PHẦN THỨ NH̀

CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN

 

 

CHƯƠNG IV

Vài Vị Đắc Đạo Trong Phái

BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

GS Nguyễn Văn Hầu.

 

I. ÔNG TRẦN VĂN NHU (1847-1914)

 

A. Thân Thế

 

Ông Trần Văn Nhu là con trưởng nam của  Đức Cố Quản Trần Văn Thành và Bà Nguyễn Thị Thạnh, sanh tại làng B́nh Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc năm Đinh Mùi (1847), cuối đời vua Thiệu Trị (năm thứ bảy) và vào khoảng vua Tự Đức Mới lên ngôi. Bởi ông thứ hai cho nên hồi c̣n thanh niên người ta kêu là Cậu Hai, và khi có tuổi th́ gọi là ông Hai.

 

Ông Hai hơi nhỏ người, h́nh vóc ốm yếu, nươc da trắng, trán cao, tóc hơi dợn sóng, cạnh hàm bên hữu có một nốt ruồi, lúc trở về già th́ râu thưa , bạc hoa râm nhưng răng c̣n chắc.

 

Ông cưới vợ tại Thị Đam, làng B́nh Thạnh Đông (Châu Đốc), tên là ǵ dọ hỏi chưa thấy ai biết. Ông bà sanh được hai người con: một trai, một gái. Trai trưởng tên là Trần Quang Nhơn (tục gội là cậu Hai Cả), và người gái tên là Trần Thị Xinh.

 

Bản sinh trong một nhà danh gia vọng tộc, ông Hai được học hành rất gỉỏi về chữ Nho; khi Đức Cố Quản cầm binh chống Pháp, ông Hai có tập luyện nhiều về vơ nghệ và theo cha đánh giặc.

 

B. Tạo Bửu Hương Tự

 

Từ khi ĐứcCố Quản bị quân Pháp bao vây và mất tích (năm Qúi Dậu 1873), tấm thân ông Hai thật là truân chuyên vất vả, nào là lo phụng dưỡng mẹ già, nào là l t́m đường mai danh ẩn tích v́ Pháp quân thuở ấy nả tróc ông rất gắt. Họ truyền rao ai bắt đượ cth́ trọng thưởng chức tước bạc vàng, nên ông phải nay ở nơi này, mai dời chỗ nọ, không lúc nào được yên.

 

Trải một thời gian gần 20 năm như vậy, t́nh thế mới lần lần êm dịu. Ông Hai bèn trở về trại ruộng Bửu Hương Các, tiếp tục thi hành sứ mạng đạo đức mà Đức Phật Thầy và Đức Cố Quản đă làm ngày xưa.

 

Mùa Thu năm Đinh Dậu (1897), một hôm ông Hai đang ngồi trên vơng, th́nh ĺnh nằm phệt xuống rồi lịm đi như người đi thiếp, luôn như thế ngót ba ngày không ăn uống nói năng chi hết. Khi tỉnh dậy, hào quang chiếu sáng tỏa khắp trên mái nhà. Nhiều người xúm lại mừng rỡ và hỏi han, ông Hai bảo: "Phật dắt hồn tôi đi dạy Đạo và cho tôi lập chùa thờ Phật."

 

Thế là sau ngày ấy, ông Hai sửa soạn cây cối và qua năm Tân Sửu (1901), ông bắt đầu xây dựng ngôi chùa.

 

Để khỏi phải quyên tiền của bá tánh thập phương, ông Hai bán chiếc ghe sáu bổ (tục gọi là ông Sầm) của Đức Cố Quản và vàng ṿng của bà Cố để tiêu dùng vào việc cất chùa. Chùa này rất rộng, bề dài 20 thước, ngang 18 thước. Khi xong, lấy tên là Bửu Hương Tự.

 

Trong một dịp có đông đủ tín đồ sau khi chùa dựng xong, ông Hai có tiên đoán: "Tôi cất chùa đây là cất lấy nền, chớ sau này chỉ c̣n đá gạch mà thôi".

 

Từ đây ông Hai dùng cái ấn Bửu-Sơn-Kỳ-Hương của Đức Cố Quản, do Đức Phật Thầy ban cho, mỗi năm in phái phát ra một lần cho các tín đồ, đồng thời phát phù trị bịnh, tế độ quần sinh. Mặt khác, ông t́m cách dưỡng nuôi che chở các chiến sĩ Cần Vương  ngày xưa đă tùng chinh theo Đức Cố Quản, để những người ấy được an ổn tu hành khỏi phải trôi nổi lạc loài nữa.

 

C. Ông Hai Lâm Nạn

 

Ngoài một số tín đồ lớn lao rải rác theo các tỉnh miền Tây Nam Việt, ông Hai thuở ấy c̣n có nhiều người con nuôi thân tín ở thường trực tại chùa. Trong số con nuôi ấy, nay chỉ c̣n biết đưọc có sáu người là Văn Đâu, Văn B́nh, Văn Huyện, Văn Chánh, Văn Qui và Văn Đăng. Những người này chất phác làm ăn, chăm lo tu tỉnh nên dược ông Hai tin cậy, giao phó cho coi sóc những công việc quan trọng ở trong vhùa. V́ vậy mà có tên Nguyễn Văn Phẩm (tục gọi Sáu Phẩm) là cháu của ông Hai (cháu ngoại của Đức Cố Quản, con bà sáu Trần Thị Núi) đem ḷng ganh tị, thường nghĩ ngầm mưu này thế nọ để phá hoại công việc của ông Hai.

 

Ngày 21 tháng 2 năm Quí Sửu (1913), nhân có cuộc lễ kỷ niệm ngày chiến đấu anh dũng của đạo binh Gia Nghị, và cũng là ngày Đức Cố Quản mất tích, Phẩm bèn lẽn ra Châu Đốc, nhờ Xă Mảo và Đội Khôi (là những kẻ làm việc cho Pháp thuở ấy) làm giùm đơn, đoạn thẳng vào tỉnh đường báo với nhà cầm quyền Pháp rằng ông Hai hiện đang quần tụ tín đồ đông đảo để mưu cuộc khởi nghĩa phục quốc, nếu kéo quân vào bao vây mà không có, Phẩm cam đoan sẽ chịu tử tội.

 

Thế là trưa hôm ấy vào giờ Ngọ (1), ông Hai đang hành lễ, bỗng một tốp lính tráng đông vầy kéo đến từ bao giờ vây chặt quanh chùa trong khi có hàng trăm người tụ họp.

 

Thấy số người đông đảo quả thật như lời Phẩm báo, bọn lính không cần tra hỏi hư thật, áp vào bắt trói được 56 người (2), rồi soát chùa chiền t́m kiếm ông Hai và những người đệ tử có tên tuổi khác. Lúc ấy ông Hai nhờ có Trần Văn Chánh (tục gọi hai Chánh, là con nuôi của ông Hai), thừ lúc lộn xộn đông người, lén cơng ra cửa sau thoát được.

 

Trong tốp người bị bắt, có ông Nguyễn Văn Tuất là con trưởng của ông Ba Thới, và ông Chủ Khả, người xin phép đứng cất chùa, đều bị giải về Châu Đốc tống giam. (3)

 

D. Bước Bôn Đào của Ông Hai.

 

Khi ông Hai nhờ có Trần Văn Chánh cơng ra khỏi ṿng vây, thầy tṛ cùng rẽ sậy lần đường chạy xuống ẩn vào một góc bảy thưa, cách xa chùa một đổi để lánh nạn và chờ nghe động tịnh. Nơi đây, ông Hai có nhận được một lọn tóc của Sáu Phẩm gởi xuống tỏ ḷng ăn năn, hối tiếc việc làm của ḿnh là bậy và xin thề với ông Hai: thật tâm Phẩm không có ư muốn hại ông. Nhưng ông Hai gạt đi mà rằng: "Nó chặt đầu cũng không tin được đừng nói chi chuyện cắt tóc..."

 

Hôm ấy không có người đem cơm nước, ông Hai phải nhịn đói suốt ngày, ông ôn lại chuyện tan vỡ  vừa rồi và chạnh nhớ đến những lời của mẹ (4) mà mủi ḷng rơi lệ.

 

Chiều lại (22 tháng 2 năm 1918) có ông Nguyễn Văn Trà vốn là một môn đệ trung thành của ông Hai sau khi dọ biết Thầy ḿnh thoát thân được, và hiện đang lẩn tránh tại gốc bảy thưa giữa đồg Láng liền mượn trâu của ông Năm Lực, đem vào rước ông Hai đi tắt ra Cái Dầu, rồi kiếm ghe lén chỏ ông, nội trong đêm ấy thẳng xuống Kiến An (Long Xuyên), ngụ nhà Phan Thị Lới (tục gọi cô Tám Lới). Trong chuyến đi này, trâu nhiều lần bị lạc, nhờ có thần hổ đên đi trước dẫn đường nên mới kịp ra đến Cái Dầu trời vẫn c̣n khuya, không ai hay biết.

 

Ở nhà cô Phan Thị Lới hai ngày th́ bị người lẻo mạch, ông Hai phải dời sang nhà ông Lê Văn Nhượng, rồi đến nhà ông Hương Sư Nguyễn Văn Ca, sau nhờ có nhiều người môn đệ trung thành là Phan Văn Cậy, Bếp Lang, Chín Chức, Tư Oai mưu tính cùng nhau, dọn thuyền đưa ông Hai thẳng lên Nam Vang lánh mặt. Hồi này, Pháp ra lịnh t́m bắt ông Hai rất gắt, nên mặc dù lên tận Nam Vang, ông Hai cũng c̣n phải cải trang, mặc đồ chệt và mua một chiếc ghe của người khách trú để ở cho khỏi sự nghi ngờ.

 

Ngày rằm tháng tư (năm 1913), liệu ở Nam Vang lâu không tiện, ông Hai lại cùng ông Nguyễn Văn Tịnh (5) trở về Cần Thơ, nương ngụ nơi nhà ông Nguyễn Văn Dị. Ở đây được gần một tháng lại dời về nhà Phó Xă Tám trong ngọn B́nh Thủy, và sau rốt đến nhà  Sáu Ngộ ở Ba Ngọn, thuộc quận Trà Bang, tỉnh Rạch Giá.

 

Trên bước đường bôn đào khổ cực, người ta thấy ông Hai vẫn b́nh tĩnh như thường. Thỉnh thoảng ông có nhắc nhở lời tiên tri của Đức Phật Thầy và ôngbà Cố Quản cho tín đồ nghe đê khuyến khích thêm về sự tu hành đạo đức.

 

E. Tịch Ở Trà Bang

 

Khoảng mùa hè năm quí Sửu (1913), ông Hai về nhà Sáu Ngộ ở Trà Bang. V́ thời thế bắt buộc, ông đành phải mai danh ẩn tích luôn ở đây. Lúc ấy, trừ một số tín đồ tâm chí ra, không c̣n ai biết được ǵ về tin tức của ông nữa.

 

Đầu xu6an năm Giáp Dần (1914), ông Hai kêu ông Nguyễn Văn Tịnh lại gần mà nói rằng:

 

- Sau này ta chết, không có chết bậy. Thuở xưa Đức Phật Thầy trước khi tịch có sưng hai chưn. Ngài cho kêu ông chủ chùa (?) vào rồi viết một chữ "tử" mà hỏi là chữ ǵ. Ông chủ chùa đáp là chữ tử. Ngài nói luôn: "Hễ tử là táng nghe!"

 

Thuật xong câu chuyện của Đức Phật Thầy, ông Hai nói tiếp:

 

- Thầy Vân Tiên xưa cho Vân Tiên ba điệu phù mà thôi, c̣n Thầy ta cho ta đến bảy điệu!

 

Những câu nói ấy nào hay là lời di chúc. Ba tháng sau, ngày 25 tháng 3, ông kêu hết mấy người tín đồ ṭng vong lại mà cho hay rằng ông sắp tịch, vậy khi tịch rồi th́ hăy bó lại bằng bảy miếng tre rồi chôn mà thôi, đừng sắm ḥm rương chi hết.

 

Thế là trong ngày hôm ấy ông Hai liễu ngộ, thọ được 67 tuổi trong lúc tinh thần đầy đủ, không bịnh, chỉ có sưng hai bàn chân như Đức Phật Thầy Tây An.

 

T́nh Thầy nghĩa tớ, bơ vơ trong cảnh xứ lạ quê người, anh em bổn đạo chẵng nỡ chôn cất  "lơa lồ", cho nên đồng chịu lỗi với Thầy rồi cho cô Năm Trà Bang đi ra Cái Răng nhắc ḥm về chôn cất.

 

Sau hai ngày chờ đợi đi mua và sơn ḥm, xác thịt ông Hai vẫn mềm dịu như người đang ngủ, trong miệng lại có mùi thơm bay ra ngát cả chung quanh.

 

Khi sửasoạn tẩn liệm, th́nh ĺnh trong ḥm để ở ngoài sân có tiếng nổ lớn vang dậy. Ai nấy kinh hồn, mới hay rằng v́ căi lời Thầy cho nên mới có điềm bất lành ứng hiện nhu vậy, bèn kéo vào trước linh thể ông Hai, xin thọ tội mà làm theo lời dặn (6).

 

Cuộc lễ táng chung cử hành êm thắm tại Trà Bang vào hôm 28 tháng 3 năm Giáp Dần (1914), sau ba ngày ông Hai tịch diệt.

 

Xác thịt tuy đă trả về cho đất, nhưng công đức và sự nghiệp ông Hai vẫn c̣n tồn tại măi với non sông. Lúc thanh niên ông khoác mảnh nhung y để bảo tŕ cương thổ. Khi về già lại đem đạo giúp đời, cứu độ muôn dân. Ông thật là một bậc quán thế siêu phàm phát tích tại vùng Thất Sơn trong khoảng đầu thế kỷ thứ 20 vậy.

 

Ngày nay, ngôi chùa Bửu Hương Tự được trùng tu và trở thành đồ sộ uy nghiêm. Cuộc lễ khánh thành ngày 11-9-1954, chứng tỏ rằng sự nghiệp ông Hai Vẫn được người đời hinh hương tưởng niệm.

 

  

GS Nguyễn Văn Hầu.

(C̣n tiếp)

 

CHÚ THÍCH:

 

(1) Có người nói là giữa đêm 21 rạng mặt 22.

 

(2) Theo lời ông Nguyễn Văn Tịnh th́ trong vụ này bị bắt 83 người, nhưng ông Nguyễn Văn Tuấn là người có bị bắt trong lúc ấy thuật lại th́ chỉ có 56 người mà thôi. Có lẽ trong lúc bắt quả thật 83 người, song khi về tỉnh th́ được tha bớt, nên khi vào khám ông Tuấn chỉ thấy có 56 người đó chăng?

 

(3) Toà Châu Đốc kêu án mỡi người 13 tháng tù ở, trong đó có 36 người chịu án. C̣n lại 20 người kia chống án (có ông Tuấn) đều bị đày ra Côn Đảo. Khi măn tù có ông Chủ Khả v́ trách nhiệm nên đứng ra dở chùa, đúng như lời tiên đoán của ông Hai hồi trước.

 

(4) Đức Phật Thầy ngày xưa có tiên tri với Đức Cố Quản rằng: "Con ông sau này sẽ có người làm rạng rỡ cho nền Đạo, tín đồ rất đông, nhưng có lần bị nạn, phải nhịn đói suốt ngày tại gọac bảy thưa." Bà Cố Quản lúc sinh thời thường đem chuyện ấy mà nhắc nhở ông Hai, nay đúng y như thế, ông Hai nhớ lời mẹ mà tủi ḷng.

 

(5) Ông Nguyễn Văn Tịnh tục gọi ông Năm Tịnh, là tín đồ của ông Hai, hiện c̣n mạnh giỏi và đag ở giữ Bửu Hương Các.

 

(6) Có thuyết nói hồi ấy v́ Pháp c̣n đang truy tầm ông Hai khắp chốn cho nên tín đồ tuy nghe lời bó bảy miếng tre, nhưng rồi lại cũng để vào ḥm mà chôn như người thường cho khỏi tiết lậu tun gtích. Nhưng theo lời ông Năm Tịnh là người có mặt tại chỗtrong lúc ấy, được mục kích rơ ràng th́ cái ḥm đă đem trả lại cho chủ trại, sau một ả xẩm ở Cái Răng chết, được mua chôn.

[ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 06/22/08