|
Sự tích ông Tú Xương
Chu
Cảnh Phạm Đ́nh Kỵ
Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính, giới thiệu
Lời dẫn của người sưu tầm
Bài viết dưới đây, kể về thân thế sự nghiệp nhà thơ Trần Tế
Xương (1870-1907), là một tài liệu tương đối hiếm gặp trong
báo chí cũ. Ngày nay ta hoàn toàn có thể đọc bài này như một
chân dung văn học. Hơn thế ở bài này c̣n có những tài liệu
hiếm thấy, nhất là những chi tiết tiểu sử nhà thơ thành Nam
đất Bắc này mà ta sẽ hầu như được biết tới lần đầu tiên, mặc
dù thời nay không dễ ai lập tức tin vào sự chuẩn xác của
những lời kể “ngày xưa…” Tác giả Phạm Đ́nh Ky
[1] ghi ngay dưới nhan đề rằng nội dung bài
này là “theo như lời thuật của một người con trai Tú Xương”,
nhưng đấy là ai? Các chi tiết là dữ liệu th́ có ǵ làm căn
cứ? Các chi tiết là nhận định th́ ấy là nhận định của ai?
Tất cả những điều mà người thời nay muốn biết rành rọt th́
người xưa lại chưa sẵn sàng “khách quan” để cung cấp. Thế
nhưng gặp được một tài liệu như thế này là không dễ, ta
không nên bỏ qua.
Theo tôi nhớ, trong số các chuyên gia về Tú Xương chừng như
chưa ai từng được đọc bài báo này; nó xuất hiện từ khá sớm,
chỉ chừng trên 20 năm sau khi nhà thơ qua đời, nhưng hầu như
không thấy công tŕnh nghiên cứu nào về Tú Xương nhắc đến
nó; việc nó xuất hiện vào năm 1931 hẳn không ngẫu nhiên: năm
ấy bà Tú Xương mất, làng báo làng văn 3 kỳ hồi ấy nói không
ít về người phụ nữ nổi tiếng này (nổi tiếng v́ được ông
chồng nhắc đến trong những bài thơ truyền tụng từ vài ba
chục năm trước); có thể bài này đă xuất hiện trong không khí
ấy.
Xin lưu ư là bài này đăng 5 kỳ trong “Phụ trương văn chương”
của báo Trung lập ở Sài G̣n; kỳ cuối, ở cuối bài có
ghi tắt mất chữ cái: A.N.T.C., - có thể hiểu là: bài này
được đăng lại của An Nam tạp chí ở Hà Nội; song tôi
chưa t́m thấy bài này ở tờ tạp chí của Tản Đà, do vậy cũng
chưa thể nói đến việc đối chiếu sự sai biệt nếu có giữa hai
bản in ngoài Bắc với trong Nam. Khi cho đánh chữ trên vi
tính, tôi chỉ đổi lại các từ vốn của người viết Bắc kỳ mà có
lẽ thợ in người Nam kỳ đă đổi khi sắp chữ in cho một tờ báo
ở Sài G̣n khi ấy (ví dụ đổi tánh thành tính,
chớ thành chứ, v.v…)
Tuy ngày chẵn 100 năm để làm giỗ Tú Xương
(29/1/1907–29/1/2007) đă hơi lùi xa song tôi nghĩ vẫn chưa
lỡ dịp để đưa tư liệu này đến tay bạn đọc.
Lại Nguyên Ân
Ông Trần Tế Xương ở làng
Vị Xuyên
tổng Đông Mạc
huyện Mỹ Lộc
tỉnh Nam Định.
Ông sinh năm Canh
Ngọ tức là năm 1869, khi c̣n bé học rất
thông minh nhưng hay đăng tính, ấy chính là một cái bệnh
chung của các bậc đại tài đó. Năm ông mới 17-18 tuổi đă nổi
tiếng là người học tṛ giỏi. Lúc bấy giờ hẳn ông coi sự
tranh lèo giựt giải ở chốn trường ốc tưởng dễ như trở bàn
tay. Ấy là v́ phần th́ ông tự phụ thông minh, phần th́ ông
lại sinh trưởng ở xă Vị Xuyên là chốn thanh danh văn vật,
thời bấy giờ trong làng ông kể đă có bốn năm cụ tiền bối thi
đỗ đại khoa và nhất là cụ Trần Hy Tăng
[2] liên trúng tam nguyên, làng khoa cử ai
cũng đều biết tiếng.
Ông thấy cái bước trước của các cụ đă từng oanh oanh liệt
liệt như thế, thành ra có chứa chan những điều hy vọng về
bước sau này. Nhưng trời kia đă định, bắt long đong để luyện
lấy tài năng, mà thật vậy, nếu để cho ông được thanh thản
trên bước khoa trường th́ làm ǵ trên băi Vị Hoàng Giang đến
nay h́nh như vẫn thấy cái hồn thơ c̣n phảng phất.
Ông bắt đầu lều chiếu đi thi từ năm 19 tuổi, măi đến khoa
Giáp Ngọ là khoa cụ
Cao Xuân Dục
[3] ra làm chủ khảo th́ ông mới đỗ được
Tú tài,
quyển thi của ông bị t́ ố song văn th́ tốt lắm nên cụ Cao
cũng cố lấy đỗ Tú tài. Khi xướng danh, cụ Cao có bảo các học
tṛ rằng: Ta nay thay mặt triều đ́nh ra kén chọn nhân tài,
vậy ta lấy các học tṛ đỗ là cốt ở văn chương chứ không phải
là kén người ở cái tính tỉ mỉ! Ấy các bậc đại thần thay vua
khai khoa thủ sĩ mà lại biết chấp kinh ṭng quyền như cụ Cao
th́ ít có. C̣n phần nhiều người th́ câu nệ quá. Hiện nay ta
hồi cố lại xem các cách thi cử lúc trước th́ chắc ai cũng
cho rằng quá nghiêm. Nào chỉ những chữ huư mà thôi đâu, c̣n
cả đến lệ đồ, di, câu, cải cũng quá ngặt nghèo… Hễ
người học tṛ nào mà đă phạm vào các thể lệ ấy th́ dầu văn
hay văn giỏi đến đâu mặc ḷng, cũng đành bị yết tên ra bảng
con, nghĩa là bị loại.
Sau khi đă đỗ Tú tài rồi, ông phấn chí học hành, giao du
nhiều, xem xét rộng nên văn chương càng ngày càng hay. Ai
biết ông cũng phải bảo rằng ông là hay chữ. Nhưng ông thi mà
không đỗ được một tí Cử nhân để lấy lối đi thi Hội thi Đ́nh,
không phải là tại văn chương, chỉ tại ông hay đăng tính. Ông
thi khoa nào cũng phạm trường quy. Nay cứ xem câu thơ của
ông th́ biết:
Rơ thật nôm hay mà chữ dốt
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy
Ông bảo rằng ông chữ dốt, nghĩa là thi không đỗ th́ là dốt,
chứ có phải thật là dốt đâu. Xem như văn thi của ông, nhiều
lần kinh nghĩa và thơ phú, cả mấy dấu đều phê ưu, phê b́nh.
Nhiều khi họ lại trích văn thơ của ông để in vào văn trường
nữa.
C̣n về phần nôm của ông thật là có đặc tài, nói thành thơ mà
đùa cũng thành thơ, lời lẽ rất là lưu loát, ư tứ rất là sâu
xa, xem như bài thơ “Hỏng thi” có câu:
Học đă toi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay
bài “Thương đạo học nho suy” có câu:
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn thi liều lĩnh đấm ăn xôi
Xét gia thế th́ cụ thân sinh ra ông trước kia làm việc quan
về bộ Lễ, sung chức Đăng sĩ tá lang. Sau khi ông đă thi đỗ
Tú tài rồi th́ cụ xin hồi hưu, tháng ngày nhàn tản, khóm cúc
chồi lan, thoát ṿng kiềm toả bước ra ngoài, mặc sức điền
viên vui với thú, câu thơ chén rượu, ván kiệu quân cờ. Trước
kia cụ làm việc quan vẫn giữ được thanh khiết một niềm, đến
sau ra coi việc dân, cũng giữ được công b́nh một mực. Trong
bài phú “Hỏng thi” của ông có câu:
Tú rốt bảng trong năm Giáp Ngọ nổi tiếng tài hoa;
Con nhà ḍng ở đất Vị Xuyên ăn phần cảnh nọng
(phần cảnh nọng tức là cái cỗ có thủ lợn
[4] )
Câu này có ư nói rằng làng Vị Xuyên lúc bấy giờ các quan tư
cũng nhiều, các chân khoa mục cũng lắm, thế mà cụ được dự
vào phần cảng nọng tưởng cũng là bực danh giá trong làng
vậy.
Xét về h́nh dung th́ người ông hơi cao, trán to miệng rộng,
da trắng mắt dài, lúc thiếu niên rất là tuấn tú, tiếc rằng
tiểu tượng của ông hiện nay không có, là v́ lúc sinh thời
ông không có chụp ảnh một lần nào.
Ông không những là văn hay, ông lại thêm có cái sức mạnh
nữa, v́ rằng khi ông c̣n bé ở nhà có học ít vơ nghệ. Trong
ṿng từ 18 đến 25 tuổi th́ ông mạnh lắm, hễ tối đến mà không
vác được thức ǵ thật nặng để cho người mệt đi th́ thật là
khó mà ngủ đi được.
Người ông đẹp mà tiếng ông lại cũng tốt. Giọng ông hát hay
là ngâm thơ th́ nghe thật hay thật thú.
Ấy cái tṛ đời cũng chả lấy chi làm lạ, phàm người hễ đă có
tài th́ là có t́nh, lúc c̣n thiếu thời ông cũng hay chơi bời
lắm. Thời bấy giờ học tṛ nho c̣n danh giá lắm, bọn con gái
có nhiều người mê ông và thích ông.
Có một bữa kia, ông đến chơi nhà một người bạn, nhà hàng xóm
người ấy có một người đàn bà đă goá 3 đời chồng, mới vào
trạc 30 tuổi, lẳng lơ trau chuốt, coi c̣n xuân. Người đàn bà
đă biết tiếng ông, ngẫu nhiên hôm ấy đứng ở nhà ḍm sang
trông thấy ông, liền về pḥng trang điểm rồi sang chơi ngay
nhà người bạn ông. Lúc đến chơi ngồi ở nhà ngoài mà hai con
mắt cứ nh́n vào trong nhà tại chỗ ông ngồi, rồi ra bộ thu ba
tống t́nh, ông thấy thế miệng cười tủm tỉm rồi buột mồm hát
lên một câu rằng:
Ba mươi ba bận chôn chồng
C̣n toan điểm phấn tô hồng chôn ai?
Lại một lần kia ông cũng đến chơi nhà một người bạn gặp lúc
trời mưa ngồi buồn quá, ông mới đi ra hè xem nước giọt tranh
chảy th́ bỗng đâu trông sang bên nhà láng giềng có một người
con gái rất xinh đẹp đương đem thau đồng ra lấy nước mưa để
rửa quả dưa hồng. Ông trông thấy thú quá liền cao hứng đọc
lên rằng:
Ước ǵ anh hoá ra dưa
Để cho em rửa nước mưa chậu đồng
Ước ǵ anh hoá ra hồng
Để cho em bế em bồng trên tay
Ông tính hay ham thích những bực danh ca, nghề đánh chầu ông
rất là sành lắm, nên thơ ông có câu:
Ví dầu vua mở khoa thi trống
Lạc nhạn, xuyên tâm đủ ngón chầu
Ông thích chơi những câu ca tiếng hát để di dưỡng tính t́nh,
ấy cũng là cái thú chung của các bậc văn nhân tài tử. Nhiều
khi cao hứng ông tự làm ra các bài hát, rồi bắt ả đầu hát để
ông nghe.
Tính ông hay chơi như thế th́ tài nào mà chẳng túng, ông chỉ
túng tiền để chơi thôi; trong khi túng ông đă có câu rằng:
Khi túng toan lên bán cả trời
Trời cười thằng bé nó hay chơi
Túng tiền chơi mà ông đă toan bán cả trời thời tưởng cũng
thú vị thật. Nếu không phải là bậc văn nhân có tính khoáng
dật như ông th́ sao có được cái khẩu khiếu như vậy.
Xét về gia tư, lúc sinh thời ông là người rất phong lưu, cụ
thân sinh ra ông trước kia đă nổi tiếng là nhà giàu có. Lúc
Đại Pháp đem quân hạ thành Nam Định lần thứ hai, dân t́nh
xao xác, giặc cướp tứ tung, gái cũng khó giữ được trinh,
giàu cũng khó giữ được của. Bấy giờ có dư đảng giặc Cờ Đen
đă mấy lần định đến ăn cướp nhà cụ, song cụ cũng nhờ được có
bọn gia đinh giỏi nên không mất mát ǵ. V́ rằng trong thời
quan ta, làng Vị Xuyên có được phép luyện tập một bọn vơ
sinh; bọn vơ sinh ấy gặp cơn nguy cấp th́ đem ra ứng dụng.
Ông nhờ được có cái cơ nghiệp giàu có của tổ phụ, ông giao
du rất rộng, bấy giờ đă nức tiếng là tay hào hiệp. V́ thế
các danh sĩ đương thời ở các nơi xa cũng đều t́m đến chơi.
Ông là người rất là thư thản, nhất sinh không phải lo đến
cái kế gia đ́nh bao giờ cả. Lúc c̣n bé th́ ơn cha nhờ mẹ lên
xe xuống ngựa, cửa rộng nhà cao, rước thầy rước bạn, tiền
bút giấy, việc sách đèn, dầu tốn kém đến bao nhiêu cũng là
không ngại.
Đến lúc ra ở riêng th́ ông lại được một bà vợ hiền, thực
trung hậu, rất đảm đang, bà chỉ chuyên buôn bán để lo liệu
tất cả các công việc trong nhà. Đến cả như việc con đi học,
chồng đi thi, nhất nhất cũng là một tay bà cáng đáng cả.
Trong bài thơ “Đi thi” của ông có câu:
Đưa chân vợ tốn hai đồng chẵn
Sờ bụng thầy không một chữ ǵ
Bà th́ chuyên nghề buôn bán thóc gạo ở chốn bến Mom thuộc về
đất làng Đệ Tứ ngoại trang. Chốn bến Mom trước là một nơi
buôn bán rất là thịnh vượng, kẻ đi người lại, trên bến dưới
thuyền, coi vẻ thật là sầm uất. Ông có bài thơ tán dương đức
tính của bà rằng:
Quanh năm buôn bán ở Mom sông
Nuôi nấng năm con với một chồng
Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười sương dám kể công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hẫng đă như không
Bài này hai câu thất bát, ông thống mạ những kẻ bạc t́nh,
coi chồng như người dưng nước lă. Xem bài thơ này, tôi không
khỏi ngậm ngùi than rằng: đời này phong hoá suy đồi, ḷng
người đen bạc, thần kim tiền ngày thêm trọng, đạo phu phụ
ngày thêm khinh, thật là hiếm thấy các bậc hiền phụ như thế
nữa.
Các bậc hiền phụ đời trước, có người chịu lầm than khốn khổ,
lo chạy ngược chạy xuôi để gánh vác giang san cho chồng. May
ra mà ông chồng được thành đạt như ai th́ ơn trên tử ấm thê
phong, hiển vinh cũng được đượm chung hương trời. Bằng không
nữa th́ áo xiêm đùm bọc lấy nhau, cũng giữ trọn cái chức vụ
tề gia nội trợ, suốt đời không từng có một lời ta thán.
Ông là người có tính trung thực, phàm hễ thấy điều ǵ mà
trái ngược với luân thường, bại hoại đến phong hoá, th́ ông
nhất thiết can thiệp đến ngay. Ông không sợ ai trách oán và
cũng không sợ ai thù hiềm. V́ vậy trong lúc b́nh sinh, ông
có làm nhiều những bài thơ kiêu ngạo người đời.
Các người đương cuộc th́ đều có ư giận ông và tức ông, song
những người ngoại cuộc th́ lại khen ông và bảo rằng ông làm
như thế thật là một cách khuyên răn đời nhiều lắm, hay th́
khen hèn th́ chê, tưởng cũng là lẽ thường ở đời vậy.
Thành ra lúc ông c̣n b́nh sinh, hễ ai có làm điều ǵ đê mạt
hay có phạm lỗi ǵ xấu xa th́ phập phồng chỉ sợ ông biết đến
chuyện rồi ông lại làm thơ kiêu ngạo chăng. Cũng có người
th́ tự biết ḿnh có lỗi, tự hạ đến thú với ông và xin ông
đừng làm thơ nữa, sợ rằng tiếng tăm vỡ lở lại có nhiều người
biết.
Lúc bấy giờ ở chốn thành Nam sau cơn loạn lạc, phố phường tụ
tập đông đúc hơn xưa, nhưng mà phần nhiều dân cư tứ chiếng
ăn xổi ở th́, thói phép lố lăng, nhiều điều đáng ghét; có
nhà th́ cha con lục đục, có nhà th́ vợ bắt nạt chồng, có
người th́ keo bẩn tuyệt trần, lại có kẻ th́ hợm tiền hợm
của. Ông thấy những sự ngứa tai trái mắt ấy không thể đừng
được nên mới có câu thơ sau này:
Nhà nào thói phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chưởi chồng
Keo cú người đâu như cứt sắt
Tham lam chuyện thở những hơi đồng
Bắc
Nam
hỏi khắp người bao tỉnh
Có đất nào như đất ấy không?
Lại như ông sư làng Vị Xuyên chả biết tội t́nh ǵ mà cũng bị
ở tù, ông có câu rằng:
Quảng đại từ bi cũng phải tù
Hay là sư cụ vụng đường tu?
Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển
Ư hẳn c̣n quên một phép phù!
Một lần kia tại tỉnh Nam Định khuyết chân pḥng thành, các
người trong thành phố ra ứng cử cũng nhiều, người th́ giỏi
chữ nghĩa, kẻ th́ sẵn kim tiền, song cũng không địch nổi với
ông Quản Pháo là người có nhiều thần thế, quan Tây cũng quư
quan ta cũng v́. Sau rồi kết cuộc lại ông Quản Pháo được
lănh chức pḥng thành, thời bấy giờ gọi ông là Thành Pháo,
ông có làm bài thơ rằng:
Tượng tượng xe xe lẻ cả rồi
Sĩ đen sĩ đỏ chửa thành đôi
Đố ai biết được thằng nào kết
Tốt cũng chui mà mă cũng chui
Sau đó ông Thành Pháo làm việc quan được ít lâu rồi mất. Ông
lại có bài thơ rằng:
Giấy hồng bó cuốn mượn tay người
Bao quản công tŕnh đốp cái thôi
Kêu lắm lại càng xơ xác lắm
Chỉ mang cái tiếng ở trên đời.
Ông không chỉ là chê người mà thôi đâu, người nào làm việc
ǵ tốt ông cũng có thơ khen. Này xem như bài thơ ông khen
người đàn bà hoá chồng lúc c̣n trẻ tuổi, mấy phen biến cố
một dạ sắt son, hương lửa ba sinh quyết chẳng ôm cầm thuyền
ai như kẻ khác:
Ḿnh nghĩ cô ḿnh thực gớm ghê
Chén son trọn vẹn nước non thề
Cam thân gái hoá khi c̣n trẻ
Như chuyện chồng xa lúc chửa về
Nói nói cười cười theo lối phố
Khăn khăn áo áo giữ màu quê
Nhện c̣n tấp tểnh vương tơ măi
Cô chả như ai vẽ mặt hề
Xét về phương diện giao thiệp th́ ông chơi bời với các anh
em rất là có cảm t́nh. Nhiều người thích ông, thường hay đến
chơi với ông luôn. Có người phải vắng ông chừng năm ba ngày
th́ lấy làm rất khó chịu. Thành thử hễ ông ở nhà ngày nào
th́ ngày hôm ấy trong nhà đông những khách. Các bạn bấy giờ
đều công nhận rằng ông là người hiếu khách. Nhiều khi khách
đến chơi nhà ông đông quá, đêm đến không có chỗ ngủ, đành
phải cùng nhau thức nói chuyện cho đến sáng. V́ thế trong
bài thơ "Đêm đông" của ông có câu:
Nào ai là kẻ t́m ta đó,
Đốt đuốc soi lên kẻo lẫn nhà
Trong đám khách đó cũng có người đến chơi nói chuyện, cũng
có người đem văn thơ của ḿnh đă làm đến nhà ông để bàn bạc
câu được câu chẳng. Này cái cách bàn văn chương của ông th́
lại kỳ quặc quá; ông hay tâng những người dốt, ông hay phỉnh
những người ngông, v́ thế thời bấy giờ trong đám làng nho ở
Nam thành có nhiều người bảo phụ đặc biệt, có nhiều kẻ ngông
cuồng lạ đời, ấy cũng bởi tay ông đào tạo nên cả. Trong đám
những người ấy có người khen ông là người biết điều, có
người th́ bảo là anh ấy chơi được. Thành thử rồi người nọ
bảo người kia, kẻ này mách kẻ khác, nên cái danh vọng của
ông cứ mỗi ngày lan đi càng xa.
Danh tiếng của ông sở dĩ khắp ai ai cũng biết, phần th́ bởi
học vấn văn chương, phần th́ bởi cách ngôn ngữ giao thiệp,
số là không bao giờ ông lại làm mất thể diện của bạn trong
đám đông người, hoặc bạn ông có thua lụa kém vế th́ ông che
chở bênh vực hoặc bạn ông mà có chuyện tṛ lỡ lời th́ ông
t́m cách nói tế toái cho trôi đi.
Ông có tính hay đi du ngoạn nên thường thường hay đi chơi
xa, trong một năm ông chỉ ở nhà chừng ba bốn tháng, c̣n th́
đi chơi đến tám chín tháng ở ngoài. Ông đi chơi núi chơi
sông, chơi khắp nhà quê kẻ chợ, cũng có lúc th́ nằm luôn ở
xóm b́nh khang. Ông đi chơi như thế, nhiều khi cũng không
cần mang của nhà đi. Đi đến đâu th́ có đến đấy, hoặc các anh
em bạn cung đốn, hoặc các người quen biết tư giùm, nên dầu
đi chơi xa đến đâu mặc ḷng, ông cũng không ngại. Ấy đương
buổi học nho thịnh hành như lúc bấy giờ mà người nào đă nổi
tiếng là người hay chữ th́ được tất cả xă hội quư mến biết
là dường nào. Thơ ông đă có câu rằng:
Nay chơi Năng Tĩnh mai Hàng Giấy
Khi ở sông Thương lúc tỉnh Hà
Trong bài phú "Thầy đồ" của ông có câu:
Cũng nhiều phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo;
Cũng lắm lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh.
Ông là người có tiếng văn hay th́ ai cũng chắc rằng ông có
nhiều học tṛ, nhưng mà không, ông hay đi chơi như thế th́
c̣n th́ giờ đâu mà dạy học được. Lúc sinh thời ông, nhiều
nhà cũng có đưa con đưa cháu đến để học ông và cũng có nhiều
người đă từng lều chiếu đi thi mà cũng c̣n muốn thụ nghiệp
của ông để học lấy cái lối văn chương lỗi lạc. Nhưng mà ông
cũng ít nhận những người đến xin học, v́ rằng ông không có
chí ngồi yên một chỗ để dạy học tṛ.
Ông thật không có chí ngồi dạy học tṛ, song cũng có khi bất
đắc dĩ mà ông phải dạy, ấy chính là con em trong nhà, nhưng
chỉ có chừng 15 tuổi.
Năm ông 28 tuổi, buổi ấy nhà nước bảo hộ đang cần lấy những
người để giúp về các công việc giấy má cùng sổ sách, nên
hàng năm cứ mở kỳ thi kư lục, kỳ thi này chọn lấy những
người am hiểu chữ nho cùng là thông chữ quốc ngữ, các nhà
nho cũng lắm người quay ra con đường ấy.
Một lần có người khuyên ông và giục ông nên ra kư lục, nhưng
ông c̣n mảng ham đường khoa cử, những lăm le bia đá bảng
vàng. Bấy giờ ông có câu thơ rằng:
Ông có đi thi kư lục không?
Nghe ông quốc ngữ học chưa thông
Ví dù nhà nước dùng ông nữa
Mỗi tháng lương ông được mấy đồng?
Lại đến năm ông 32 tuổi, có người thấy ông thi cử lận đận
nên khuyên ông xin lên học trường Hậu bổ để ra làm quan
(trường Hậu bổ lập ra được mấy năm về trước đó, các người có
chân Cử nhân và Tú tài đều được phép vào học). Bấy giờ ông
có làm bài thơ rằng:
Thôi thế th́ thôi cũng dở nghề
Mặc ai mai mỉa mặc ai chê
Bạc đi lỗi dịp về nhà đỏ
Cờ đến sa cơ tính nước huề
Chim những ngại ngùng khi trả nghĩa
Cá toan xí xoá chuyện ăn thề
Cũng đành nghề ấy xoay nghề khác
Ta thử ra chơi một dạo hề!
Xem như bài thơ này th́ lúc bấy giờ ông cũng nóng ruột muốn
xoay ra làm quan, chắc hẳn ông nghĩ rằng: đạo làm con nên
phải sớm lo, trên song đường tóc bạc da mồi, sự bất ư nào ai
người đă chắc, thế mà ngọt bùi chung đỉnh mảy may chưa chút
báo đền, nên cũng toan dấn thân vào chốn hoạn trường, bắt
chước ông Mao Nghĩa đời xưa vị thân mà khuất. Nhưng mà ai đă
biết đến những cái chí hướng của các bậc chí sĩ nhân nhân,
thắm như son bền như sắt, bước gian nan khó lẽ đổi dời. Mà
thật vậy, ông tuy nghĩ th́ nghĩ, nhưng nào ông có học Hậu bổ
đâu; chắc ông cho cái sự đi ra làm quan trong thời bấy giờ
là không hợp với cái chí sở nguyện của ông.
Cứ xét xem việc này ông cũng đă nghĩ chín lắm đó. Nếu lúc
bấy giờ mà ông quả có chí ham mê danh lợi, dấn thân vào bước
hoạn danh, th́ ngày nay quốc dân ít người muốn nhắc đến ông,
chỉ coi ông như là các ông khác mà thôi chứ đâu lại có cái
giá trị đặc biệt như vậy. Ấy mới biết cái việc xuất xử ở đời
có can hệ đến cái danh tiết của người ta là thế đó.
Kể từ hồi ngoài 30 tuổi trở đi th́ người ông xem ra khác
trước nhiều lắm, có ư thâm trầm tư lự hơn, có vẻ cẩn trọng
và nghiêm khắc hơn, đến cả cái phương diện văn chương của
ông cũng theo tuổi mà thay đổi hẳn đi, hễ làm ra câu nào
cũng ngụ có ư ưu thời mẫn thế.
Bài thơ “Đại hạn” có câu rằng:
Ngày trước biết ǵ ăn với ngủ
Phen này lo cả nước cùng nôi
Bài thơ “Nước lụt” th́ có câu:
Trâu ḅ trói cẳng coi buồn nhỉ
Tôm tép xem ḿnh đă sướng chưa?
Hai câu này ư nghĩa sâu xa lắm. To như con trâu con ḅ mà
đành chịu trói cẳng, ấy là cái thời vận không hay, bé như
con tép con tôm mà được vùng vẫy khuênh khoang, cũng là nhờ
có cơn nước lụt.
Ông phải ngồi một xó, kể cũng đă là buồn, kế đến những điều
trông thấy khiến ông lại buồn thêm. Ông thấy những người ra
làm việc với nhà nước bấy giờ phần nhiều người nghênh ngang
đắc chí lắm, nên ông có câu thơ “Tự trào” rằng:
Nào có hay ǵ cái chữ nho?
Ông nghè ông cống cũng nằm co!
Sao bằng đi học làm ông phán
Tối rượu sâm-banh sáng sữa ḅ!
Trong cái thời kỳ mà ông đă đứng tuổi rồi, th́ ông cũng ít
đi chơi như trước nữa, về việc thi cử th́ ông đă nổi chí,
đến bước đường đời trông thấy, ông lại càng thêm nản ḷng.
Cứ xem như bài thơ “Hỏng thi” của ông có câu:
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra ǵ
Bài thơ “Tṛ đời” của ông có câu:
Kẻ yêu người ghét hay ǵ chữ
Người trọng người khinh chỉ vị tiền
Trong lúc ông buồn th́ ông làm thật lắm thơ, bài nào cũng là
ngụ có cái tư tưởng riêng của ông. Xem như bài thơ “Đêm mùa
hạ” có câu:
Cũng không chớp bể chả mưa nguồn,
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn.
Bối rối t́nh riêng cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Than ôi, cái tâm sự của ông bấy giờ khó nói thật. Mà tấm
thanh cao, tấc ḷng thuần hiếu trời xanh có thấu, người thế
ai hay. Giá có thể làm được chút đỉnh để báo đáp nước nhà
th́ rồi có phải chết cũng xin cam ḷng hả dạ. Ông buồn quá,
nghĩ quá thành ra cũng ít nói, ví thử ông ở nhà mà không có
khách khứa nào đến chơi, th́ ông chỉ ngồi ngẩn người ra rồi
lại thở dài mà thôi.
Hồi ấy ông định ở nhà để dạy dỗ đàn con, để may ra sau này
có phần mong nối nghiệp được chăng. Ông đă định thế, ông mới
cố kèm cặp đàn con chăm chỉ lắm. Không những dạy về văn
chương chữ nghĩa, lối ăn lẽ ở cũng dạy, tiếng nói câu cười
cũng dạy, mà phần nhiều ông dạy con trong lúc nửa đêm về
sáng.
Có một đêm đă gần sáng, trống canh tư, trời mưa ngâu śnh
sịch măi không ngơi, ông thức dậy pha trà uống rồi đánh thức
cả các con dậy ngồi quây quần bên ḿnh. Lúc đó ông muốn thử
xem cái khiếu thông minh của các con, ông liền bảo các con
rằng: Bây giờ cha con ta cùng làm thơ chơi nhỉ. Có đứa nào
biết làm không? Vừa dứt lời th́ người con thứ ba, chừng tám,
chín tuổi, thưa ngay lên rằng: Con xin làm với thầy. Ông
nghe nói có bụng mừng thầm, song cứ như cái tuổi c̣n trẻ dại
thế th́ đă làm thơ sao được. Thế mà ông vẫn c̣n thử nữa, ông
liền bảo người con thứ ba ấy ra ngồi trước mặt ông rồi ông
đọc lên một câu rằng:
Mùa thu tháng bảy tối mưa ngâu
Ông đọc xong liền bắt người con phải nối, cậu ta ngồi nghĩ
có một chút rồi nối ngay rằng:
Nắng măi th́ mưa lại cũng lâu
Ông tủm tỉm cười rồi lại đọc lên rằng:
Hạc nọ cầm canh thay trống mơ
Người con ngẫm nghĩ một lúc lại đọc ngay rằng:
Rồng kia phun nước tưới hoa màu
Ông thấy thế mừng quá, cười lên ha hả rồi lại ôm lấy người
con ấy vào trong ḷng, động t́nh quá liền khóc nức nở. Lúc
ấy ông bảo người con ấy rằng: Chẳng biết thầy có sống mà dạy
bảo con cho đến tuổi trưởng thành được không; người con thấy
ông nói thế gục mặt xuống rồi cũng sụt sùi khóc. Thành thử
hai cha con chỉ loanh quanh có thế rồi đến sáng bạch. Ôi
chao ôi, ông trông thấy cảnh động t́nh, thương con luống
những thương ḿnh xót xa.
Ví dầu ông cứ như những ai làm ǵ chẳng được cậu ấm cậu
chiêu, nhưng cái tính khảng khái của ông chẳng bao giờ để
cho ông làm đến những việc chẳng vừa ḷng xứng ư.
Ấy thế mà nghiệm thật, câu chuyện vừa kể trên là vào khi ông
35 tuổi, thế rồi đến năm ông 37 tuổi th́ ông mất. Đáng tiếc
thay!
Ông mất năm ấy là năm Bính Ngọ, ngày rằm tháng chạp. Ông mất
một cách rất là dung dị, uống rượu đi nằm rồi là thỉu hẳn đi
một giấc. Chảng dặn ḍ con cháu một câu nào.
Xét ra ông sinh cũng là năm Ngọ, khoa ông đỗ cũng là năm
Ngọ, đến ông mất cũng là năm Ngọ. Cái tin ấy đồn đi, ai nghe
thấy cũng cho là lạ, nhất là những bạn hữu của ông.
Lúc ông mất c̣n để lại một đàn con sáu trai hai gái, song
lúc ấy hăy c̣n thơ dại cả.
Xem lúc b́nh sinh ông vốn là người không ham danh lợi, th́
chắc sau khi ông mất, gia tư cũng chẳng c̣n ǵ. Ông tuy
không để của cải lại cho con cháu về sau, nhưng ông để lại
cái tiếng thanh cao, cái duyên văn tự, không những con cháu
ông được tiếng thơm lây, mà cái phiến cảm hoài trong các bạn
làng thơ đến nay hăy c̣n lai láng.
[1]Về
tác giả Phạm Đ́nh Ky, tự (hoặc hiệu) Chu Cảnh, hiện chưa có
tài liệu ǵ (các chú thích đều của người sưu tầm).
[2]Trần Hy Tăng hay Trần Bích San (1840-77)
tự Vọng Nghi hiệu Mai Nham, đỗ Giải nguyên, Hội nguyên, Đ́nh
nguyên (1865), làm quan đến Tả tham tri bộ Lễ; năm 1877 được
vua Tự Đức cử làm Chánh sứ cầm đầu phái bộ sang Pháp, từ
trong triều về nơi tạm trú ông mất đột ngột, để lại thơ
tuyệt mệnh; người ta nói ông tự sát v́ không tán thành chủ
trương đối ngoại của triều Nguyễn.
[3]Cao Xuân Dục (1842-1923) đỗ Cử nhân, làm
quan đến Thượng thư bộ Học, tước An Xuân Tử, có thời gian
làm Tổng tài Quốc sử quán, chủ biên nhiều công tŕnh biên
khảo quốc gia về lịch sử, địa lư.
[4]Cảnh nọng: do chữ cảnh chỉ
cái cổ; nọng cũng chỉ cái cổ của vật bị giết thịt
(theo L.m. An-tôn Trần Văn Kiệm: Giúp đọc Nôm và Hán Việt,
Đà Nẵng, 2004), phần cảnh nọng ở đây có lẽ chỉ loại
cỗ có thịt thủ lợn, thịt cổ (vai) lợn, dành cho các kỳ mục
và nhân vật hàng đầu làng xă trong những đ́nh đám, khao
vọng.
Nguồn:
Trung lập,
Sài G̣n, số 6469 (“Phụ trương văn chương” số 8, thứ bảy 20
Juin 1931); số 6475 (PTVC số 9, thứ bảy 27 Juin 1931); số
6481 (PTVC số 19, thứ bảy 4 Juillet 1931); số 6487 (PTVC số
11, thứ bảy 11 Juillet 1931); số 6497(PTVC số 13, thứ bảy 25
Juillet 1931) |