TOÁT YẾU NỘI DUNG CÁC KINH
TRƯỜNG A HÀM
Tuệ Sỹ
1. Kinh Đại bản
[Tương đương Pāli: Mahānpadānasutta, D 14]
Cũng được gọi là Đại bản duyên. Hán dịch Đại bản, tương
đương Pāli là mahāpadāna. Pāli nói apadāna hay Sanskrit
nói avadāna là một thể loại văn học Thánh điển nguyên
thủy, được kể trong chín loại gọi là cửu phần giáo, sau
này phát triển thành mười hai phần giáo. Hán dịch âm là
a-ba-đà-na, và dịch nghĩa thông dụng là “thí dụ”. Đó là
các đoạn thí dụ trong Kinh được kể để minh giải một đề tài
giáo lư hay một ư nghĩa nào đó. Nói rộng ra, đây là loại
ngụ ngôn trong văn học Phật giáo nguyên thủy.
Kinh này kể sự tích các đức Phật quá khứ mà đặt vào thể
loại thí dụ hay ngụ ngôn cho thấy đầu tiên Kinh được kể
cho quần chúng nghe về cuộc đời các đức Phật thay v́ giảng
giải giáo lư đôi khi khó hiểu đối với họ. Có lẽ v́ được kể
cho quần chúng nghe cùng với nhiều loại truyện kể khác,
như chuyện tiền thân, nhân duyên các đệ tử, và các chuyện
ngụ ngôn Phật giáo khác, nên Kinh đầu tiên được kể theo
thể loại thí dụ. Nhưng v́ đây là chuyện kể về cuộc đời các
đức Phật, nên thêm từ “đại” vào gọi là “Đại bản”
(Mahāpadāna).
Trong Kinh Đại bản, Đức Phật truyền kư sự xuất hiện lần
lượt sáu vị Phật, cho đến đức Thích-ca là vị thứ bảy. Kinh
có thể được chia thành ba phần chính.
Phần I:
Lược thuật về kiếp số, danh tính, chủng tộc, quốc gia, phụ
mẫu, các đại đệ tử, thị giả, các hội thuyết pháp.
Phần II:
Tường thuật chi tiết sự tích Phật T́-bà-thi (P. Vipassī),
từ Đâu-suất giáng thần, đản sinh, hiện thọ dục lạc, xuất
du bốn cửa thành, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, thuyết
giới, và sau cùng nhập Niết-bàn. Nội dung sự tích hoàn
toàn đồng nhất với sự tích Đức Thích Tôn. Sự đồng nhất này
có thể diễn dịch là tính cách chung của hết thảy chư Phật,
cho nên, mỗi khi bắt đầu tường thuật một sự kiện, Kinh
giới thiệu bằng cụm từ “pháp thường của chư Phật là như
vậy”. Cụm từ này tương đương trong bản Pāli là dhammatā
esā: pháp tính như thị hay pháp nhĩ như thị, pháp tính là
như vậy.
PHẦN III:
Đức Thích Tôn xuất hiện trên Tịnh cư thiên (Suddhāvāsa).
Đây là Thánh địa của các Thánh giả Bất hoàn (Anāgamī). Các
vị Bất hoàn trong năm tầng Tịnh cư thiên lần lượt đến gặp
đức Thích Tôn. Các vị này đều là đệ tử của sáu vị Như Lai
trong quá khứ, cho đến bây giờ vẫn tồn tại. Sau khi chết ở
Dục giới, họ tái sinh lên đây và sẽ nhập Niết-bàn tại đây,
không trở lại dưới đó nữa.
Về h́nh thức
văn học, sau mỗi đoạn tường thuật bằng văn xuôi (văn
trường hàng), Kinh lặp lại bằng thể kệ. Điều này có thể
giải thích là dạng truyền bản xưa nhất của Kinh được nói
bằng kệ. Về sau, phần văn xuôi được thêm vào như thường
thấy trong lịch sử h́nh thành Thánh điển Phật giáo. Nếu
điều này được xác nhận, truyền bản được dịch Hán ở đây có
thể cổ xưa hơn so với Pāli.
2. Kinh Du
hành
[Tương đương Pāli: a. Mahāparinibbānasutta, D 16; b.
Mahāsudassanasutta, D 17]
Trong nguyên
bản Hán dịch, Kinh được chia làm ba quyển theo số trang
trung b́nh của bản Hán. Căn cứ theo đó, Kinh thường được
chia làm ba đoạn lớn. Sự phân chia này tất nhiên chỉ có
trong bản Hán, v́ dựa theo số quyển chữ Hán. Căn cứ theo
nội dung của Kinh, bản dịch Việt phân đoạn Kinh lại như
sau.
Kinh được chia
làm ba phần chính:
Phần I:
Khởi đi từ thành Vương-xá (Rājagaha) cho đến xóm Trúc
phương (Beḷuva)
gần thành T́-xá-li (Vesalī); tại đây Phật dừng chân cho
mùa an cư cuối cùng.
Giáo pháp Phật dạy trong khoảng
thời gian này bao gồm các pháp cho sự ḥa hiệp và hưng
thịnh của Tăng, cùng với hưng thịnh của quốc gia và đời
sống cá nhân của cư sỹ tại gia. Ở đây Phật cũng huyền kư
về sự hưng thịnh của Hoa tử thành (Pāṭaliputta),
mà theo sự thực lịch sử sau này là kinh đô của Đại đế
A-dục, trung tâm từ đó Phật pháp được lan tỏa sang các
nước và khắp thế giới.
Phần II:
Tại làng Trúc phương, Thế Tôn trải qua một cơn bệnh nặng
(atha kho bhagavato vassūpagatassa kharo ābādho uppajji,
bāḷhā
vedanā vattanti māraṇantikā),
mà theo tường thuật của A-nan là đă khiến cho A-nan kinh
sợ, hoảng hốt, v́ Phật có thể nhập Niết-bàn. Nhưng Thế Tôn
đă dùng năng lực của định lưu lại mạng hành (jīvitasaṅkhāraṃ
adhiṭṭhāya
vihāsi), tức kéo dài thêm sự sống một thời gian, v́ chưa
có lời di giáo cho các Tỳ kheo. Mặc dù có những dấu hiệu
dự báo Phật sắp nhập Niết-bàn, A-nan không nhận thấy nên
không có thỉnh cầu. Một lát sau, Ma Ba-tuần đến thỉnh cầu
Phật nhập Niết-bàn. Thế Tôn hứa khả. Sau đó, Phật xả thọ
hành sau khi lưu mạng hành (jīvitasaṅkhāraṃ
adhiṭṭhāya
… āyusaṅkhāraṃ
ossajji), tức là cắt đứt ḍng chảy tồn tại, nhưng duy tŕ
mạng căn hay sự sống. Phật lưu mạng hành trong thời gian
ba tháng. Từ đây cho đến sau khi thọ bữa cúng dường cuối
cùng của Châu-na hay Thuần-đà (Cunda) rồi Phật đi đến tắm
trong ḍng sông Câu-tôn (Kakuṭṭhā
hay Kakutthā), có thể được ghi nhận là đoạn đường và
khoảng thời gian mà dấu ấn vô thường, sinh-lăo-bệnh-tử thị
hiện rơ nét nhất trong cuộc đời đức Thích Tôn.
Phần III:
Từ sông Câu-tôn, Phật lại vượt qua sông Hi-liên
(Hiraññavati) rồi đến rừng Sa-la song thọ (Yamakasālā),
thuộc địa phận thành Câu-thi (Kusinārā) của ḍng họ Mat-la
(Malla). Đây là phần tường thuật những ngày và giờ cuối
cùng của đức Thích Tôn: nghi thức tẩn táng, lễ trà-tŕ,
cúng dường và phân bố xá-lợi. Phần quan trọng trong đoạn
này là những giáo huấn tối hậu Phật dặn ḍ các Tỳ
kheo những điều cần làm, pháp ǵ là chỗ nương tựa sau khi
Phật nhập Niết-bàn. Cũng quan trọng không kém trong phần
này là đoạn tường thuật sự kiện Ma-ha Ca-diếp cùng chúng
đệ tử về Câu-thi để tham dự lễ hỏa táng. Tường thuật cho
thấy vị trí của Tôn giả trong Tăng già đệ tử Phật lúc bấy
giờ, và cũng báo trước những ǵ có thể xảy ra trong hàng
các Tỳ kheo sau khi Phật diệt độ.
Cuối Kinh là phần ghi nhớ các ngày tháng trong cuộc đời
của đức Thích Tôn. Phần này chắc không phải là kết tập
nguyên thủy bởi A-nan, mà có thể do những vị lưu truyền
Kinh thêm vào sau này. Phần này không có trong bản Pāli.
3.
Kinh Điển tôn
[Tương đương Pāli: Mahāgovindasutta, D. 19]
Kinh gồm ba phần.
Phần I: Ban-giá-dực (Pañcasikha), con của nhạc thần
(gandhabba), tường thuật một buổi tập hội của chư thiên
trời Đao lị (Tāvatiṃsa).
Trong buổi quần tiên hội này, Thiên đế Thích nói cho chư
thiên nghe về tám pháp Vô đẳng nơi một vị Phật. Tám pháp
Vô đẳng là tám điều như thực (yathābhucca) chỉ có thể t́m
thấy nơi một vị Phật chứ không thể nơi nào khác (na …
aññatra tena bhagavatā). Tiếp theo đó, Phạm Thiên xuất
hiện, xác nhận tám pháp Vô đẳng, và cũng giới thiệu một
pháp Vô đẳng của Phật.
Phần II: Toàn bộ nội dung là những chi tiết về Đại
Điển Tôn, một tiền thân của Phật, được chính Phạm Thiên kể
lại cho chư thiên Đao-lị nghe. Nội dung này được
Ban-giá-dực thuật lại cho đức Phật.
Trong quá khứ, Bồ tát tức tiền thân của đức Thích Tôn, tái
sinh làm một người bà-la-môn, được vua bảy nước phong làm
Phụ tướng Đại thần, và vừa là Quốc sư của bảy vua. Chính
sự phân chia toàn thể quốc thổ thành bảy nước để bảy chi
sát-lị (khattiya) cùng cai trị cũng do đề nghị của Đại
Điển Tôn. Điều này là sự thực lịch sử liên hệ đến sự xuất
hiện các quốc gia cổ đại trong lịch sử Ấn độ. Một thời
gian sau, Đại Điển Tôn tạm gác việc nước, sống biệt cư
trong bốn tháng mùa mưa để tu tập bốn vô lượng tâm, và ông
được hội kiến với Phạm Thiên. Sau buổi hội kiến, Đại Điển
Tôn nhận ra những triền phược và những thấp kém của đời
sống thế tục, nên quyết định từ chức để xuất gia học đạo.
Lần lượt, các quốc vương, các gia chủ bà-la-môn, cùng các
phụ nữ của họ, cũng xuất gia theo Đại Điển Tôn. Sau khi
chết, tất cả đều sinh thiên. Riêng Đại Điển Tôn tái sinh
lên Phạm thiên giới.
Phần III: Ban-giá-dực thỉnh cầu Phật xác nhận
chuyện được kể bởi Phạm Thiên. Phật xác nhận Đại Điển Tôn
cũng chính là tiền thân của Phật. Tuy rằng khi sống thế
tục Đại Điển Tôn làm được lợi ích cho nhiều người, và sau
khi xuất gia cũng làm lợi ích cho nhiều người; nhưng sự tu
tập và giáo hóa ấy chưa phải là đạo cứu cánh, c̣n phải
chịu tái sinh, chịu khổ của sinh tử mặc dù có thể dẫn tái
sinh lên Phạm thiên. Chỉ đến nay đức Thích Tôn mới đạt đến
đạo cứu cánh ấy và cũng khai thị cho thế gian đạo cứu cánh
ấy, dẫn đến cứu cánh an ổn và Niết-bàn.
4.
Kinh Xà-ni-sa
[Tương đương Pāli: Janavasabhassutta, D 18]
Đề của Kinh này trong Pāli là Janavasabha, trong đó jana:
con người, vasabha: ngưu vương, có thể dịch là “Nhân trung
Ngưu vương” chỉ cho bậc thủ lănh tôn quư trong loài người
(Sớ giải Pāli: dasasahassādhikassa janassatasasassassa jeṭṭho
hutvā sotāpanno jāto, tasmā javanasabhotissa nāmaṃ
ahosi: vị ấy vốn từng là bậc nhân chủ, đứng đầu trên hàng
triệu triệu người, rồi chứng Thánh quả Dự lưu, cho nên có
tên là Janavasabha).
Trong bản dịch Hán, từ phiên âm là Xà-ni-sa, kèm theo lời
chua là “Thắng kết sử”. Bản Hán dịch đơn hành của Kinh này
có nhan đề là Nhân tiên kinh; theo đây có thể truy gốc
tiếng Phạn là Nararshabha: bậc Ngưu vương hay Đại Tiên của
loài người. Từ này xuất hiện trong Đại thừa Bồ tát tập học
luận dưới dạng là nhân trung tiên, mà nguyên h́nh có
thể t́m thấy trong Phạn bản
hiện có Śikṣāsamuccaya
của Śāntideva. Nhưng phiên âm trong bản Kinh hiện tại là
Xà-ni-sa cho phép truy gốc Phạn Janarsabha mà ư nghĩa vẫn
không thay đổi, v́ trong tiếng Phạn nara và jana có thể
dùng như đồng nghĩa. Tuy vậy, từ Phạn được giả thiết này
không hoàn toàn phù hợp với từ phiên âm ta có. V́ vậy, cần
t́m lại nguồn gốc hỗn chủng của nó, so sánh với từ Pāli.
Từ Janarsabha nói trên là dạng của Sanskrit nhă ngữ, mà
gốc hỗn chủng của nó có thể c̣n lưu lại trong Pāli là
Janesabha, từ kép của Jana (loài người với Isabha (Ngưu
vương). Trong kinh Đại hội (Pāli, Mahāsamayasutta 20) xuất
hiện từ Janesabha này và được Sớ giải đồng nhất nó với
Janavasabha. Ta thấy từ Janesabha gần với phiên âm Hán
dịch, nên có thể tạm xác nhận đây là dạng nguyên thủy của
từ đang được t́m hiểu.
Xà-ni-sa, hay Janesabha, là tên
mới của vua B́nh-sa (Tần-bà-sa-la, Bimbisāra) sau khi chết
tái sinh lên trời Đao-lị làm con trai của T́-sa-môn Thiên
vương (Vessavana).
Phần đầu của Kinh, A-nan khởi
lên nghi vấn về các đệ tử tại gia đă tạ thế tại
Ma-kiệt-đà, trong đó có vua B́nh-sa (Bimbisāra).
Tiếp theo, Xà-ni-sa mà trước
kia là vua B́nh-sa từ Đao-lị hiện xuống hầu Phật, và tường
thuật nội dung buổi luận Pháp của chư thiên Đao-lị. Khi
chư thiên tập hội, Phạm Thiên xuất hiện trong h́nh dạng
một đồng tử. Phần này tương tự như Ban-giá-dực kể với Phật
trong kinh Điển tôn. Trong buổi hội này, Phạm Thiên tŕnh
bày cho chư thiên Đao-lị các pháp vi diệu đă được Phật
thuyết: bốn niệm xứ, bảy định cụ, bốn thần túc, và ba lối
đi mà Phật mở ra cho chư thiên và loài người hướng đến
Chính giác.
5. Kinh Tiểu duyên
[Tương đương Pāli: Agaññasutta,
D 27]
Kinh nói về nguồn gốc của loài
người và xă hội loài người, h́nh thành chế độ giai cấp.
Có hai thanh niên thuộc chủng tộc bà-la-môn là Bà-tất-tra
(Vāseṭṭha) và
Bà-la-đọa (Bhāradhbāka) muốn xuất gia theo Phật và đang
trong thời gian bốn tháng cộng trú để được thọ giới cụ
túc, bấy giờ thân quyến của họ, những người cùng huyết
thống, chỉ trích kịch liệt về quyết định này. Bởi v́,
những người bà-la-môn thuộc giai cấp cao quư, là “Con của
Phạm Thiên, được hóa sinh bởi Phạm Thiên sinh từ miệng của
Phạm Thiên”, không có thể sống chung với các giai cấp thấp
hèn khác. Nhân đó, để nêu rơ sự b́nh đẳng giữa mọi người
trong xă hội, Phật nói về khởi nguyên của con người và xă
hội loài người.
Thoạt kỳ thủy, khi quả đất này được h́nh thành, chưa có
sinh vật nào tồn tại. Sau một thời gian rất dài, có một
loại chúng sinh sống bằng hỷ lạc, du hành trong ánh sáng
từ thế giới khác bay ngang quả đất, bị thu hút bởi dưỡng
chất của nó nên mất khả năng bay trong ánh sáng. Do hấp
thụ dưỡng chất trên mặt đất, thân thể nó càng lúc càng lớn
dần, càng thô kệch. Loài người bắt đầu xuất hiện. Sự thay
đổi của dưỡng chất cùng tiến hóa theo sự thay đổi thân thể
của con người, hay ngược lại; cả hai tác động lẫn nhau.
Cho đến một lúc, bắt đầu có sự phân biệt nam và nữ, và bắt
đầu có sự luyến ái và dâm dục, Cùng lúc, lúa tự nhiên xuất
hiện; loại lúa không cần gieo trồng, đun nấu. Con người cứ
sáng hái lượm, chiều dùng; chiều hái lượm, sáng dùng.
Một thời gian lâu dài sau nữa, ư niệm tích lũy bắt đầu
phát sinh, và con người đua nhau thu hoạch để tích lũy,
tài nguyên trở nên khan hiếm, từ đó nảy sinh tranh dành,
dẫn đến xung đột. Con người bấy giờ bèn thỏa thuận với
nhau phân chia đất để mỗi người tự thu hoạch phần của
ḿnh, không tranh dành nhau để gây xung đột. H́nh thức tư
hữu bắt đầu phát sinh. Nhưng rồi, có hạng chúng sinh lười
biếng hay thiếu khả năng, thu hoạch không đủ theo ham
muốn, bèn lấy trộm của người khác. Khi bị bắt, người này
chống trả. Cộng đồng nguyên thủy trở nên rối loạn. Bấy giờ
mọi người họp nhau lại, chọn một người có tướng mạo uy
nghiêm, có trí sáng suốt, và tính ngay thẳng, công bằng;
bầu người ấy lên làm thủ lănh để giải quyết những tranh
chấp, duy tŕ trật tự cộng đồng. Người ấy được gọi là “Đại
b́nh đẳng chủ”. Từ Hán dịch này, trong Pāli gọi là
Mahāsammato, trong đó, mahā tức là mahājana: đại chúng hay
cộng đồng; sammato: người được lựa chọn, được tán thành.
Như vậy, Mahāsammato là người được đại chúng hay cộng đồng
bầu lên. Trong Hán dịch, sammato được đọc là sama(to):
b́nh đẳng; như vậy đă bỏ sót nội hàm dân chủ trong khái
niệm về chính quyền nguyên thủy.
Bấy giờ mọi người cùng thỏa thuận giao ước sẽ góp một phần
thu hoạch của ḿnh cấp cho thủ lănh Mahāsammato, để ông
này không phải bận tâm việc thu hoạch mà chuyên tâm giải
quyết tranh chấp và duy tŕ trật tự cho cộng đồng. Chính
quyền nguyên thủy xuất hiện, và nhân dân có nhiệm vụ đóng
thuế để duy tŕ sự tồn tại của chính quyền. Bởi v́ người
này không sản xuất hay thu hoạch nên không có đất đai
riêng; tuy vậy, trên thực tế, tất cả đất đai cộng đồng đều
thuộc quyền phân phối của ông, cho nên ông đích thực là sở
hữu chủ, và từ đó xuất hiện giai cấp xă hội gọi là sát-lị.
Tương đương Pāli của nó là khattiya, từ này có nguồn gốc
từ khetta: đất đai, lănh thổ. Cho nên, khattiya có ư nghĩa
nguyên thủy là địa chủ.
Khái niệm chính quyền cùng với vai tṛ của nó xuất hiện
cùng lúc với sự xuất hiện của từ rāja trong tiếng Phạn.
Ngữ nguyên của từ này, theo các nhà Phạn ngữ học, có gốc
bởi động từ rāj: cai trị. Nhưng định nghĩa theo Kinh này
th́ khác, dẫn theo Pāli: dhammena pare rañjetīti kho, vāseṭṭha,
rājā, rājā, “Này Vāseṭṭha,
người làm cho những người khác vui ḷng đúng theo pháp,
người ấy là rājā.” Do dị biệt về quy luật cấu tạo ngữ vựng
nên Hán dịch không thể lột tả hết ư nghĩa được hàm trong
Pāli. Hán dịch tương đương đoạn này chỉ có thể nói:
大王。善哉。大王。於是。世間便有王名。以正法治民 “Lành thay, Đại vương!
Lành thay, Đại vương! Thế gian bèn xuất hiện từ vương,
bằng chính pháp mà trị dân.” Phổ thông, từ rājā được hiểu
là “vua” tức người cai trị; và đó là cách hiểu theo tín
ngưỡng thần quyền để vua có quyền sinh sát tối thượng.
Nhưng theo định nghĩa bởi Pāli như đă thấy, rājā là người
đứng đầu chính quyền nguyên thủy, và nhiệm vụ của người ấy
là “làm vui ḷng mọi người”; tức chính quyền nguyên thủy
do cộng đồng lựa chọn và bầu lên với nhiệm vụ trọng tài,
giải quyết những tranh chấp và duy tŕ trật tự xă hội.
Thế nhưng, xă hội càng ngày càng phức tạp, càng xuất hiện
nhiều h́nh thức tội ác, cho đến đủ cả mười nghiệp đạo bất
thiện: từ sát sinh cho đến mê tín dị đoan. Bấy giờ có
người chán ghét t́nh trạng ấy, bèn bỏ lên rừng, sống bằng
khất thực, trầm mặc tư duy. Giai cấp bà-la-môn xuất hiện
từ đó. Hán dịch không có định nghĩa về từ bà-la-môn theo
ngữ nguyên. Bản Pāli tương đương nói: pāpake akusale
dhamme vāhentī ti… brāhmaṇā
brāhmaṇā. “Họ
loại bỏ các pháp ác bất thiện, nên được gọi là bà-la-môn.”
Theo đây, tiếng Phạn brāhmaṇā
(bà-la-môn) có nguồn gốc từ đông từ căn là vāh của Pāli,
mà trong tiếng Phạn nhă ngữ nó là vṛh
hay bṛh: tước bỏ,
nhổ bỏ. Động từ căn theo tiếng Phạn nhă ngữ này cũng có
nghĩa là “làm cho lớn mạnh, tăng trưởng.” Nghĩa thứ hai
này được dùng phổ thông hơn v́ dễ liên hệ đến tín ngưỡng
thần linh hơn.
Tiếp đến, xuất hiện giai cấp t́-xá (Pāli: vessa): giai cấp
cư sỹ, của những người ưa doanh nghiệp, chất chứa tài
bảo.” Cuối cùng, xuất hiện giai cấp của những người lao
động tay chân làm nghề được xem là hèn hạ: giai cấp
thủ-đà-la (sudda).
Kinh cho thấy xă hội có giai cấp hay đẳng cấp không phải
do quy định, chỉ định của thần linh, Thượng đế, mà do quá
tŕnh phát triển của con người và xă hội loài người. Kinh
kết luận: Thế gian y cứ phân biệt giai cấp th́ sát-lị là
trên hết. Nhưng bậc nhất trên tất cả Trời và Người là
những ai đầy đủ Minh và Hành, đầy đủ Trí tuệ và Giới đức.
6.
Kinh Chuyển luân vương tu hành
[Pāli tương đương: Cakkavattisutta, D 26]
Kinh mở đầu bằng lời dạy: “Hăy tự thắp sáng cho ḿnh.” Nói
cách khác: hăy tự ḿnh là ḥn đảo an toàn cho chính ḿnh.
Trên nền tảng giáo huấn này, Phật nói về các quá tŕnh
tiến hóa và thoái hóa của xă hội loài người, bao gồm cả
vật chất và tinh thần.
Bắt đầu từ vị Chuyển luân vương đầu tiên, vua Kiên Cố Niệm
(Daḷhameni), kỷ
nguyên thịnh vượng và an lạc nhất của xă hội loài người.
Truyền đến đời thứ bảy, giá trị đạo đức không c̣n được tôn
trọng như trước; xă hội bắt đầu quá tŕnh suy thoái, nghèo
đói bắt đầu xuất hiện. Do nghèo đói mà phát sinh trộm
cướp. Do trộm cướp mà phát sinh giặc giă, chém giết. Lần
lượt các tội ác phát sinh. Mỗi thời kỳ đặc trưng bằng một
loại tội ác, và cùng theo đó với sự giảm thiểu tuổi thọ.
Từ tám vạn tuổi, giảm dần cho đến tuổi trung b́nh chỉ c̣n
mười. Bấy giờ bắt đầu thời kỳ nhân loại tương tàn và tự
hủy. Cọng cỏ trong tay trở thành vũ khí giết người. Thấy
người là giết, như thợ săn gặp nai, bất kể thân sơ.
Trong t́nh trạng tàn sát kinh hoàng đó, một số ít người
chạy trốn vào rừng, ẩn núp trong hang đá, hốc cây. Đó là
một số ít không có ác tâm tương tàn tương sát. Cho đến khi
người bị giết và kẻ giết hết sạch, nhóm người tị nạn này
lần lượt trở về đồng bằng. Họ gặp nhau, tư duy và phản
tỉnh, và khuyến khích nhau tu tập điều thiện. Đạo đức bắt
đầu quá tŕnh phục hồi, và theo đó tuổi thọ loài người
cũng tăng dần. Mỗi thời đại phát triển đặc trưng bởi một
giá trị đạo đức, từ điều thiện, từ tâm không sát sinh, cho
đến chính kiến, không tà kiến dị đoan.
Khi xă hội phát triển với đạo đức đầy đủ mười thiện
nghiệp, cho đến tôn kính sư trưởng, hiếu dưỡng cha mẹ, thọ
mạng loài người lên đến tám vạn tuổi. Bấy giờ có Phật ra
đời hiệu là Di-lặc (Metteyya). Đồng thời có Thánh vương
trị thế là Chuyển luân vương hiệu Tương-già (Saṅkha).
Ḍng tiến hóa quay trở lại điểm khởi đầu, như đă từng với
vua Kiên Cố Niệm.
Thế gian luân chuyển tuần hoàn theo sự tăng tiến hay suy
thoái của mười thiện nghiệp hay mười bất thiện nghiệp. Cực
thịnh rồi suy giảm. Cực suy lại bắt đầu hưng thịnh. Thế
gian không có cái ǵ vững chắc để nương tựa. Cho nên, để
t́m nương tựa, Tỳ kheo tu tập các thiện pháp để phát triển
hưng thịnh. Các pháp thiện này là bốn thần túc, thọ tŕ
giới bổn, thủ hộ căn môn, phát triển bốn thiền, chứng ngộ
bốn Thánh đế. Đó là quá tŕnh phát triển hưng thịnh vững
chắc nhất.
7.
Kinh Tệ-tú
[Pāli: Pāyāsisutta, D 23]
Bà-la-môn Tệ-tú (Pāyāsi) có quan điểm được gọi là hư vô
thuyết (natthivāda). Ông cho rằng “Không có thế giới khác.
Không có loài hóa sinh. Không có quả báo của tội phước”.
Không có thế giới khác, nghĩa là ngoài thế giới ta đang
sống, không có thế giới chư thiên, hay địa ngục. Ông t́m
gặp Đồng tử Ca-diếp (Kūmar-Kassapa) để chứng minh quan
điểm của ḿnh, và đưa ra hàng loạt chứng cớ được xem là cụ
thể. Ông đă làm nhiều thí nghiệm và quan sát, không thấy
có dấu hiệu ǵ chứng tỏ có linh hồn người chết. Ca-diếp
đối lại bằng hàng loạt thí dụ chứng minh những thí nghiệm
và quan sát của Tệ-tú là không chính xác, và quan điểm của
ông hoàn toàn không có cơ sở. Sau đó, Ca-diếp khuyên ông
nên bỏ tà kiến ấy đi để cho được lợi ích; nhưng Tệ-tú vẫn
chấp chặt quan điểm, với nhiều lư do. Lư do quan trọng là
vấn đề danh dự. Ca-diếp lại đưa ra hàng loạt thí dụ khác
cho thấy sự cố chấp ấy vừa ngu xuẩn vừa nguy hiểm. Cuối
cùng, Tệ-tú chịu khuất, và thú nhận đă chịu khuất phục
ngay thí dụ thứ nhất của Ca-diếp, nhưng ông muốn nghe biện
tài vi diệu của Ca-diếp nên cố t́nh bảo thủ quan điểm.
Tiếp theo, ông xin quy y với Ca-diếp, và tổ chức hội đại
thí, bố thí chẩn tế cho tất cả mọi người, theo lời khuyên
của Ca-diếp. Nhưng ông cho bố thí với loại y phục, ẩm thực
thấp kém, nên người thanh niên bà-la-môn được ông giao phụ
trách việc bố thí chỉ trích. Ông nghe theo, bố thí rộng
răi. Sau khi chết, do bố thí hà tiện, ông sinh lên trời Tứ
thiên vương, ở vị trí rất thấp.
Kinh này được nói bởi Ca-diếp Đồng tử sau khi Phật đă diệt
độ. Bản Pāli tương đương không đề cập chi tiết bấy giờ
Phật đă diệt độ, mà thêm chi tiết rằng Tệ-tú có gặp
A-la-hán Gavampati (Kiều-phạm-ba-đề) trên trời Tứ thiên
vương.
8. Kinh
Tán-đà-na
[Pāli: Udumbarikasutta, D 25]
Tán-đà-na (Sandhāna) là vị cư sỹ nổi danh sống tại thành
Vương xá. Ngoài thành có một khu vườn mang tên Ô-tạm-bà-lị
(Udumbarikā), tại đó có một nhóm phạm chí đứng đầu là
Ni-câu-đà (Nīgodha). Phạm chí ở đây là từ phiêm âm tương
đương với Pāli là paribbājaka, dịch là phổ hành giả, là
nhóm xuất gia ngoại đạo, tôn sùng khổ hạnh.
Trên đường đi lên Ḱ-xà-quật để hầu Phật, Tán-đà-na ghé
vườn Ô-tạm-bà-lị thăm. Phạm chí Ni-cầu-đà bày tỏ sự chống
đối gay gắt của ông đối với Phật, và thách thức luận chiến
với Phật. Vừa lúc ấy, Phật xuất hiện. Ni-câu-đà muốn biết
Phật dạy các đệ tử những ǵ để dẫn đến an lạc. Phật từ
chối giải thích, cho rằng với sở tri và sở hành của
Ni-câu-đà và đệ tử của ông không thể hiểu được giáo lư của
Phật, nhưng nếu họ muốn, Phật sẽ diễn giải cho họ rơ về
pháp tu khổ hành mà họ chủ trương.
Tiếp theo, Phật kể chi tiết các h́nh thức khổ hành khác
nhau được các đạo sỹ thực hành. Đó là những h́nh thức hành
xác, tự làm khổ thân bằng đủ mọi cách. Nhiều h́nh thức rất
kỳ dị. Một vài chi tiết bất đồng giữa bản Hán và bản Pāli.
Điều này có thể ảnh hưởng bởi tập quán địa phương mà kinh
này lưu truyền. Cũng có thể do nhiều h́nh thức khổ hành mà
Hán văn khó kiếm từ và cú tương đương để dịch cho được
chính xác. Dù sao, bản kinh cũng liệt kê rất chi tiết
những h́nh thức khổ hành ép xác của các nhóm đạo sỹ thời
Phật.
Ni-câu-đà xác nhận những chi tiết Phật đă kể, và ông cho
rằng sự thực hành như vậy là thanh tịnh, nghĩa là hoàn hảo
về mặt đạo đức tu tập. Nhưng Phật lại chỉ điểm những điểm
cấu uế tồn tại trong các lối tu khổ hành mà nhiều người
kính phục này. Phật lần lượt kể ra những điểm cấu uế ấy.
Bởi v́ những thực hành ấy không đủ hiệu quả để diệt tâm ô
nhiễm bởi tham lam, tật đố, tà kiến, kiêu mạn, xảo ngụy,
khen ḿnh chê người, cố chấp, … Phật lại chỉ ra những ưu
điểm trong lối khổ hành ấy: người tu khổ hành mà không bị
chi phối bởi
tham lam, sân
hận, xảo quyệt v.v… Tuy vậy, những khổ hạnh đó không phải
là chắc thật, có cốt lơi. Khổ hành chắc thật là diệt trừ
các nghiệp bất thiện, tu tập các vô lượng tâm. Những pháp
Phật dạy cho các đệ tử c̣n cao hơn thế nữa.
Ni-cầu-đà bấy
giờ liền bày tỏ sự hối hận của ḿnh, là đă ngông cuồng
thách thức Phật với Tán-đà-na.
Tiếp theo, Phật
nói với các phạm chí, mục đích Ngài đến đây không phải
thuyết pháp để tranh ảnh hưởng và các thứ lợi dưỡng. Những
ǵ họ tin tưởng, những điều họ đang có, tất cả vẫn thuộc
về họ, Như Lai không can thiệp đến. Phật đến, chỉ nêu rơ
pháp thiện và bất thiện cho những ai muốn thực hành để
được an lạc.
Phật biết rơ Ma
Ba tuần đang chi phối tâm các phạm chí. V́ không muốn quấy
rầy, nên Phật nắm tay Tán-đà-na nương hư không mà đi.
9. Kinh Chúng tập
[Pāli: Saṇgītisutta,
D 33]
Xá-lợi-phất
vâng lời Phật, thuyết pháp cho các Tỳ kheo.
Bấy giờ,
Ni-kiền Tử vừa tạ thế, các đệ tử tức th́ chia rẽ thành hai
phái, tranh chấp nhau kịch liệt. Xá-lợi-phất lưu ư các Tỳ
kheo, không thể có chuyện như vậy xảy ra giữa các đệ tử
Phật sau khi đức Đạo Sư diệt độ. Như vậy, các Tỳ kheo hăy
cùng nhau kết tập những điều Phật dạy, cùng nhau đọc tụng,
không tranh căi. Kinh này được Xá-lợi-phất thuyết, là bản
liệt kê Phật pháp dưới danh mục pháp số. Các pháp được
phân loại thành nhóm theo số thập tiến, từ nhóm một pháp
cho đến nhóm mười pháp. H́nh thức kết tập của Kinh này trở
thành cơ sở thành lập Luận tạng. Về sau, phái Hữu bộ khai
triển Kinh với chú giải chi tiết để trở thành một trong
sáu luận nền tảng gọi là Lục túc. Bản luận được Huyền
Trang dịch với nhan đề là Tập dị môn túc luận (T 1536),
với tác giả được ghi là Tôn giả Xá-lợi Tử. Đại bộ phận
giáo nghĩa Phật thuyết được kết tập khá đầy đủ trong Kinh
này.
10. Kinh Thập
thượng
[Pāli:
Dasuttarasutta, D 34]
Kinh này cũng
do Phật khiến Xá-lợi-phất thuyết cho các Tỳ kheo nhân ngày
Tăng thuyết giới. Nội dung của Kinh cũng là bản kết tập
pháp tạng theo phân loại thập tiến như kinh Chúng tập;
nhưng ở đây có điểm khác biệt là mỗi pháp số lại được chia
thành mười khoa mục như sau:
1. Thành pháp
成法,
P.
dhammo bahukāro
(pháp đa
sở tác), pháp đem lại nhiều lợi ích;
2. Tu pháp
修法,
bhāvitabbo
(ưng tu), cần
phải tu tập;
3. Giác pháp
覺法,
pariññeyyo
(ưng biến tri),
cần được nhận thức toàn diện;
4. Diệt pháp
滅法,
pahātabbo
(ưng đoạn), cần
phải loại trừ;
5. Thối pháp
退法,
hānabhāgiyo
(thuận thối
phần), dẫn đến thoái hóa;
6. Tăng pháp
增法,
visesabhāgiyo
(thắng tiến
phần), dẫn đến sự thăng tiến;
7. Nan giải
pháp
難解法,
duppaṭivijjho
(nan giải), khó lư giải, khó thể nhập;
8. Sinh pháp
生法,
uppādetabbo
(ưng sinh
pháp), cần phải làm cho phát sinh;
9. Tri pháp
知法,
abhiññeyyo
(ưng thắng
tri), cần được chứng tri;
10. Chứng pháp
證法,
sacchikātabbo
(ưng tác
chứng), cần được chứng nghiệm.
Trong pháp số
một th́ có một thành pháp cho đến một chứng pháp; trong
pháp hai th́ có từ hai thành pháp, cho đến hai chứng pháp,
v.v., cho đến nơi pháp số mười th́ có mười thành pháp, cho
đến mười chứng pháp.
11. Kinh Tăng nhất
[Pāli: không có
tương đương]
Nội dung Kinh này đại thể cũng đồng với Kinh Thập thượng;
chỉ có điểm khác là do chính Phật thuyết.
12. Kinh Tam tụ
[Pāli: không có
tương đương]
Kinh do Phật
thuyết. Nội dung cũng là kết tập pháp tạng theo danh mục
pháp số như các kinh trên. Điểm khác biệt ở đây là, trong
mỗi pháp số gồm ba khoa mục. Như trong pháp một: một pháp
dẫn đến ác thú; một pháp dẫn đến thiện thú; một pháp dẫn đến
Niết-bàn. Cho đến trong pháp mười: mười pháp dẫn đến ác thú,
mười pháp dẫn đến thiện thú, mười pháp dẫn đến Niết-bàn.
13. Kinh Đại duyên phương
tiện
[Pāli:
Mahānidānasutta, D. 15]
A-nan nhận xét:
lư duyên khởi Phật thuyết thật thậm thâm, nhưng sao Tôn giả
thấy rất dễ hiểu. Nhận xét ấy không được Phật chấp nhận.
Nhân đó, Phật giải thích các mối quan hệ của các chi. Kinh
có thể được chia làm ba phần.
Phần I:
Quan hệ các chi duyên khởi. Các mối quan hệ này, tùy theo
góc nh́n, dẫn đến ba hậu quả:
1. Mối quan hệ
dẫn đến tranh chấp và bất an của xă hội, dẫn đến khổ quả
trong hiện tại. Quan hệ các chi duyên khởi ở đây tập trung
trên ái. Bắt đầu từ ái đến lăo tử, có tất cả năm chi, nên
trường hợp này được gọi là “duyên khởi năm chi.” Lấy ái làm
gốc, (ái bản, P. taṇhāmūla),
phát sinh 9 chi: ái, cầu, lợi, dụng, dục, trước, tật, thủ,
hộ. Các chi này được gọi tên theo Pāli.:
taṇhā
(khát ái),
pariyesanā
(tầm cầu),
lābho
(thủ đắc),
vinicchayo
(quyết định, sử
dụng),
chandarāgo
(dục tham, ham
muốn hay tham lam),
ajjhosānaṃ
(tham chấp),
pariggaho
(nhiếp hộ, giữ
chặt),
macchariyaṃ
(xan lận, keo kiệt),
ārakkho
(thủ hộ, canh
giữ).
2. Mối quan hệ
dẫn đến kiến chấp, tập trung trên xúc. Từ xúc đến lăo-tử có
bảy chi, nên quan hệ ở đây được gọi là “duyên
khởi bảy chi.” Xúc có hai: hữu
đối xúc tức xúc chạm vật chất và tăng ngữ xúc hay tâm xúc
tức những xúc chạm tâm lư. Hữu đối xúc dẫn đến tham đắm ngũ
dục. Tăng ngữ xúc làm sở y cho sự phát sinh các tưởng, hay
khái niệm, từ đó dẫn đến h́nh thành nhận thức, là cơ sở của
kiến chấp.
3. Mối quan hệ dẫn đến tái sinh,
tập trung trên quan hệ thức và danh sắc. Quan hệ này có mười
chi. Hai chi vô minh và hành tuy có nhắc đến nhưng không
được giải thích rơ trong Kinh này.
Phần II:
Quan hệ các chi duyên khởi tạo thành một chỉnh thể gọi là
sinh mạng. Sinh mạng này được quan niệm là tự ngă. Có hai y
cứ làm phát sinh ư niệm hay kiến chấp về ngă: thọ và sắc.
Phần III:
Ngă tồn tại theo giới địa. Trong phạm vi bị chi phối bởi khổ
lạc, có bảy trú xứ của thức. Ngoài bảy trú xứ này, có hai xứ
tức hai trạng thái tồn tại của thức mà các tôn giáo xem là
cơi vĩnh hằng: vô tưởng xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Tất cả đều thuộc về thế gian, trong ṿng luân chuyển giới
địa của thế gian. Trên tất cả là con đường dẫn xuất thế
gian, có tám cấp bậc giải thoát của thức mà cuối cùng là
tưởng thọ diệt tận định.
14. Kinh Thích Đề-hoàn Nhân vấn
[Pāli: Sakkapañhasutta, D 21]
Những câu hỏi của Thiên đế Thích.
Kinh gồm ba phần.
Phần I:
Thiên đế Thích và chư thiên Đao-lị chuẩn bị xuống hầu Phật.
Nhạc thần Ban-giác-dực (Pañcaskhi: Ngũ Kế) được khiến đi
trước. Ông cầm cây đàn lưu ly đến trước hang đá nơi Phật
đang tĩnh tọa. Trong tầm vừa đủ nghe, ông hát bản t́nh ca
dâng cúng Phật. Bài ca nói về t́nh yêu say đắm của ông đối
với con gái của thần nhạc trưởng, nhưng không được đáp lại.
Nghe xong bài ca, Phật ngợi khen về âm điệu cũng như nội
dung. Tiếp đó, Ban-giá-dực tŕnh Phật ư của Thiên đế Thích
và chư thiên Đao-lị muốn đến hầu Phật.
Phần II:
Thiên đế Thích và chư thiên Đao-lị cùng vào trong hang đá lễ
Phật. Đế Thích nêu câu hỏi về nguyên nhân thù hận tranh chấp
giữa chư thiên và nhân loại. Phật dẫn chuỗi nhân duyên quan
hệ, từ tham lam tật đố cho đến hư luận vọng tưởng. Tức
nguyên nhân chính là từ xu hướng bất đồng.
Tiếp đến Đế Thích hỏi về con
đường diệt trừ hư luận. Phật dạy tuần tự tu tập từ chính
hành nơi thân, khẩu, ư; y nơi các thọ đáng thân cận và không
nên thân cận mà thành tựu pḥng hộ bằng giới luật nghi; y
nơi các căn mà tu tập căn luật nghi.
Phần III: Những hoài nghi thắc
mắc được giải đáp, Thiên đế Thích thuật lại tâm tư của ông
trước khi Phật xuất hiện. Khi chứng kiến chư thiên hết phước
hết thọ mà mạng chung, ông lo sợ, đi khắp nơi tầm cầu chân
lư, nhưng không được giải đáp. Rồi ông so sánh hỷ lạc mà ông
có sau khi nghe pháp với hỷ lạc mà ông có trước đây khi đánh
nhau với A-tu-la mà được chiến thắng. Đó là hỷ lạc do thắng
lợi trong đấu tranh hận thù, không thể so với hỷ lạc do được
nghe Chính pháp. Sau hết ông nêu những điều ích lợi do hỷ
lạc này mang lại, và cuối cùng là Niết-bàn giải thoát.
Ngay lúc ấy, Phạm Thiên xuất
hiện, đọc bài kệ tán thán, rồi biến mất.
Cuối Kinh, kể chuyện Thiên đế
Thích thưởng công cho Ban-giá-dực bằng cách gả con gái của
nhạc thần trưởng mà ông này say đắm cho làm vợ.
15. Kinh A-nậu-di
[Pāli: Pāthikasutta, D 24]
Tỳ kheo Thiện Tú (Sunakkhatta) từ
bỏ Phật, không theo Phật tu hành nữa, v́ Phật không chứng tỏ
cho ông hai việc: không thị hiện thần thông, không nói về
khởi nguyên của thế giới. Phật trả lời Thiện Tú: dù Như Lai
hiện hay không thị hiện thần thông, khởi nguyên thế giới
được hay không được thuyết, pháp mà Phật thuyết có mục đích
là chân chính dẫn đến diệt khổ.
Về việc thứ nhất: Thiện Tú tán thán các đạo có lối tu và
hành vi kỳ dị, cho đó là các bậc Thánh như Ni-kiền tử
Giá-la-lâu (Acela Kaḷārama)
và Cứu-la-đế (Korakkhattiya). Khi Phật bác bỏ các h́nh thức
kỳ quái ấy th́ Thiện Tú cho là Phật ganh tị với các vị Thánh
được mọi người tôn sùng. Phật cho biết họ không phải là
Thánh chỉ v́ tỏ vẻ khổ hành ép xác; v́ rồi Giá-la-lâu sẽ từ
bỏ những điều mà ông thề suốt đời giữ và chết trong băi tha
ma mất hết danh tiếng; c̣n Cứu-la-đế sẽ trúng thực mà chết.
Những điều này xảy ra sau đó đúng như vậy.
Lại khi phạm chí Ba-lê Tử tuyên bố trước đám đông sẽ sẵn
sàng đấu trí và đấu thần thông với Sa-môn Cù-đàm, Thiện Tú
rất phấn khởi về việc này. Nhưng Phật nói, Ba-lê Tử sẽ không
dám đến gặp Phật, nói ǵ đến đấu trí hay thần thông. Thiện
Tú cảnh giác Phật: “Thế Tôn hăy giữ miệng.” V́ rồi Ba-lê Tử
sẽ đến, và như vậy, Phật sẽ mất hết danh dự. Kết quả, Ba-lê
Tử thật sự không dám đi gặp Phật, mặc dù được nhiều người
t́m gặp ông tận mặt mà thúc giục.
Vấn đề thứ hai, về khởi nguyên của thế giới: Phật nêu rơ
nguồn gốc đưa đến các thuyết. Có bốn thuyết được đề cập:
nguồn gốc bởi Phạm Thiên sáng tạo, bởi sự đọa lạc của chư
thiên Hư tiếu và chư thiên Ư phẫn, và vô nhân luận. Các
thuyết này, chi tiết hơn và đầy đủ hơn, được nói trong kinh
Phạm vơng (Brahmajāla). Phật biết rơ các thuyết này, cũng
như nguồn gốc của chúng, và c̣n biết hơn thế nữa; biểt rơ
nhưng không nhiễm trước.
Cuối cùng, Phật nêu sự xuyên tạc của các sa-môn bà-la-môn
nói rằng: Sa-môn Cù-đàm dạy các đệ tử, khi họ chứng đắc pháp
thanh tịnh, họ thấy tất cả đều bất tịnh. Nhưng Phật nói, khi
đệ tử Phật chứng nhập giải thoát thanh tịnh, vị ấy thấy tất
cả đều thanh tịnh.
16.
Kinh Thiện sinh
[Pāli: Siṅgālasutta,
D 31]
Thiện Sinh mỗi sáng ra công viên
lễ bái sáu phương. Anh làm theo lời cha dặn mà không rơ ư
nghĩa ǵ. Phật bèn chỉ cho biết ư nghĩa sáu phương theo
Thánh pháp. Đó là những mối quan hệ gia đ́nh và xă hội của
một người tại gia. Nếu biết duy tŕ tốt những mối quan hệ
ấy, người tại gia được sống an lạc, tài sản không bị tổn
thất, không sợ tai họa sẽ đến.
Trước hết, đối với bản thân,
người ấy (a) tránh xa bốn hành vi xấu ác: giết, trộm, tà
dâm, và nói dối; (b) tránh bốn trường hợp xúi làm xấu: do
tham lam, do sân hận, do ngu si, do sợ hăi; (c) tránh sáu
nguyên nhân tổn thất tài sản:
1. đam mê rượu
chè, 2. cờ bạc, 3. phóng đăng, 4. đam mê kỹ
nhạc, 5. kết bạn người ác và 6. biếng lười.
Trong giao thiệp, người ấy cần
phân biệt bạn giả dối với bạn chân thật.
Về ư nghĩa sáu phương: Phương
Đông là cha mẹ, phương Nam là sư trưởng, phương Tây là thê
thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các
bậc trưởng thượng, sa-môn, bà-la-môn, phương dưới là tôi tớ.
Bản thân đối với các phương là mối quan hệ nghĩa vụ. Con giữ
trọn nghĩa vụ làm con; cha mẹ cư xử trọn phận sự cha mẹ. Cho
đến đàn việt đối với sa-môn, sa-môn đối với đàn việt. Mỗi
bên đều làm tṛn nghĩa vụ của ḿnh, như vậy bản thân, gia
đ́nh và xă hội được an lạc, thịnh vượng.
Cuối cùng, trong phần kệ tụng,
Kinh nêu bốn pháp cơ bản giữ chặt các phương quan hệ này. Đó
là bốn nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, mà Hán
dịch ở đây không rơ nghĩa. Kệ nói: Đời không có bốn việc, sẽ
không có hiếu dưỡng.
Phần kệ cũng chỉ dạy người tại
gia cần học nghề khéo, siêng năng, biết quân phân chi thu;
như thế đời sống sẽ không hao hụt, thiếu thốn.
17. Kinh Thanh tịnh
[Pāli: Pāsādikasutta, D 29]
Sau mùa an cư, Sa-di Châu-na (Cunda-samaṇuddesa)
đến hầu thăm A-nan, và tường thuật sự kiện tranh chấp nội bộ
xảy ra giữa các đệ tử Ni-kiền tử (Nigaṇṭha
Nāṭaputta) khi Thầy
vừa tạ thế, như được kể trong kinh Chúng tập (Saṇgītisutta,
D 33). A-nan liền dẫn Châu-na đến hầu Phật, thuật lại sự
kiện này. Nhân đó Phật nói về các yếu tố cơ sở mà trên đó
giáo đoàn được xây dựng sẽ dẫn đến ḥa hiệp hay chia rẽ
trong nội bộ.
Nội dung từ đây trở xuống của Kinh gồm ba phần chính: (I)
Pháp và luật, (II) An lạc hành, (III) Diệt trừ tà kiến.
I. Pháp và luật:
- Pháp luật hoàn hảo hay không hoàn hảo và đệ tử hành tŕ
hay không hành tŕ. Quan hệ này tạo thành bốn trường hợp,
trong đó, trường hợp thứ tư: pháp luật được khéo thuyết, đệ
tử khéo hành tŕ, giáo đoàn ấy sẽ đứng vững.
- Đạo sư chính giác nhưng diệt độ sớm, giáo đoàn không đứng
vững. Đạo sư chính giác chỉ diệt độ sau khi các đệ tử đă tự
ḿnh chứng ngộ đầy đủ lại c̣n có thể công bố pháp rộng răi:
giáo đoàn ấy sẽ đứng vững.
Với giáo đoàn được thiết lập và đứng vững trên cơ sở như
vậy, đời sống của mỗi thành viên trong giáo đoàn được gọi là
phạm hạnh (brahmacariya). Tùy thuộc một số điều kiện mà đời
sống phạm hạnh ấy được xem là hoàn hảo (brahmacariyaṃ
paripūraṃ). Các yếu
tố để phạm hạnh được hoàn hảo: (a) Đạo sư danh tiếng; (b)
hàng đệ tử trưởng lăo đă từ chứng ngộ lại c̣n có thể công bố
pháp rộng răi; lần lượt, các tỳ kheo, tỳ kheo ni, cho đến
nam nữ cư sỹ đều có thực chứng như vậy; (c) đời sống vật
chất không thiếu thốn.
Tăng đệ tử Phật với phạm chí đầy đủ như vậy được nói là phạm
hạnh thanh tịnh bậc nhất, “thấy mà không thấy”, nghĩa là
không thể bỏ hay thêm cho đầy đủ hơn nữa.
Phần trên đây là nói về những nguyên lư hay cớ mà trên đó
giáo đoàn được thiết lập và tồn tại. Để duy tŕ sự tồn tại
của giáo đoàn, Phật nói đến hai khía cạnh thiết thực: tri và
hành.
II. An lạc hành:
Đối với các pháp Phật đă thuyết, các tỳ kheo phải cùng ḥa
hiệp tụng đọc, thảo luận và dung ḥa dị biệt phù hợp với
Chính pháp, không dẫn đến tranh luận và tranh chấp. Đối với
giới luật, tỳ kheo sống tri túc với ăn, mặc, chỗ ở và thuốc
thang; không bị lôi cuốn bởi ngũ dục. Đời sống an lạc mà đệ
tử Phật mong cầu là những an lạc không bị chi phối bởi ngũ
dục, năm triền cái; là hiện pháp lạc trú do chứng đắc bốn
thiền, là lạc vô lậu do chứng bốn Thánh quả, là lạc do ái
tận giải thoát của A-la-hán với chín điều bất hành.
III. Diệt tà kiến:
Sau hết là phân biệt chính kiến và tà kiến. Hết thảy sở kiến
được chia làm hai: kư thuyết và không kư thuyết. Những ǵ
thuộc quá khứ tối sơ, tưong lai mạt kiếp, Phật đă thấy đă
biết, nhưng nếu không ích lợi thiết thực, không dẫn đến ly
dục tịch tịnh, Niết-bàn, Phật không kư thuyết, tức không nói
về các pháp ấy. Phật chỉ nói những ǵ ích lợi thiết thực, v́
dẫn đến chứng ngộ; nghĩa là người nghe có thể tự chứng
nghiệm chân lư ấy bằng sự giác ngộ của ḿnh.
Có 14 vấn đề vô kư thuyết, không được Phật giảng nói: thế
giới thường hằng hay không thường hằng…; thế giới hữu hạn
hay vô hạn…, như liệt kê trong kinh.
18.
Kinh Tự hoan hỷ
[Pāli: Samapasādanīyasutta, D 28]
I. Xá-lợi-phất sư tử hống.
Xá-lợi-phất tuyên bố: Trong quá khứ, hiện tại, vị lai, không
có sa-môn, bà-la-môn nào có trí tuệ, thần túc có thể sánh
ngang với Phật. Tuyên bố như vậy được gọi là sư tử hống. V́
sao?
II. Tổng tướng pháp.
Xá-lợi-phất không thể biết tâm tư của Phật, không biết rơ
chư Phật có giới như vậy, pháp như vậy, trí tuệ như vậy,
giải thoát như vậy, nhưng căn cứ vào pháp tổng tướng mà xác
tín như lời tuyên bố. Pháp tổng tướng (dhammanvaya) là những
điều được diễn dịch từ chứng nghiệm trực tiếp của ḿnh.
Những pháp ấy được liệt kê gồm có, theo thứ tự từ thấp lên
cao: phân biệt pháp đen, pháp trắng, hai phần đối trị nhau.
Thứ đến, chế pháp, là các pháp được Phật thiết lập mà hành
tŕ có kết quả, đó là: bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn thần
túc, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chi
Thánh đạo. Thứ đến, phân biệt các nội ngoại xứ. Pháp được
thuyết càng lúc càng vi diệu: bốn nhập thai, bảy giác chi,
bốn thông hành, hành vô thượng ngôn thanh tịnh, kiến đẳng
chí, thường trú luận, quán tha tâm, giáo giới, giới thanh
tịnh, túc mạng trí, thiên nhăn trí, thần túc thông. Do các
pháp vi diệu như vậy, hành tŕ có kết quả như vậy, nên biết
pháp được khéo thuyết bởi Phật, là bậc Chính đẳng giác.
III. Phật ấn chứng.
Được Phật hỏi, Xá-lợi-phất trả lời: Trong quá khứ và trong
đời vị lai, đă có và sẽ có nhiều vị ngang bằng Phật. V́ đă
có nhiều Phật xuất hiện trong quá khứ và sẽ có nhiều Phật
xuất hiện trong đời vị lai. Nhưng trong hiện tại, không ai
có thể sánh. V́ trong một thời, không bao giờ có hai đức Như
Lai cùng xuất hiện.
Phật xác nhận những điều Xá-lợi-phất đă thuyết, và nhân đó
nói với vị thị giả bấy giờ là Ưu-đà-di về đức thiểu dục tri
túc nơi Phật. Thiểu dục tri túc ở đây được hiểu là hài ḷng,
không tự măn. Nghĩa là, những điều Phật chứng ngộ và thuyết,
là pháp tính tự nhiên như vậy, không có ǵ để phải nói xứng
đáng được tán thán nhiều hơn hay tán thán ít hơn.
19.
Kinh Đại hội
[Pāli: Mahāsamayasutta, D 20]
Kinh này có thể xem là mang dấu ấn của Mật giáo, hay chứa
đựng mầm mống tư tưởng Mật giáo được phát triển sau này.
Đây là bản liệt kê danh sách hầu như đầy đủ các thần linh
được tin ngưỡng thời Phật hay sau đó. Phật trú tại
Ca-t́-la-vệ, cùng với 500 tỳ kheo. Trước hết, chư thiên Tịnh
cư hiện đến. Sau đó lần lượt, nhiều loại quỷ thần cũng xuất
hiện. Chư thiên ở đây bao gồm các đại thiên thần diệu, tức
chư thiên có uy lực rất lớn, có bốn Đại Thiên vương, các
thần trú trên các núi non, hang động danh tiếng khắp nơi,
cùng các địa thần. Mỗi thiên thần thủ lănh dẫn theo vô số
quỷ thần: càn-thát-bà, dạ-xoa, la-sát, v.v…
Dấu ấn Mật giáo trong bản Pāli tương đương khá mờ nhạt;
nhưng trong bản Hán dịch th́ rất hiển nhiên. Điều này tất do
ảnh hưởng các địa phương khác nhau nơi mà bản Kinh được lưu
hành đọc tụng.
Trong Kinh, ngoại trừ danh hiệu các thiên thần, các quỷ
thần, những từ c̣n lại đều có thể dịch nghĩa nhưng Hán dịch
đă không làm như vậy, mà phiên âm tất cả, cho nên nhiều đoạn
kệ trở thành các đoạn thần chú. Đó cũng là yếu tố khiến Kinh
này trong bản Hán có xu hướng Mật giáo.
20.
Kinh A-ma-trú
[Pāli: Ambaṭṭhasutta,
D 3]
Bà-la-môn Phất-già-sa-la (Pokkharasāti) hay tin Phật đang
đến ngụ trong địa phương của ḿnh, và từ lâu ông cũng nghe
đồn rằng Sa-môn Cù-đàm có đủ ba mươi hai tướng của bậc đại
nhân; mà ông th́ rất rành về khoa tướng pháp này. Theo khoa
này nói, ai có đủ ba mươi hai tướng đại nhân, nếu tại gia sẽ
trở thành Hoàng đế Chuyển luân thống trị cả bốn châu thiên
hạ; nếu xuất gia sẽ thành bậc Đại giác. Ông muốn chứng thật
lời đồn này, nên sai đệ tử tâm đắc là thanh niên A-ma-trú,
cũng đă được ông truyền dạy kỹ về khoa tướng pháp, đến gặp
Phật để chứng kiến xem lời đồn có đúng như vậy không.
Khi đến gặp Phật, A-ma-trú tự cao về huyết thống giai cấp,
tự hào về sở học, nên tỏ thái độ khinh mạn với Phật. Phật
bèn nói thẳng với A-ma-trú là anh chàng không được giáo dục.
Tức giận v́ bị Phật gọi là vô giáo dục, thanh niên này buông
lời sỉ nhục Phật và ḍng họ Thích. Nhân đó, Phật bèn hỏi anh
thuộc ḍng họ nào. Anh nói, ḍng họ Thanh vương.
Phật liền dẫn giải gốc tích cho biết, như
vậy tổ tiên của A-ma-trú nguyên
là con trai của một nữ tỳ của các vương tử họ Thích thời
xưa. Tiếp đó, Phật bảo A-ma-trú xác nhận điều này, nhưng anh
ngần ngại. Phật chỉ cho biết thần Kim cang Lực sỹ đang cầm
chày sắt đứng ngay trên đầu, nếu không xác nhận câu hỏi của
Phật, sẽ bị đánh vỡ đầu. Hoảng sợ, anh xác nhận những điều
Phật vừa kể là sự thực lịch sử của ḍng họ anh. Điều này làm
cho A-ma-trú mất hết khí ngạo mạn lúc đầu.
Bấy giờ Phật mới đặt vấn đề với
A-ma-trú về sự ưu việt trong các giai cấp. Liên hệ vấn đề
này, A-ma-trú tất nhiên tự nhận thuộc giai cấp bà-la-môn là
cao nhất trong xă hội. Phật nguyên là vương tử họ Thích,
thuộc giai cấp sát-lị, điều này khỏi phải nói.
Đức Phật giả thiết một người nữ
sát-lị lấy chồng bà-la-môn, con trai của người bà-la-môn này
không được hưởng các quyền lợi bên sát-lị. Mặt khác, nữ
bà-la-môn gă cho nam sát-lị, con trai của người này vẫn
hưởng được các quyền bên mẹ là bà-la-môn. Như vậy, xét về
đặc quyền, giai cấp sát-lị ưu việt hơn. Nhưng, Phật nói thế
gian y cứ chủng tộc nên sát-lị là nhất; duy chỉ ai đầy đủ
Minh và Hành mới là tối thắng trên cả Trời và Người.
A-ma-trú liền hỏi Phật về ư nghĩa
Minh Hành này. Phật dẫn giải quá tŕnh tu tập để thành tựu
Minh và Hành, kể từ một thiện nam tử chí tín xả tục xuất
gia, thành tựu giới, thành tựu căn luật nghi, sống tri túc,
tu tập chính niệm chính tri, đoạn trừ năm triền cái, lần
lượt chứng sơ thiền cho đến tứ thiền, và tiếp theo là các
thắng trí: thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm trí, túc
mạng trí, sinh tử trí, lậu tận trí: “sinh đă dứt, phạm hạnh
đă vững, điều cần làm đă làm xong, không c̣n tái sinh đời
sau nữa.”
Thành tựu Minh Hành đến như vây,
không c̣n ǵ tối thượng hơn.
Những ẩn sỹ sống trong rừng sâu,
ăn củ, ăn trái cây rừng; hoặc cất am tranh thờ lửa, sống gần
thôn xóm, hoặc tại ngă tư đường cất nhà bố thí; những hành
vi như vậy là sự thoái thất đối với Minh Hành, không
thể dẫn đến thành tựu Minh Hành. Ngay cả bốn điều như vậy
thầy tṛ A-ma-trú vẫn không thể thực hành được; nhưng họ lại
ngông cuồng ngạo mạn về sở tri và sở hành của ḿnh, khinh
thường Sa-môn Thích tử cho là thuộc giai cấp thấp hèn.
Tiếp theo đó, Phật nêu gương các Tiên nhân cổ đại, những vị
soạn tập các kinh thơ, các tán tụng mà đương thời các
bà-la-môn học theo để trở thành Tiên nhân như họ, để được
tái sinh lên Phạm thiên. Không phải chỉ thuật lại, phỏng
theo lời các Tiên nhân cổ là có thể trở thành Tiên nhân. Các
bà-la-môn nay muốn học theo Thiên nhân cổ nhưng sống xa hoa
trong các dinh thự mà mong trở thành như Tiên nhân. Điều này
chẳng khác nào một kẻ thấp hèn thuật lại lời của vua
Ba-tư-nặc được nghe lỏm đâu đó, không thể v́ vậy mà trở
thành đại thần của vua Ba-tư-nặc.
Đến đây, tất cả thái độ ngạo mạn ban đầu của thanh niên
A-ma-trú, ngạo mạn về huyết thống giai cấp, ngạo mạn về
tŕnh độ học thức; tất cả hoàn toàn sụp đổ. Phật bảo, thôi,
bỏ qua chuyện này, mà hăy nhớ lại mục đích anh đến đây. Mục
đích đó là t́m hiểu tướng pháp. Sau khi quan sát đầy đủ các
tướng hảo nơi Phật, A-ma-trú cáo từ.
Phất-già-sa-la đứng chờ sẵn học tṛ nơi cửa. Ông bảo
A-ma-trú tường thuật lại buổi hội kiến. Nghe xong, ông nổi
cơn thịnh nộ, đạp A-ma-trú té ngữa. Người học tṛ thông minh
của ông đă đi bêu xấu ông, đă khiến cho thầy tṛ ông đọa địa
ngục. Rồi ông thân hành đi gặp Phật. Tự ḿnh quan sát đầy đủ
các tướng hảo của Phật, ông phát sinh tín tâm, thỉnh Phật và
Tăng về nhà thọ thực.
Hôm sau, Phật cùng chúng Tỳ-kheo đến nhà của Phất-già-sa-la
nhận trai Tăng cúng dường. Ăn xong, Phật thuyết pháp cho ông
nghe. Sau thời pháp, Phất-sa-già-la liền đắc Sơ quả. Ông
phát nguyện trọn đời quy y Tam bảo, thọ tŕ năm giới làm
người ưu-bà-tắc.
Bảy ngày sau, Phất-già-sa-la phát bịnh và mất. Phật thọ kư,
ông đắc quả Bất hoàn, tái sinh lên Tịnh cư thiên và sẽ nhập
Niết-bàn tại đó, không trở lại nơi này nữa.
21.
Kinh Phạm vơng
[Pāli: Brahmajālasutta, D 1]
Có hai thầy tṛ Phạm chí, nhóm tu ngoại đạo (paribbājaka:
phổ hành giả, du sỹ ngoại đạo) là Thiện Niệm (Suppiya) và
Phạm-ma-đạt (Brahmadatta) đi theo sau Phật và các Tỳ-kheo
trên con đường đến Trúc thôn. Một người chê bai Phật bằng đủ
mọi cách; một người ngợi khen Phật cũng bằng đủ mọi cách.
Các Tỳ-kheo tập họp tại giảng đường, bàn luận về sự kiện
này. Phật dạy các Tỳ kheo, không hoan hỷ khi được tán thán,
cũng không ưu sầu khi bị chê bai. Sự khen chê của hai thầy
tṛ kia chỉ do ảnh hưởng bởi khác biệt kiến giải, tư duy,
thân cận. Những điều mà phàm phu tán thán Như Lai chỉ dựa
trên những tiểu tiết về giới luật. Chỉ có kẻ trí mới biết
tán thán Phật v́ những pháp thâm diệu hơn.
Tiếp theo, Kinh gồm hai phần chính.
Phần I: Tán thán về giới. Các điều về giới ở đây cũng
giống như trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭhasutta,
D 3), nhưng văn dịch không thống nhất. Phần này bao gồm ba
đoạn nhỏ: (a) những điều khoản liên hệ đạo đức căn bản của
người xuất gia; (b) sinh hoạt ác hành, tức những tṛ tiêu
khiển không tốt gây chướng ngại đạo; (c) sinh hoạt tà mạng,
là bằng các phương tiện và tà thuật mà mưu sinh.
Phần II: Đây là phần trọng tâm của kinh. Đức Phật nêu
ra tất cả luận thuyết về vũ trụ và nhân sinh đương thời, bao
gồm trong 62 loại, gọi là “Lục thập nhị kiến”. Tất cả luận
thuyết này y cứ trên hai phần thời gian: y cứ tối sơ, gọi là
bản kiếp bản kiến, liên hệ đến khởi nguyên của thế giới.
Phần thứ hai là y cứ tương lai mạt kiếp, gọi là mạt kiếp mạt
kiến. Từ hai y cứ này xuất hiện 62 luận thuyết như sau:
i. Bản kiếp bản kiến (pubbantakappikā), tổng quát có
18 luận thuyết:
- 4 thường trú luận (sassatavāda), chủ trương ngă và
thế giới là thường hằng, bất biến. Ba trường hợp đầu, y vào
mặc khải; trường hợp thứ tư, y vào suy lư.
- 4 bán thường trú luận (ekaccasassatavāda), bản ngă
và thế giới một phần thường trú và một phần không thường
trú, chịu biến dịch. Tức duy chỉ Brahman (Thượng đế) là
thường hằng bất biến, ngoài ra đều chịu biến dịch.
- 4 hữu biên vô biên luận (antānantavāda), tự ngă và
thế giới là hữu biên (hữu hạn), vô biên (vô hạn) và vừa hữu
vừa vô biên (phương trên có giới hạn, bốn phương th́ vô
biên). Ba trường hợp này y vào mặc khải; trường hợp thứ tư y
vào suy lư.
- 4 ngụy biện luận (anarāvikkhepavāda).
- 2 vô nhân luận hay ngẫu nhiên luận
(adhicca-samuppannavāda), thế giới này do ngẫu nhiên, không
bởi nguyên nhân nào cả, xuất hiện từ hư vô.
ii. Mạt kiếp mạt kiến (aparantakappikā), bao gồm 44
luận thuyết:
- 16 hữu tưởng luận (saññīvāda): đời sau có tưởng
đồng thời có sắc (hữu h́nh), hoặc không sắc (vô h́nh), có
biên (hữu hạn), hay không có biên (vô hạn), thuần lạc, hay
thuần khổ, tưởng cục bộ hay tưởng vô lượng, v.v…
- 8 vô tưởng luận (asaññīvāda), đời sau có sắc, không
có tưởng, v.v…
- 8 phi tưởng phi phi tưởng luận
(nevasaññīnāsaññīvāda), đời sau không phải có tưởng cũng
không phải không có tưởng, v.v…
- 7 đoạn diệt luận (ucchedavāda),
- 5 hiện tại Niết-bàn luận (diṭṭhadhammanibbānavāda),
năm dục là Niết-bàn trong hiện tại, hoặc Sơ thiền, cho đến
Tứ thiền, là Niết-bàn trong hiện tại.
Đoạn cuối Phật chỉ nguyên nhân phát sinh các kiến chấp ấy:
các quan điêm này tùy thuộc tŕnh độ các cảm thọ. Do căn,
cảnh, thức, ba sự ḥa hiệp sinh thọ. Thọ là duyên cho ái; ái
là duyên cho thủ, thủ duyên hữu… cho đến, tập khởi thuần đại
khổ tụ. “Nếu Tỳ-kheo biết rơ như thực sự tập khởi của sáu
xúc, sự diệt tận, vị ngọt, tai họa và sự xuất ly của xúc,
Tỳ-kheo ấy là người tối thắng, vượt ngoài các kiến ấy.”
Do thâu tóm tất cả mọi kiến chấp, như người chài tóm tất cả
cá trong một tấm lưới, Kinh được gọi là Phạm vơng, “lưới
Phạm thiên”. Bản Hán dịch này gọi là Phạm động, nghi là do
âm tương tợ trong truyền bản: Brahmajāla (Phạm vơng) đọc
thành Brahmacāla (Phạm động). Bản dịch Luật Tứ phần cũng gọi
Kinh này là Phạm động. Trường A-hàm và Luật Tứ phần được
phiên dịch đồng thời, cách nhau vài năm, trong niên hiệu
Hoẳng thủy đời Hậu Tần. Vậy nếu không do nhầm lẫn sao chép,
hay đọc sai âm gốc, có thể Kinh này trong phái Đàm-vô-đức
(Dharmagupta) đọc như vậy. Trong các bản Hán dịch khác, như
T 21, hay một bộ luật của Đại thừa, đều gọi là Phạm vơng.
Kinh cũng c̣n được đặt tên là Nghĩa động, Pháp động, Kiến
động, Ma động. Tất nhiên, những chữ động này đều có thể hiểu
là vơng (lưới).
22.
Kinh Chủng đức
[Pāli: Soṇadaṇḍasutta,
D 4]
Bà-la-môn Chủng Đức (Soṇadaṇḍa)
đang tổ chức đại tế đàn, tức đại lễ hiến hy cúng tế thần
linh. Tế đàn này rất lớn và rất tốn kém. Khi hay tin Phật du
hành đang đến ngụ tại địa phương ḿnh, ông liền đến tham
khảo nghi thức đại tế đàn nơi Phật.
Đức Phật không giải thích trực tiếp, mà thuật lại một đại tế
đàn được tổ chức trong thời quá khứ xa xưa.
Điều kiện cơ bản để tổ chức đại tế đàn là quốc dân phải an
cư lạc nghiệp. Nhân đó Phật kể lại biện pháp kinh tế mà quốc
vương bấy giờ áp dụng: cấp vốn cho người đi buôn, cấp ḅ,
bê, thóc giống cho người làm ruộng; tạo điều kiện cho dân
chuyên tu nghề nghiệp của ḿnh. Sau khi nước giàu binh mạnh,
vua tổ chức đại tế đàn.
Đại tế đàn được tổ chức với đầy đủ mười sáu yếu tố, gọi là
mười sáu tư cụ:
1. Bốn tư trợ: vua truyền hịch bố cáo cho bốn thành phần
tham gia, bao gồm nội cung, thái tử, quần thần, tướng sỹ.
Nói chính xác, bao gồm hoàng thân, triều thần, tăng lữ, và
dân chúng.
2. Tám thành tựu của quốc vương, là những phẩm chất mà quốc
vương phải có, từ huyết thống, cho đến tri thức, vơ nghệ…
3. Bốn thành tựu của đại thần, tức quan tể tướng của vua
cũng phải đủ các phẩm chất cần thiết, bao gồm huyết thống,
học thức, khả năng ngôn ngữ và mưu lược.
Trước khi cử hành đại tế, vị phụ tướng đại thần kiểm điểm
tất cả điều kiện cần thiết, gọi là mười sáu khai giải. Trong
khi tế đàn diễn tiến, có nhiều hạng người đến xin bố thí,
vua cần bố thí b́nh đẳng, không hoài nghi người ấy hành mười
thiện nghiệp hay mười bất thiện nghiệp. Đây gọi là mười hành
sự hay mười tính cách của những người đến tham dự trong lúc
cử hành tế đàn. Tiếp theo, vị đại thần cũng giải thích để
vua không sinh tâm hối tiếc về việc tổ chức này, gọi là ba
hối tâm. Tế đàn được hỗ trợ với bốn thành gọi là bốn tư trợ
mà vua đă truyền hịch bố cáo cho biết. Mỗi tư trợ cử hành
các lễ phụ tại bốn cổng kinh thành.
Tế đàn có ư nghĩa, mang lại kết quả thiết thực, là không
giết ḅ, dê và các chúng sinh; chỉ dùng bơ, sữa, dầu mè,
mật, đường đen, đường mía.
Sau khi nghe Phật tường thuật chi tiết, Cứu-la-đàn-đầu trầm
ngâm suy nghĩ. Với chi tiết được kể như vậy, h́nh như chính
Phật là người đă trực tiếp tham dự đại tế đàn hồi đó. Ông
nói ư nghĩ này với Phật. Đức Phật xác nhận, quả thật, quốc
vương thời đó chính là tiền thân của Phật.
Rồi ông hỏi, có nghe tế tự nào mà
kết quả phước báo hơn thế không? Phật trả lời là có. Và lần
lượt kể từ thấp lên cao, từ bố thí cho Tăng, cho đến tự ḿnh
tu tập, thành tựu giới, đắc bốn thiền, các thắng trí, cho
đến chứng đắc ba minh, lậu tận giải thoát, là tế đàn ít tốn
kém nhất mà thành tựu kết quả cao nhất. Chi tiết đoạn này
giống như đă nói trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭhasutta,
D 3).
Cứu-la-đàn-đầu rất hoan hỷ, phát
khởi tín tâm, thỉnh Phật và Tỳ-kheo Tăng về nhà để cúng
dường.
Hôm sau, Phật cùng chúng Tăng đến
nhà ông để nhận trai tăng cúng dường. Sau khi ăn xong, Phật
thuyết pháp. Bà-la-môn sau khi nghe pháp liền đắc sơ quả,
phát tâm quy y, thọ tŕ năm giới.
Bảy ngày sau, Cứu-la-đàn-đầu mất.
Phật thọ kư, ông đắc quả Bất hoàn, tái sinh lên Tịnh cư
thiên và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không trở lại nơi này nữa.
23. Kinh Kiên cố
[Pāli: Kevaṭṭasutta,
D 11]
Kinh này Phật nói rơ giá trị của
thần thông. Các tôn giáo đều yêu cầu giáo chủ hiện thần
thông, làm phép lạ. Một số đệ tử Phật cũng thỉnh cầu Phật
thị hiện thần thông, làm phép lạ, để cho người đời dễ tin
tưởng. Vị Cư sỹ Kiên Cố (Kevaṭṭa/
Kevaddha) trong Kinh thỉnh cầu như vậy. Phật từ chối, và nêu
lên ba loại thần thông, gọi là ba thị đạo (tīṇi
pāṭihārriyāni),
tức ba sự thị hiện lôi cuốn người khác, khiến người kinh
ngạc, thán phục v́ sự thần kỳ: (a) Thần biến thị đạo
(iddhipāṭihāriya),
là hiện các phép thần thông biến hóa như một thân thành
nhiều thân, đi trong hư không như chim, đi xuyên qua vách
đá… (b) Kư tâm thị đạo (ādesanāpāṭihāriya),
đọc rơ tâm của người khác, biết rơ người đang nghĩ ǵ. (c)
Giáo giới thị đạo (anusāsanīpāṭihāriya),
giáo dục, dạy người xấu trở thành tốt, biến kẻ hung ác thành
người thiện. Trong ba loại, Phật chỉ nhận giáo hóa thị đạo
là sự thị hiện thần thông phép lạ kỳ diệu nhất.
Nhân đó, Phật kể chuyện một
Tỳ-kheo đă đắc thần thông, nhưng không biết rơ bốn đại này
khi diệt tận th́ trở về đâu. Ông vận thần thông lên hỏi chư
thiên. Không vị nào biết để trả lời. Ông lần lượt lên cung
trời cao hơn. Cuối cùng lên đến Phạm Thiên. Khi được hỏi,
Phạm Thiên không trả lời trực tiếp, mà lại tuyên bố: “Ta là
Đại Phạm, là đấng Vô Năng Thắng, thống lănh một ngh́n thế
giới, phú quư, tôn quư, hào quư, hoàn toàn được tự tại, có
khả năng tạo hóa mọi vật, là cha mẹ của chúng sinh.” Tức là
Thượng đế Toàn năng, Toàn trí. Vị Tỳ-kheo yêu cầu trả lời
câu hỏi chứ không cần đến tuyên bố ông là thế nào. Phạm
Thiên thú nhận là không biết, và đề nghị trở về Ḱ viên hỏi
Phật.
Tỳ-kheo này trở về Ḱ viên hỏi
Phật. Phật kể chuyện ngụ ngôn, như con chim của người đi
biển được thả ra t́m bờ. Nếu t́m thấy bờ, nó đi luôn. Nếu
không thấy bờ, nó quay trở lại thuyền. Tỳ-kheo này cũng vậy,
đi suốt mấy cơi, không t́m ra giải đáp mới trở lại với Phật.
Đó là ư nghĩa thần thông trong
Phật pháp.
25. Kinh Lơa h́nh phạm chí
[Pāli: Kassapasīhanādasutta, D 8]
Một người ngoại đạo xuất gia, tu
theo hạnh lơa thể, gặp Phật và hỏi rằng, người ta nói Phật
chỉ trích các pháp khổ hành, như vậy có xuyên tạc không?
Phật trả lời, những điều Phật chỉ
trích hay tán thán, thường được hiểu và giải thích một
chiều, do đó thường là xuyên tạc. Đối với pháp khổ hành cũng
vậy, không phải Phật hoàn toàn chỉ trích.
Do đó, để hiểu những điều Phật
nói mà không xuyên tạc, cần biết phân biệt tỉ giảo những
pháp ǵ đồng và bất đồng giữa Phật và các giáo phái khác.
Trong đó, những pháp thiện và bất thiện nào mà Phật thuyết
không đồng với ngoại đạo; với những pháp này cần biết phân
biệt tỉ giảo giữa Tông sư với
Tông sư, giữa đệ tử và đệ tử. Căn cứ để phân tích tỉ giảo
đúng, là đạo tích, tức y cứ trên sự hành tŕ, dẫn đến kết
quả thiết thực trong hiện tại. Căn cứ đó là bảy giác chi, từ
trạch pháp cho đến xả. Trong bản Pāli tương đương, đạo tích
được nói ở đây là Thánh đạo tám chi.
Tuy
thừa nhận đó là đạo tích để pháp đoán điều được thuyết đúng
hay không đúng, nhưng Ca-diếp vẫn cho rằng pháp khổ hành duy
nhất là pháp của Sa-môn, Bà-la-môn, tức pháp chân chính.
Những pháp khổ hành này đă được kể chi tiết trong Kinh
Tán-đà-na (Udumbarikasutta, D 25).
Phật nói, những lối khổ hành ấy ngay đến phụ nữ nếu muốn vẫn
có thể hành theo được. Chúng không có ǵ đáng gọi là khó
hành để tác thành phẩm chất Sa-môn, Bà-la-môn, nếu người
thực hành mà thiếu giới và tuệ.
Ca-diếp hỏi giới và tuệ ấy là ǵ, Phật giải thích như đă nói
trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭhasutta,
D 3). Nhưng ở đây chỉ kể đến tứ thiền, an lạc ngay trong
hiện tại. Bản Pāli nói lược hơn: Tỳ-kheo tu từ tâm, không
nhuế, không hại, lậu tận, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Dù
vậy, Ca-diếp vẫn cho rằng khổ hành là pháp khó hành nhất,
khó biết nhất của Sa-môn. Phật nói, đó chỉ là cách nói theo
nhận thức phổ thông của thế gia, Nếu chỉ ở truồng, nằm trên
đất, trên phân, v.v., mà là khổ hạnh khó hành, th́ một phụ
nữ cũng có thể biết. Biết như vậy chỉ là bề ngoài, chứ không
thể biết tâm hành giả khổ hành ấy có nhuế hay không nhuế,
hại hay không hại. Tối thượng, tối thắng, duy chỉ với vị đă
thành tựu giới, thành tựu tuệ, đắc tam minh, chứng lậu tận
trí.
Nói
như vậy không phải là Phật hoàn toàn phủ nhận giá trị của
các pháp khổ hành. Một thời, khi Phật ngụ trong hang Thất
diệp Cao sơn, thành Vương xá, cũng đă từng nói pháp khổ hành
cho phạm chí Ni-câu-đà như trong kinh Tán-đà-na
(Udumbarikasutta, D 25).
Sự
thuyết pháp của Phật như vậy được gọi là sư tử hống, v́
không do dự sợ hăi trước bất cứ chúng hội nào. Những ai
nghe Phật thuyết đều sinh
tín tâm, tu tập theo, cho đến cứu cánh phạm hạnh, chứng vô
dư Niết-bàn.
Sau thời luận pháp, Lơa h́nh
Ca-diếp phát sinh tín tâm, cầu xuất gia, thọ cụ túc. Một
thời gian sau, do tinh cần tu tập, ông đắc quả A-la-hán.
26. Kinh Tam minh
[Pāli: Tevijjasutta, D 13]
Cho đến thời đức Thích Tôn, kinh
điển Vệ-đà được lưu truyền chỉ mới ba bộ mà trong Hán dịch
thường gọi là Tam minh (tevijjā). Đay không phải là tam minh
trong sự chứng đắc của một vị A-la-hán. Kinh này gọi là Tam
minh, chỉ cho ba Vệ-đà, v́ nội dung đề cập tín ngưỡng căn
bản của Bà-la-môn, là sinh lên Phạm thiên giới, cộng trú với
Phạm thiên (Brahman). Thuyết cộng trú Phạm thiên về sau phát
triển thành chủ đề triết học và thần học trong trường phái
Phệ-đàn-đà (Vedānta) và Di-man-tát (Mimāṃsā).
Kinh Phật không hoàn toàn bác bỏ
tín ngưỡng Phạm Thiên. Vị trí của Phạm Thiên trong ṿng lưu
chuyển sinh tử cũng như nguồn gốc phát sinh tín ngưỡng Phạm
thiên, được nói rơ trong kinh Phạm vơng (Brahmajālasutta, D
1).
Bấy giờ có hai thanh niên
bà-la-môn là Bà-tất-tra (Vāseṭṭha)
và Phả-la-đọa (Bhāradvāja) tranh luận với nhau về con con
đường nào chân chính dẫn lên Phạm thiên, theo Bà-la-môn
Phất-già-sa-la (Pokkharavāti) hay Đa-xá-lê (Tārukkha). Mỗi
người bảo thủ quan điểm của ḿnh. Họ đề nghị cùng đến tham
khảo Phật.
Đức Phật lần lượt theo truyền
thuyết lần đến các Đạo sỹ tối thượng cổ, từ đó xuất phát về
truyền thuyết cộng trú Phạm Thiên; được xác nhận là tất cả
các vị Cổ Tiên nhân đó chưa ai thực sự thấy Phạm Thiên, mặc
dù họ là những vị tinh thông Tam minh, soạn các thị tụng tán
ca, tập thành Thánh điển Vệ-đà. Thực sự trong Kinh Phật cũng
có nhiều trường hợp nói đến sự diện kiến Phạm Thiên, nhưng
đó hầu hết hoặc là tiền thân Bồ tát, hoặc các đệ tử Phật.
Đức Phật nêu lên ba thí dụ chỉ rơ ư nghĩa truyền thuyết từ
những người không tự ḿnh trực tiếp chứng kiến là không đáng
tin tưởng. Thứ nhất, như một người đàn ông kể chuyện ḿnh
yêu một phụ nữ, nhưng hỏi về diện mạo, ḍng họ, gia đ́nh, xứ
sở của người nữ, th́ anh ta không biết ǵ cả. Sự tường thuật
ấy là hư dối.
Thứ hai, một người bắc thang muốn leo lên hư không mà nói là
đang leo lên nhà trên; như thế là vọng tưởng. Những người
không biết rơ Phạm Thiên ở đâu mà muốn được tiếp nhận lên
Phạm Thiên th́ cũng vậy.
Thứ ba, như một người muốn qua sông A-di-la; đứng bên này mà
gọi bờ, th́ bờ kia không thể xáp lại bên này để cho bước qua
được, trừ phi người ấy phương tiện làm bè. Cũng vậy, người
bị ràng buộc với ngũ dục mà mong sinh Phạm thiên.
Tiếp theo, Phật hỏi hai thanh niên về các phẩm tính nơi Phạm
Thiên, và những người muốn sinh lên Phạm thiên. Phạm Thiên
là vị không có san tâm, hận tâm, hại tâm, không ôm giữ của
cải, hoàn toàn tự tại. Vậy, những người c̣n sân tâm, hận
tâm, hại tâm, c̣n giữ chặt của cải, không được hoàn toàn tự
tại, th́ không thể cộng trú với Phạm Thiên. V́ bản tính bất
đồng. Đây là điều mà về sau phát triển thành thuyết Phạm Ngă
đồng tính trong triết học Ấn độ.
Hai thanh niên bèn hỏi Phật về con đường chân chính dẫn đến
Phạm Thiên. Trước khi trả lời, Phật nêu thí dụ. Một người
sống tại nơi ḿnh sinh từ nhỏ đến lớn; nếu được ai hỏi đường
đi đến chỗ đó, tất nhiên người ấy sẽ chỉ dẫn rành rẽ, không
thể sai lạc được. Phật đối với Phạm Thiên cũng vậy.
Để có thể tái sinh lên Phạm Thiên, trước hết cần phải đồng
tính với Phạm Thiên. Làm thế nào để trở thành đồng tính với
Phạm Thiên? Phật giảng về sự tu tập bốn Phạm trụ
(Brahmavihāra): từ, bi, hỷ, xả. Nếu ai thành tựu bốn vô
lượng tâm này, sau khi chết chắc chắn tái sinh lên Phạm
Thiên.
27.
Kinh Sa-môn quả
[Pāli: Samññaphalasutta, D 2]
A-xà-thế (Ajātasattu) trước đây nghe lời xúi dục của
Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) đă giết cha để cướp ngôi.
Vào một đêm rằm, trăng đẹp,vua ngự lên lầu cùng quần thần,
thể nữ. Cảm hứng, vua hỏi tả hữu quần thần nên làm ǵ vào
lúc đêm trăng đẹp như thế này. Tùy theo sở thích mỗi người
đề nghị theo cách riêng của ḿnh. Trong đó có nhiều người đề
nghị đến thăm viếng và luận đạo với các Tông sư ngoại đạo
hiện đang trú tại Vương xá thành, nổi tiếng bấy giờ gọi là
Lục Sư. Vua im lặng. Cuối cùng, y sỹ Ḱ-bà đề nghị đến gặp
Phật, bấy giờ đang ngụ tại vườn Xoài của ông. Vua nhận lời.
Với đoàn tùy tùng hộ giá, voi ngựa, rầm rộ kéo đến vườn
Xoài. Đến cách vườn không xa, A-xà-thế bỗng cảm thấy kinh
sợ, lông tóc dựng đứng. Y Sỹ Ḱ-bà trấn an vua, khuyến khích
hăy tiến tới, sẽ được nhiều lợi ích. A-xà-thế kinh sợ và
kinh ngạc v́ sao một tập thể Tỳ-kheo đông như vậy trong khu
vườn này, mà khu vườn hoàn toàn im lặng không một tiếng
động?
Vua bước vào giảng đường. Phật ngồi giữa, chúng Tỳ-kheo vây
quanh. Nh́n khung cảnh yên tĩnh, vua chợt cảm thán: “Mong
sao thái tử Ưu-đà-di cũng được trầm lặng như vậy.”
Chào hỏi xong, A-xà-thế hỏi Phật: Mỗi người theo chức nghiệp
của ḿnh, thảy đều có kết quả hiện tại. Kết quả thiết thực
hiện tại của sa-môn là ǵ?
Vua nói, trước đây đă từng đặt câu hỏi này với Lục Sư, nhưng
không được hài ḷng. Rồi lần lượt thuật lại những lần hội
kiến ấy, với chi tiết đầy đủ về lập trường chủ trương của
họ. Nhóm Lục Sư gồm có:
1.
Phất-lan Ca diếp (Pūraṇa-kassapa),
vớ chủ trương thuyết phi nghiệp hay vô tác (akiriyavāda),
hành vi thiện hay ác không mang lại kết quả báo ứng ǵ.
2. Mạt-già-lê Câu-xá-lị (Makkhali-Gosāla), chủ trương đoạn
diệt luận (ucchedavāda), không có đời sau, không có linh hồn
các thứ. Nhưng theo bản Pāli, đoạn thuật trong Hán dịch là
phần đoạn diệt luận của Ajita Kesakambali. Chủ trương của
Makkhali Gosāla là thuyết luân hồi tịnh hóa (saṃsārasuddhi).
3. A-ḱ-đa Sí-xá-khâm-bà-la (Ajita-Kesakambala), chủ trương
đoạn diệt luận (ucchedavāda).
4. Bà-phù-đà Già-chiên-na (Pakudha- Kaccāyana), mà chủ
trương theo Pali thuyết không biến chuyển (aviparriṇama),
không có sáng tạo, không có bị tạo. Nhưng trong Hán dịch,
chủ trương của ông là thuyết luân hồi tịnh hóa, đồng với
phần đầu của Makkhali Gosāla được thuật trong Pāli.
5. Tán-nhă-di T́-la-lê-phất (Sañjaya Balaṭṭhiputta),
theo xu hướng hoài nghi, ngụy biện luận (amarāvikkhepika),
trả lời vấn đề uốn lượn như lươn trườn.
6. Ni-kiền Thân Tử (Nigaṇṭha-Nāta-putta),
theo bản Pāli, chủ trương bốn loại pḥng hộ (cātuyāmasaṃvarasaṃvuto),
nhưng trong Hán dịch không nêu chủ trương ǵ mà chỉ khẳng
định “Tôi là bậc Nhất thiết trí” thấy tất cả, biết tất cả.
Sau cùng, A-xà-thế đặt lại câu hỏi với Phật: kết quả thiết
thực hiện tại của sa-môn là ǵ?
Trước hết, Phật nêu hai trường hợp: một người nô t́ của vua,
và một người dân tự do khác; khi hai người này từ bỏ thế tục
xuất gia học đạo, vua vẫn đối xử với họ như trước kia là nô
t́ và thuộc hạ của ḿnh hay không? Vua đáp: Không; mà trái
lại phải kính trọng họ.
Phật nói, đó là kết quả thiết thực hiện tại của sa-môn.
Nhưng kết quả ấy dung tục. C̣n có kết quả cao hơn nữa, vi
diệu hơn nữa. Kết quả đó là ǵ? Bản Pāli tường thuật chi
tiết, từ khi có Phật xuất thế, thiện gia nam tử phát tín tâm
xuất gia, lần lượt thành tựu giới, căn luật nghi, cho đến
chứng lậu tận trí. Chi tiết tương đương Hán dịch trong kinh
A-ma-trú. V́ vậy, ở đây, bản Hán không lặp lại chi tiết nữa,
mà chỉ tóm lược trong vài ba ḍng.
Sau thời pháp, A-xà-thế tỉnh ngộ, tỏ bày sự hối hận về hành
vi bạo nghịch giết cha trước đây, và phát tâm quy y Tam bảo,
thọ tŕ năm giới, thành người ưu-bà-tắc, rồi thỉnh Phật và
Tăng vào vương cung để cúng dường.
Khi A-xà-thế đă đi rồi, Phật nói với các Tỳ-kheo, nếu trước
kia vua không giết cha th́ bây giờ đă có thể đắc Sơ quả.
28.
Kinh Bố-tra-bà-lâu
[Pāli: Poṭṭhapādasutta,
D 9]
Một ngoại đạo xuất gia, Phạm chí Bố-tra-bà-lâu (Poṭṭhapāda)
thuật lại Phật nghe về tranh luận vừa xảy ra trong một buổi
hội luận giữa các Phạm chí: nguyên nhân tưởng sinh và nguyên
nhân tưởng diệt. Tưởng (saññā) đây là tưởng uẩn trong năm
uẩn, là sở y của ngôn ngữ và tư duy. Từ vấn đề tưởng, liên
hệ đến vấn đề tự ngă. Từ vấn đề tự ngă, liên hệ vấn đề tồn
tại tự thân đồng thời và dị thời trong các giới hệ. Đó là ba
đề tài trọng điểm của Kinh.
Về tưởng, Phật chỉ rơ nhân và duyên cho tưởng sinh và tưởng
diệt. Nhận thức vấn đề này phải y cứ trên quá tŕnh sinh và
diệt của tưởng từ tán tâm đến định tâm qua các bậc thiền và
định, cho đến cuối cùng tưởng hoàn toàn diệt trong tưởng thọ
diệt tận định. Trong quá tŕnh đó, bằng phương pháp nào mà
hành giả diệt tưởng cấp thấp để làm phát sinh tưởng cấp cao
hơn.
Chúng sinh được thấy là đang tồn tại tức đang sống v́ nhận
thấy có hoạt động của tưởng bất kể trong cấp bậc nào. Cho
đến nhập tưởng thọ diệt, bấy ǵơ tuy vẫn tồn tại nhưng nh́n
bên ngoài th́ như là đă chết. V́ vậy, tưởng liên hệ đến tự
ngă. Nói cách khác, nếu không thấy dấu hiệu hoạt động của
tưởng, không thể quan niệm được tồn tại của ngă. Do bởi
tưởng sai biệt theo cấp bậc, hoạt động với đối tượng lớn hay
nhỏ, cục bộ hay vô hạn, mà quan niệm về tự ngă cũng bất đồng
theo. Có chủ trương thân tứ đại Dục giới là tự ngă; hoặc
thân Dục giới thiên, hoặc Sắc, Vô sắc giới thiên là tự ngă.
Phật nói, chỉ có thể biết rơ điều này nếu biết rơ tưởng sinh
và tưởng diệt. Nhưng do tập quán dị biệt, xu hướng dị biệt,
sở thích dị biệt, những Phạm chí như Bố-tra-bà-lâu không thể
hiểu được vấn đề tưởng sinh tưởng diệt.
Do căn cơ hay thiên tính sai biệt như vậy, để có thể hiểu
hay không hiểu vấn đề, cho nên Phật thuyết pháp có điều được
kư thuyết, có điều không được kư thuyết. Đây là trọng điểm
thứ hai của Kinh. Bản chất của vấn đề ngă hay vô ngă mà v́
lư do thực tiễn được liệt vào mười bốn vô kư, là những vấn
đề Phật không đề cập đến. Những vấn đề này bao gồm ngă và
thế giới thường hay vô thường, hữu hạn hay vô hạn, tồn tại
hay không tồn tại, đồng nhất dị biệt thân. Đó là vấn đề
trọng yếu nhất trong các tranh luận tư tưởng giáo thuyết
thời Phật, và cả sau này. Ngoại đạo thường công kích Phật v́
không trả lời thẳng vấn đề. Các đệ tử Phật cũng có vị bất
măn v́ Phật không trả lời vấn đề. Ở đây, Phật khẳng định,
chỉ kư thuyết những ǵ hữu ích, dẫn đến diệt trừ hữu lậu,
đạt đến giải thoát, Niết-bàn.
Nhân khi Bố-tra-bà-lâu thuật lại chỉ trích của các Phạm chí,
Phật nêu lại bản chất của vấn đề: cái ǵ thực và cái ǵ hư
dối? Ngă và thế giới thường hay vô thường, đời sau thuần khổ
hay thuần lạc; những người tuyên bố quan điểm mà chưa hề
chứng nghiệm điều ḿnh tuyên bố, chẳng khác nào một người
đàn ông khoe ḿnh thông gian với một phụ nữ mà thực tế phụ
nữ ấy không hề tồn tại. Nhưng, từ trên chính thân tứ đại này
mà nhận thức đâu là thanh tịnh, ô nhiễm, là điều mà ai cũng
có thể chứng nghiệm. Trừ ô nhiễm, được thanh tịnh, từ thấp
lên cao, như quá tŕnh tưởng sinh tưởng diệt qua các cấp,
cho đến giải thoát, cứu cánh an lạc.
Đến đây, Tượng Thủ Xá-lợi-phất, nguyên là Tỳ-kheo đă hoàn
tục, hỏi Phật về quan hệ tồn tại của tự thân và giới hệ. Vấn
đề như sau: từ tự thân tứ đại thuộc Dục giới, tu tập thăng
tiến lên các cấp cao, cùng với quá tŕnh tưởng sinh tưởng
diệt qua các bậc thiền định, khi tự thân Dục giới có đồng
thời tồn tại với thân thuộc các giới hệ kia, Sắc và Vô sắc,
hay không? Nhận thức được vấn đề sẽ có thể xác nhận điều nói
rằng “Trong quá khứ tôi đă từng hiện hữu; khôngphải không
hiện hữu. Trong vị lai, tôi sẽ sinh, chứ không phải không
có; trong hiện tại, tôi đang tồn tại. Chứ không phải không
có”.
Sau bài pháp này, phạm chí Bố-tra-bà-lâu xin xuất gia, và
rồi bằng tinh cần tu tập cuối cùng ông đắc quả A-la-hán.
29. Kinh Lộ-già
[Pāli: Lohiccasutta, D 12]
Bà-la-môn Lộ-già (Lohicca) thỉnh Phật và Tăng về nhà cúng
dường, nhưng lại có ác kiến này: “Các Sa-môn, Bà-la-môn đă
tự ḿnh chứng đắc thiện pháp rồi, không nên thuyết pháp cho
người khác. Việc ấy chỉ là pháp tham ác. Như phá ngục cũ lại
xây ngục mới.”
Người thợ hớt tóc được ông bà-la-môn sai đến Phật để báo
giờ. Ông này thuật lại quan điểm ấy với Phậy, và thỉnh cầu
Phật dứt trừ ác kiến.
Sau khi thọ thực xong, Phật thuyết pháp, hỏi lại ông
bà-la-môn về quan điểm đă được thuật. Ông bà-la-môn xác nhận
đó là sự thật.
Trước hết, Phật nêu có ba hạng tôn sư ở đời đáng bị chỉ
trích, theo quan điểm của Lộ-già.
Hạng thứ nhất, đạo nghiệp chưa thành mà lại đi thuyết pháp.
Thầy ấy không được đệ tử tôn kính. Thầy tṛ chỉ nương nhau
để sống mà thôi. Hạng thầy này hoàn toàn chưa chứng được
pháp thiện cũng chưa diệt được phiền năo mà lại đi thuyết
pháp, chẳng khác nào phá ngục cũ mà xây ngục mới. Đó là pháp
tham ác.
Hạng thứ hai, tuy chứng đắc một ít pháp thượng nhân, nhưng
đạo nghiệp vẫn chưa thành tựu mà lại đi thuyết pháp. Cũng
chẳng khác nào xoa lưng cho người mà thôi. Đó là pháp tham
ác.
Hạng thứ ba, tuy đầy đủ pháp thượng nhân, nhưng đạo nghiệp
chưa thành tựu hoàn toàn. Lợi ḿnh chưa thành, lại đi thuyết
pháp. Chẳng khác nào bỏ cỏ ruộng ḿnh mà đi cày ruộng cho
người khác. Đó là pháp tham ác.
Nhưng có hạng Tôn Sư bậc nhất, vị ấy thành tựu Chính giác,
đầy đủ Minh Hành. hạng Tôn Sư ấy thuyết pháp để dẫn người
chứng đắc bốn Thánh quả. Nói cách khác, Ngài đă hoàn thành
tự lợi, rồi lại thuyết pháp lợi người. Ai ngăn vị ấy thuyết
pháp, cản người nghe pháp vị ấy thuyết, người này có tâm bất
thiện, sẽ tái sinh vào cơi khổ. Cũng như vua Ba-tư-nặc xuất
tài sản vương gia mà chu cấp cho người khác; ai cản trở vua
làm việc này là bất thiện. Cũng như bà-la-môn muốn xuất của
cải riêng của ḿnh để cung cấp cho người, ai cản trở, người
ấy bất thiện. Người có tâm bất thiện tất sẽ đọa đường dữ.
Sau bài pháp, Lộ-già từ bỏ ác kiến.
30.
Kinh Thế kư
[Không có Pāli tương đương]
Kinh này dài nhất trong
toàn bộ Trường A-hàm, chiếm khoảng một phần, gồm năm quyển
Hán dịch, từ quyển 18 đến 22. Về nội dung, có thể được xem
quảng diễn chi tiết Kinh Tiểu duyên mà tương đương Pāli là
Aggaññasutta, D 27. trong Kinh có nhiều chi tiết có thể được
t́m thấy trong văn hiến Pāli, nhưng cũng có rất nhiều chi
tiết chưa t́m thấy. Những chi tiết này có thể là những mẫu
thần thoại được lưu truyền tại các vùng dân tộc mà các vị
truyền kinh thuộc Thượng tọa bộ Pāli không có quan hệ hay
biết đến. Tuy thoạt nh́n sơ khởi, nhiều chi tiết của Kinh
mang nhiều tính chất thần thoại hoang đường, nhưng dưới con
mắt của nhà thần thoại học, chúng chứa đựng những kư ức lịch
sử của mỗi dân tộc, cung cấp khá phong phú nguồn tài liệu về
thời cổ đại, và lên đến các thời tiền sử, của loài người.
Nội
dung toàn bộ kinh có thể được chú trọng trên hai điểm:
-
Thế giới quan Phật giáo, qua các chu kỳ sáng thế và tận thế,
tức trải qua các thời thành kiếp, trung kiếp rồi hoại kiếp.
Thế giới quan này bao gồm thiên nhiên, gọi là khí thế gian,
và sinh vật
tồn tại trong đó, gọi là hữu t́nh thế gian. Thế giới như vậy
trải qua các chu kỳ thành, trụ, hoại, không; rồi lại thành
trụ, hoại không; tiếp diễn bất tận; như bánh xe quay liên
tục.
- Thế giới như
vậy tùy theo tŕnh độ cảm thọ lạc và khổ mà được phân thành
nhiều cấp, mà ta có thể gọi nhiều tầng sinh thái khác nhau.
Thấp nhất là các địa ngục thuần khổ và cùng cực khổ, cao
nhất là chư thiên thuần lac, cho đến cùng cực lạc. Không
gian cho các giai tầng sinh thái ấy trải rộng theo nhiều
chiều, gọi là mười phương thế giới, mà số lượng trong một
phạm vi cơi Phật là ba ngh́n đại thiên thế giới: một ngh́n
thế giới với một mặt trời, mặt trăng là một tiểu thiên. Một
ngh́n tiểu thiên họp thành một trung thiên. Một ngh́n trung
thiên họp thành một đại thiên. Trong các cơi và các giai
tầng tồn tại, tuổi thọ lấy theo nhân loại làm chuẩn th́ dài
đến vô lượng, kéo dài đến gần con số vô cùng. Với thời gian
vô tận và không gian vô biên từ điểm đứng của loài người mà
nh́n như vậy, nhưng tất cả đều phải chịu quy luật vô thường,
biến dịch. Sinh lên cơi trời cao nhất, hay đọa xuống địa
nguc đau khổ nhất với tuổi thọ cực kỳ lâu để thọ lạc hay thọ
khổ, nhưng từ chỗ cực cao rồi sẽ rơi xuống, từ chỗ cực thấp
rồi sẽ cất lên; thăng trầm bất định. Đó là ư nghĩa của tồn
tại. Thấy như vậy mà tỉnh ngộ để biết con đường xuất ly, t́m
cầu giải thoát cho ḿnh và cho người. Đó là điều mà Kinh
thường xuyên nhắc, sau mỗi khi kể về một biến cố của thế
giới.
Kinh chia làm 12
phẩm:
1. Phẩm
Diêm-phù-đề:
Lấy chuẩn từ vùng
Ngũ hà, tạm gọi là khu vực khởi điểm văn minh Ấn độ, lần
xuống phương nam là châu Diêm-phù-đề. Theo Kinh kể, nói phía
nam là chỉ vị trí ở phía nam núi Tu-di. Gọi là Diêm-phù, v́
vùng đất này mọc lên rất nhiều rừng cây diêm-phù mà tiếng
Phạn nói là jambu. Nếu theo mô tả của Kinh th́ cây này chỉ
có trong thần thoại. Nhưng theo thực tế, th́ đây có thể là
loại cây hồng táo, t́m thấy tại các vùng nhiệt đới, nhiều
nhất là ở Ấn độ, Pakistan, và Nam Á.
Liên hệ
với châu Diêm-phù-đề, phía đông có Phất-vu-đăi, mà nguyên
gốc Sanskrit của nó là Pūrvavideha, tương đương Pāli là
Pubbavideha; dịch nghĩa là Đông Thắng thân, là châu lục mà ở
đó con người có thân h́nh đẹp đẽ.
Phía tây có châu
Cù-đa-ni, mà Sanskrit là Godānīya. Pāli cũng đồng. Dịch là
Ngưu hóa châu. Hóa ở đây có nghĩa là hóa vật, tức vật ngang
giá dùng trong giao dịch. Nói cách khác, ở đây, tài sản được
tính bằng trâu ḅ.
Với mỗi châu,
Kinh mô tả chi tiết h́nh dáng, diện tích, khí hậu, sản vật,
con người. Vị trí của các châu này đều lấy núi Tu-di làm tâm
điểm.
2. Phẩm
Uất-đan-viết:
Nói riêng về châu
lục phía bắc Tu-di. Phổ thông trong văn hệ Hán, châu này
được phiên là Bắc Câu-lâu, mà Sanskrit là Uttara-Kuru, chỉ
vùng đất phía bắc Kuru. Kuru là một trong 16 vương quốc lớn
trong thời Phật, thường được nhắc đến trong các Kinh. Tuy
vậy, theo đại thể, Kuru ở đây hẳn là một vương quốc thần
thoại, và Bắc Kuru cũng là vùng đất thần thoại, có thể tận
phía bắc ngoài dăy Thông lĩnh. Xa hơn nữa, về lịch sử, có
thể là vùng đất ở phía bắc các thành bang Sumeria cổ đại.
Châu này được kể
riêng v́ sinh hoạt xă hội ở đây khác hẳn ba châu kia. Trong
châu này, hoàn toàn chưa có h́nh thức sinh hoạt sản xuất.
Thực phẩm, có loại lúa tự nhiên không cần gieo trồng. Về y
phục, có loại cây tự nhiên sản xuất ra áo quần, ai cần th́
đến lấy. Các dụng cụ khác như chén bát, đàn địch, hương
liệu, cũng được cung cấp tự nhiên như vậy. Dân ở đây không
có khái niệm về gia đ́nh, vợ chồng, cha mẹ và con cái. Trai
gái thích nhau, dẫn vào chỗ khuất nào đó, rồi chia tay. Trẻ
nít mới sinh, bỏ giữa đường, mọi người đi ngang qua, chăm
sóc nó. Không có các tội ác như giết nhau, trộm cắp, nói
dối; nghĩa là không hề có khái niệm về đạo đức. V́ vậy, ở đó
không hề biết Phật pháp. Ngay cả các thuyết ngoại đạo, ở đây
cũng không biết. Ở đây cũng không có các thứ bịnh tật như ba
châu kia, cho nên ai cũng sống hết thọ lượng của ḿnh, không
có chết yểu.
3.
Phẩm Chuyển luân thánh vương:
Chuyển luân Thánh vương chỉ xuất hiện trong châu Diêm-phù,
nhưng chinh phục luôn cả ba châu kia, và như vậy thống trị
cả bốn châu thiên hạ. Chi tiết về thành lập đại đế quốc này,
với đời sống sung túc thịnh vượng, như được kể trong Kinh
Chuyển luân vương nói về vua Đại Thiện Kiến (Mahāsudassana)
ở phần trước.
4.
Phẩm Địa ngục:
Bên
ngoài bốn châu thiên hạ bao bọc bởi một dăy núi Đại kim
cang. Ngoài dăy này lại bao thêm một dăy núi Đại kim cang
nữa. Khoảng trung gian hai dăy núi là vùng không gian tối
mịt, không ánh sáng nào có thể lọt vào. Dù đại thiên thần có
đại uy lực cũng không rọi ánh sáng vào đó được. Tại đó có
tám địa ngục lớn, nơi chỉ thuần khổ, không hề có chút lạc.
Chung quanh mỗi địa ngục lớn có 16 địa ngục nhỏ. Kinh mô tả
chi tiết các h́nh thức thọ khổ của các chúng sinh trong các
địa ngục này.
5.
Phẩm Long điểu:
Về
các loại rồng và quái điểu. Từ mà ta quen gọi rồng, Sanskrit
nói là nāga, cũng thường chỉ các loại rắn lớn như măng xà
hay rắn thần. Có khi chỉ loại voi có thân h́nh to lớn. Ta
cũng có thể xem các loại rồng hay nāga này là các khủng long
cổ đại. Chúng được chia làm bốn loại: loại sinh từ trứng,
sinh từ bào thai, sinh bởi thấp khí, và sinh bởi biến thái.
Các loại rồng này đều sồng dưới đáy biển.
Các
quái điều là garuda, kim súy điểu, chim cánh vàng. Chúng
cũng gồm bốn loại: noăn, thai, thấp, hóa như loài rồng.
Chúng sống ở bờ biển phía bắc, trên một đại thụ. Thực phẩm
của các quái điểu cánh vàng là rồng. Quái điểu thai sinh chỉ
có thể bắt loại rồng thai sinh mà ăn thịt. Các loại kia cũng
vậy.
6.
Phẩm A-tu-la:
Các
a-tu-la sống trong biển bắc của Tu-di. Cung điện, thành
quách, được mô tả cũng gần như trên trời Đao-lị. Trong hàng
Dục
giới, các A-tu-la thường được xếp sau chư thiên v́ sức mạnh
ngang với chư thiên Đao-lị. Nhưng v́ cấp thọ lạc, có khi bị
xếp xuống cấp dười loài người, v́ chúng là loài nhiều sân
hận, thường bị hành hạ bởi sự sân hận của ḿnh. Trong các
thủ lănh A-tu-la có thủ lănh tên là La-hầu (Rahū); mỗi khi
thịnh nộ, lấy tay che mặt trời mặt trăng khiến sinh hiện
tượng nhật thực hay nguyệt thực.
7. Tứ thiên
vương:
Trên A-tu-la một
bậc là cơi trời Tứ thiên vương (S. Catūrmahārājakāyika-devā;
P. Catummahārājikā), được ngự trị bởi bốn vị Hộ thế thiên
vương. Mỗi vị trấn một góc Tu-di để bảo vệ trời Đao-lị ngăn
quân A-tu-la kéo lên tấn công.
8. Phẩm Đao-lị
thiên:
Đao-lị là phiên
âm (S. Trāyastriṃśa;
P. Tāvatiṃsa),
dịch là Tam thập tam thiên, là cơi trời thứ hai thuộc Dục
giới, được ngự trị bởi 33 vị Thiên vương mà đứng đầu là
Thiên đế Thích. Cơi trời này ở ngay trên đỉnh Tu-di.
Trong cơi này, có
rất nhiều cung điện, thành quách. Trung tâm là Thiện pháp
đường (P. Sudhammā-sālā, S. Sudharmā devasabhā), là Hội
trường của chư thiên, nơi tập họp nghị sự của chư thiên
Đao-lị. Vị trí ở trong thành Thiện kiến, là nội thành của
Thiên đế. Phía Bắc Thiện pháp đường là cung điện riêng của
Thiên đế. Chung quanh có các khu vườn dành cho các đẳng cấp
thiên thần khác nhau vào thưởng ngoạn, hưởng lạc. Khoảng
giữa các khu vườn có cây đại thọ gọi la cây Trú độ, nghĩa
đen là đo bóng ngày. Nó là một loại thời khắc kế của chư
thiên. Gốc Sanskrit của nó Pārijātaka (P. Pāricchattaka).
Trong Câu-xá, Huyền Trang dịch là Viên sinh thọ.
Kinh cũng tường
thuật chi tiết sinh hoạt của chư thiên ở đây, nói về các thú
vui, về lượng tuổi thọ v.v…
9. Phẩm Tam
tai:
Nói về ba tai
kiếp, ba kiếp tai họa, hay ba chu
kỳ dẫn đến hủy diệt thế giới hoàn toàn.
Thứ nhất, tai kiếp lửa.
Mỗi
tai kiếp gồm hai phần, phần đầu là sự biến mất của các chúng
sinh ở những cấp mà tai kiếp sẽ xảy ra. Tai kiếp thứ nhất
hủy diệt toàn bộ địa ngục, lên cho đến toàn bộ Sơ thiền bao
gồm cả Phạm thiên giới. Các chúng sinh địa ngục dần dần thọ
hết tội báo, hoặc tái sinh lên làm người, hoặc sinh lên cao
hơn. Những nghiệp dẫn tái sinh các cơi thấp từ súc sinh
xuống đến địa ngục, nếu c̣n lại, gọi là túc tàn nghiệp, th́
chúng bấy giờ do nhân duyên cộng nghiệp nên không hiện hành;
tất nhiên là không bị mất hẵn. Bấy giờ thế gian chỉ có từ
cơi người trở lên. Trong đó, hết thảy đều tu tập, và chứng
các bậc từ Nhị thiền trở lên. Tất cả loại nghiệp từ Sơ thiền
trở xuống đều không hiện hành. Do đó, khi các chúng sinh này
mạng chung thảy đều tái sinh từ các cơi thuộc Nhị thiền trở
lên. Cho đến lúc, toàn bộ thế giới hữu t́nh từ Sơ thiền trở
xuống biến mất. Bấy giờ bắt đầu phần hai của tai kiếp.
Quả
đất bị hâm nóng bởi bảy mặt trời lần lượt xuất hiện. Trước
hết do một trận đại cuồng phong làm lệch quỹ đạo mặt trời,
khiến cho hai mặt trời xuất hiện, rồi ba, cho đến bảy. Sông
ng̣i khô cạn, rồi nước biển cạn cho đến khô kiệt. Rồi quả
đất bốc cháy. Lửa thiêu hủy lên đến cơi Phạm thiên, ngưng
lại phía dưới Quang âm thiên. Một thời gian lâu dài về sau,
thế giới được phục hồi, từ cơi Phạm thiên trở xuống được cấu
tạo trở lại. Các chúng sinh từ các cơi trời trên, khi phước
tận, hành tận, chết ở đó, và do túc tàn nghiệp trước kia c̣n
lại bây giờ hiện hành để dẫn tái sinh trở lại các cơi dưới.
Thế giới hữu t́nh bắt đầu phục hồi, từ Sơ thiền, xuống đến
địa ngục.
Đó
là chu kỳ hủy diệt thứ nhất, do bởi lửa.
Thứ hai, do bởi nước.
Cũng chia làm hai phần như trên. Tai kiếp lần này hủy diệt
lên đến toàn bộ Nhị thiền. Các chúng sinh lần lượt tái sinh
lên các cơi Tam thiền hoặc cao hơn. Từ Nhị thiền trở xuống,
thế giới hữu t́nh trống không. Sau đó một đám mây đen lớn tụ
lại, đổ mưa xuống khắp nơi. Nước nóng như đun sôi, làm tiêu
chảy hết các thứ đá, sắt thép, cho đến cả kim cang. Tất cả
thiên cung cũng tiêu rụi, cho đến khi toàn bộ khí thế gian
từ Nhị thiền trở xuống tiêu hủy sạch hết. Cũng như trước,
một thời gian sau, thế giới bắt đầu được tái tạo, toàn bộ từ
Nhị thiền xuống đến các tầng địa ngục. Do túc tàn nghiệp,
các chúng sinh lần lượt tái sinh xuống, cho đến địa ngục.
Như thế là tṛn một chu kỳ hủy diệt thứ hai do bởi nước.
Thư ba, do bởi gió.
Chu
kỳ này hủy diệt lên đến toàn bộ các cơi Tam thiền. Các chúng
sinh lần lượt tái sinh lên Tứ thiền. Sau đó, một cơn lốc vũ
trụ gọi là gió đại tăng-già nổi lên, xoáy mọi vật, từ các
thiên cung, cho đến núi non, va chạm nhau, nghiền nát lẫn
nhau, cho đến tất cả trở thành tro bụi. Gió thổi đám tro bụi
bay tứ tán không c̣n dấu vết ǵ, thế giới hoàn toàn trống
rỗng. Một thời gian lâu dài về sau nữa, thế giới bắt đầu
phục hồi. Cũng như các lần tai kiếp trước, thiên giới và địa
ngục lần lượt tràn đầy các hạng chúng sinh. Chu kỳ hủy diệt
thứ hai hoàn tất.
10.
Phẩm Chiến đấu:
Tường thuật các trận chiến giữa chư thiên Đao-lị và A-tu-la.
Trước kia, cơi Đao-lị là thế giới của A-tu-la. Sau đó, 33
chúng sinh do phước báo rất lớn từ cơi người tái sinh lên.
Do phước báo lớn, nên uy lực ngang với các thủ lănh A-tu-la.
Giai đoạn đầu, hai bên sống chung ḥa b́nh. Nhưng A-tu-la
thường buông trôi trong say sưa, phóng dật. Do đó, vào một
dịp, khi các A-tu-la uống rượu say, 33 thiên thần này bèn
hợp lực trói chúng lại, liệng xuống biển bắc. Sau đó, họ
chiếm lĩnh Đao-lị, sắp đặt các đội quân bố pḥng.
Các
thủ lănh A-tu-la sau khi tỉnh rượu, bèn tập hợp lực lương để
chiếm lại Thiên cung. Trước khi đổ bộ lên đất liền chúng
đụng độ với lực lương pḥng thủ thứ nhất của Đế Thích là
loài rồng, do Long vương Bạt-nan-đà chỉ huy.
Khi
tuyến pḥng thủ thứ nhất bị vỡ, Long vương dẫn quan rút lui
về tuyến thứ hai hợp lực với quân Ca-lâu-la, tức kim súy
điểu, ngăn chặn. Khi tuyến pḥng thủ này cũng bị vỡ,
các quỷ
thần lại rút lui về tuyến thứ ba trấn bởi các quỷ thần Tŕ
hoa, rồi lui về tuyến thứ tư trấn bởi các quỷ thần Thường
lạc.
Tuyến cuối cùng
bảo vệ cung thành của Đế Thích, trấn giữ bởi bốn vị Đại
thiên vương. Nếu quan của Tứ Đại thiên vương cũng không đủ
lực đẩy lui A-tu-la trở xuống biển, Thiên đế Thích đích thân
lâm chiến. Ông cầu viện trợ lên các cơi trời trên, cho đến
trời Tha hóa tự tại.
Đế Thích trực
tiếp điều quân đánh nhau với A-tu-la, nhưng chống không lại,
bèn rút lui tháo chạy. Quân A-tu-la đuổi theo truy kích. Khi
xe Đế Thích tháo chạy đến gần một gốc cây trên đó có tổ chim
con. V́ ông giữ giới bất sát, không thể làm hại chim con.
Nếu kéo cả đoàn quân chạy ngang qua tổ chim sẽ bị rơi và
chim con sẽ chết. Suy nghĩ như vây, Đế Thích liều bảo quân
hộ giá quay xe trở lại chiến đấu. Đoàn quân A-tu-la đang
đuổi theo, chợt thấy xe Đế Thích quay trở lại, tưởng là ḿnh
đă lọt vào ổ phục binh, chúng hoảng sợ, quay lại tháo chạy.
Quân của Đế Thích nhân cơ hội, quay lại phản công. Cuối cùng
bắt sống được thủ lănh A-tu-la, trói dẫn về thiên cung.
V́ chỉ muốn ḥa
b́nh, Đế Thích bèn tổ chức hội luận với thủ lănh A-tu-la, về
công lư chiến tranh và ḥa b́nh. Cuối cùng, Đế Thích lại
chiến thắng trong luận chiến, Au-tu-la không c̣n cớ gây
chiến nữa.
Kinh kết luận:
Chư thiên và A-tu-la đánh nhau, là do bởi dục vậy.
11. Phẩm Ba
trung kiếp:
Giữa thành kiếp
và hoại kiếp, những chu kỳ tiến hóa và suy thoái của chúng
sinh, lấy nhân loại làm tâm điểm, gọi là các trung kiếp. Mỗi
trung kiếp được đánh dấu bằng sự kiện tăng hay giảm của tuổi
thọ. Thoạt đầu, tuổi thọ trung b́nh nhân loại cực lâu là 8
vạn tuổi, giảm dần cho đến tuổi thọ trung b́nh chỉ c̣n 10
tuổi. Tuổi thọ càng giảm, sự phát triển về các mặt sinh dục
và trí lực càng nhanh. Đó là một trung kiếp. Rồi từ 10 tuổi,
tăng dần lên đến 8 vạn tuổi, như vậy hết một kiếp.
Từ kiếp thành cho đến kiếp hoại,
tựu trung có 20 đợt tăng giảm như vậy.
Khi
kiếp giảm đến tuổi thọ trung b́nh chỉ 10 tuổi, đao binh tai
nổi lên.Trong tâm mỗi con người bấy giờ chỉ độc nhất một
niệm ác là giết. Cho nên, gặp ai là giết, như thợ săn gặp
nai trên rừng. Ngọn cỏ lá cây đều biến thành vũ khí giết
người lợi hại.
Phần lớn nhân loại bị tiêu diệt bởi đại họa này. Một số ít
c̣n sống sót. Bấy giờ xảy ra tật dịch tai. Có lẽ do tàn sát
nhau, chết nhiều quá không chôn cất hết, môi trường trở
thành kịch độc, nên tật dịch lây nhiễm khởi lên, giết thêm
hàng loạt con người nữa.
Số
ít c̣n lại, có lẽ do bởi chiến tranh và tật dịch, nên thực
phẩm trở thành khan hiếm, nạn đói xảy ra, giết thêm hàng
loạt con người nữa.
Số
ít c̣n lại bắt đầu tỉnh ngộ. Hoặc số ác tâm đă tàn sát lẫn
nhau sạch hết rồi, số thiện ít ỏi c̣n lại trốn thoát các tai
họa. Họ khuyến khích nhau tu thiện. Do thiện nghiệp được
tích lũy, tuổi thọ càng lúc càng tăng, cho đến 8 vạn như
trước kia.
Hết
chu kỳ giảm rồi lại tăng. Hết chu kỳ tăng như vậy rồi lại
giảm. Khi tăng tối đa, con người v́ sung sướng quá, buông
lung, dần dà quên mất tu thiện nên thoái hóa, đọa lạc. Cho
đến giới hạn chót, lại hồi tỉnh, tu tập trở lại. Như vậy là
ṿng quay của thiện ác, tạo thành ṿng quay của thế giới,
sinh thành rồi hủy diệt. Diệt rồi lại sinh, lưu chuyển bất
tận.
Tuy
nhiên, chu kỳ tam tai kể trên không thống nhất trong các
kinh luận. Chủ yếu có hai giải thích. Hoăc cả ba tai xảy ra
liên tiếp trong một trung kiếp, đặc trưng là trung kiếp
giảm. Hoặc cách khác, mỗi trung kiếp đặc trưng bởi tai họa,
do đặc trưng bởi hoặc sân nhiều th́ sinh đao binh tai; si
nhiều th́ sinh tật dịch tai; tham nhiều th́ sinh cơ cẩn tai,
đói kém. Tuy nhiên, những bất đồng này không quan trọng.
Kinh điển chỉ cốt nhấn mạnh đến ư nghĩa vô thường, biến
dịch, và sự thăng tiến hay thoái hóa do nguyên nhân thời đại
của con người.
12.
Phẩm Thế bản duyên:
Nội
dung phẩm này gần đồng nhất với Kinh Tiểu duyên, chỉ có
thuật chi tiết hơn. Như sự h́nh thành núi Tu-di, bốn châu
thiên hạ. Nhưng cũng không chi tiết hơn các phẩm trên, mà
chỉ chú trọng vào sự phát sinh và tiến hóa của con người và
xă hội loài người, từ khởi thủy cho đến thời đức Thích Tôn.
Kinh cũng thiết lập phả hệ truyền thừa các đời vua, kể từ vị
đầu tiên do dân bầu gọi là Đại b́nh đẳng chủ, truyền cho đến
thời vua Tịnh Phạn và Thái tử Bồ tát Tất-đạt-đa và cuối cùng
là La-hầu-la; nghĩa là phả hệ của ḍng họ Thích của đức
Thích Tôn.❒
|