,使 得 佛 十 力 ,先 以 財 施 攝 ,後 乃 以法 施 ,深 信 四 果
僧 ,不 分 別 貴 眾,求 聲 聞 功 德 ,而 不 證 解 脫,是 名 歸 依 僧 ,又 應 念 三 事 .
(Luận đă dẫn).
13 Tham khảo Thập trụTỳbàsa 7, tr. 55, Đại Chính
26.
14 Thắng man sư tử hống Nhất thừa đại phương tiện
quảng kinh, tr. 220-221, Đại Chính 12.
|