NẮNG VÀ HOA
TRÊN MỘ
Cao Huy Thuần
Tha tội là ǵ?
Triết lư và các tôn giáo phương Tây nghĩ về điều đó như thế nào? Tôi
chỉ gợi lên ở đây hai ba câu hỏi thôi, liên quan đến câu chuyện mà
tôi sẽ kể.
Không biết có
phải nhân loại trở nên thánh thiện hay không mà bỗng nhiên xin lỗi,
thú tội, hối hận trở thành vấn đề thời sự. Hay có lẽ ai nấy đều theo
gương Giáo Hoàng bên La Mă. Bên Mỹ, ông Clinton hối hận đến động
ḷng, xin lỗi xót xa, v́ trót sảy chân chút phận đàn bà. Bên
Argentine, nhà thờ lên tiếng xin tha tội v́ đă im lặng đồng lơa
trong suốt thời gian độc tài quân phiệt. Nhà thờ Brésil cũng vội
vàng tuyên bố hối lỗi trước “Người da đỏ và người da đen”. Một vài
bạn của ông Chirac giục ông hối hận trước dư luận v́ bàn tay của ông
có nhúng khá sâu vào những mánh mung kinh tài trong khi làm thị
trưởng Paris. Trí thức Pháp tố cáo chính sách tra tấn dă man trước
đây của quân đội Pháp ở Algérie và yêu cầu chính phủ Pháp chính thức
hối hận. Massu, tướng chỉ huy, thành khẩn hối tiếc. Linh mục Alain
Maillard de La Morandais, trước đây là sĩ quan trong quân đội Pháp,
kêu gọi nhà thờ hăy hối hận về những “tội ác của tra tấn từ Đông
Dương đến Algérie”. Phía tả, ông Robert Hue hối hận về quá khứ
xít-ta-li-niên của đảng ông. Phía ṭa án, một người Pháp hối lỗi
trước ṭa đă hiếp dâm một em bé Thái Lan 11 tuổi trong một chuyến
“du lịch t́nh dục” và tuyên bố nhận bản án như một cơ hội để đền tội.
Thế th́
câu chuyện của tôi hôm nay là thời sự rồi! Mà không chừng nó luôn
luôn là thời sự, bởi v́ nó chỉ hết thời sự khi nào con người hết tội.
C̣n lâu lắm! Tội cá nhân cũng vậy, mà tội tập thể cũng vậy. Bằng
chứng là trong thời sự quốc tế, tội chiến tranh và tội diệt chủng
đang réo gọi phạm nhân đền tội trước ṭa.
Tôi không
có tham vọng bàn chuyện thời sự đâu. Tôi chỉ muốn kể một câu chuyện
nhỏ. Và chỉ muốn nói rằng tuy câu chuyện đă xảy ra cách đây hơn 50
năm, bỗng nhiên nó cứ là thời sự. Nghĩa là vẫn mới. Tôi sẽ kể câu
chuyện đó sau khi nói qua một ít lư thuyết về sự tha tội trong các
tôn giáo Tây Phương. Tại sao như vậy? Tại v́ câu chuyện có một chiều
sâu lịch sử và tôn giáo cần phải biết. Sau đó, tôi sẽ nói đến thái
độ của chúng ta đối với câu chuyện.
Như vậy,
bài nói chuyện hôm nay sẽ gồm 3 phần:
- Phần thứ
nhất là lư thuyết Tây Phương về tha tội;
- Phần thứ
hai là câu chuyện tôi muốn kể về thú tội và tha tội;
- Phần thứ ba
là suy nghĩ chung quanh câu chuyện đó và thái độ của Phật giáo.
I
Tha
tội là ǵ? Triết lư và các tôn giáo phương Tây nghĩ về điều đó như
thế nào? Tôi chỉ gợi lên ở đây hai ba câu hỏi thôi, liên quan đến
câu chuyện mà tôi sẽ kể.
1. Trước
hết, tha tội không phải là t́m cách để giải thích, biện minh mmột
tội do người khác làm. Tiếng Pháp rơ hơn: pardon không phải là
excuse. Trong tiếng Việt ta thường nghe nói: thông cảm. Làm bậy ǵ
đó, rồi xoa đầu, xoa tay: xin anh, xin chị thông cảm. Là ǵ? Là xin
hiểu cho tôi. Hiểu tại sao, trong hoàn cảnh nào, tôi đă phạm lỗi.
Hiểu như thế, ít ra cũng nhẹ tội. May hơn nữa th́ tha tội luôn. Tại
sao? Tại v́ có ư muốn t́m hiểu th́ mất ư muốn trả thù. Trả thù th́
chẳng cần t́m hiểu, thông cảm ǵ cả. Trả thù là cắt đứt lập tức con
đường đưa đến tha lỗi. Như vậy, câu hỏi đặt ra là: nếu tôi hiểu
được, cắt nghĩa được, biện minh được một hành động phạm tội, th́ tôi
c̣n có thể nói được rằng tôi tha tội hay chăng? Tội đă được hiểu
rồi, th́ tha cái ǵ?
Nhiều nhà
tư tưởng phương Tây khẳng định: như thế không phải là tha tội. Đă
gọi là tha, th́ chẳng cần t́m hiểu ǵ cả. Tội vẫn c̣n đấy, chẳng mất
đi đâu. Vẫn nguyên vẹn như thế. Nhưng nó bị xóa do hành động không
suy tính ǵ cả của người bị xúc phạm.
Tôi vừa
nói: hành động không cần suy tính. Nghĩa là không cần t́m hiểu. Như
vậy phải chăng có thể tha cả những tội tày trời, những tội không thể
hiểu được, và do đó không thể tha thứ được? Câu hỏi này ám ảnh lịch
sử Tây phương từ 1945 đến nay. Tại sao giữa một thế giới văn minh
như thế mà một tội ác khủng khiếp như tội diệt chủng của nazi có thể
xảy ra như vậy? Tại sao trí thức Âu Châu đă khôn glên tiếng báo động
kịp thời? Tại sao dân chúng Đức ngả theo thuyết điên khùng quốc xă?
Tại sao những con người tốt bỗng trở thành đồ tể nazi? Nếu cứ t́m
hiểu như thế th́: một, tất cả mọi người đều có thể mang một ít trách
nhiệm trong hiện tượng nazi; hai, có thể phát sinh khuynh hướng làm
nhẹ tội nazi bằng cách đưa ra những giải thích có tính cách lịch sử,
kinh tế, xă hội, tâm lư… về những biến chuyển của dân tộc Đức từ
1933. “Không ai tự ư muốn xấu,” Socrate đă nói như vậy. “Nul n’est
méchant volontairement”. Không ai muốn tự ư trở thành phạm nhân.
Phạm nhân chỉ là nạn nhân của mê muội, ngu dốt. Cứ t́m hiểu th́ e sẽ
gặp Socrate. Mà tội ác của nazi th́ không thể biện minh được, không
thể tha được.
Ngày nay,
thỉnh thoảng có người biện hộ cho nazi. Mỗi lần như thế, toàn thể xă
hội Âu châu phản ứng mănh liệt: tội nazi không tha được. Thế th́ vấn
đề đặt ra là: làm sao nói được rằng tha tội là tha không suy tính?
Tha tội là tha những tội không thể tha được? Tôi sẽ trở lại câu hỏi
hóc búa này. Bây giờ th́ tôi qua câu hỏi thứ hai.
2.
Tha tội có phải là quên không?
Ai cũng
nói: thời gian xóa đi tất cả. Tha tội phải chăng là bỏ qua đi cho
rồi, quên phứt cho nhẹ đầu, bởi v́ trước sau ǵ thời gian cũng xóa
đi tất cả? Giữ mối thù trong ḷng, nh́n mối thù cḥng chọc không
nhắm mắt, có khác ǵ người bắn cung nhắm đăm đăm vào cái đích mà
không biết nó đang chuyển động không ngừng. Bắn như thế khác ǵ bắn
vào khoảng không! Tất cả đều biến đổi: hoàn cảnh biến đổi, phạm nhân
biến đổi, nạn nhân biến đổi, vậy th́ ai thù ai? Cả hai chữ “ai” đều
đổi cả rồi, chữ thù có c̣n y nguyên? Không chừng mang thù như thế sẽ
đưa đến tâm trạng bất lực, kư ức bệnh hoạn. Quên thù đi để t́ msự
yên ổn, để làm hoà b́nh với chính ḿnh, điều đó lắm khi cần thiết,
về mặt cá nhân cũng như về mặt cộng đồng. Luật pháp nước nào cũng
trù liệu những luật xóa tội, giảm tội, mà mục đích là đem lại hoà
b́n hxă hội. Thế nhưng có những tội mà luật pháp buộc không được
quên. Đây là những tội đang hấp nóng thời sự: tội phạm chiến tranh,
tội phạm chống nhân loại.
Vậy th́ có
khi phải quên, có khi phải nhớ. Người Do Thái tự dặn ḷng và dặn
nhân loại không được quên tội ác nazi. Họ nói: luật của thời gian là
quên, nhưng luật của đạo đức là nhớ. Đạo đức siêu việt thực tại,
siêu việt lịch sử. Nếu thực tại trái với đạo đức th́ tôi phải chống
lại thực tại chứ không phải luồn theo nó. Công lư, b́nh đẳng, nhân
phẩm… là những nguyên tắc không lệ thuộc thời gian. Tội ác là tội
ác, vẫn là tội ác, dù cho kư ức về nó có phai mời đi với năm tháng.
Không phải v́ tôi quên một xúc phạm mà xúc phạm đó mất tính cách xúc
phạm. Không phải v́ tôi quên mà tôi có thể nói rằng tôi quên như vậy
là có lư.
Bởi v́ tha
tội là nhớ mà tha. Quên tội rồi th́ không thể nói tha được. Tha cái
ǵ? Quên, là tiêu cực. Nhớ, là tích cực. Tha tội là một hành động
tích cực: nạn nhân nhớ rành rành tội ác đă phạm nhưng quyết định gạt
nó qua một bên, siêu việt nó. Bởi vậy, ghi tạc vào kư ức, là sự ràng
buộc, chung thủy với quá khứ. Quên quá khứ, quên lịch sử th́ ta đâu
c̣n biết ḿnh là ai. Thời gian là kư ức v́ thời gian là tranh đấu
trường kỳ để chống lại sự quên. Đối với Do Thái, đó là không quên
những đau khổ đă chịu đựng. Bởi v́ đau khổ là lịch sử Do Thái. Họ
nói: họ đă sống suốt hai ngàn năm trong những nước mà những người
cai trị mạo danh Thiên chúa giáo ngự trị trên tinh thần, trên thể
xác. Họ nhắc: dưới danh nghĩa “Thượng Đế của t́nh thương”, những nhà
tư tưởng lớn nhất của họ đă bị đốt thiêu với sách vở. Họ nhắc nữa:
Do Thái bị nhục mạ, khinh bỉ trong chính sự lư giải giáo lư của
Thiên chúa. Tất cả những điều đó đă ghi tạc vào linh hồn của họ sự
cần thiết phải nhớ. Tội ác của nazi cũng vậy. Quên, th́ họ không c̣n
là Do Thái nữa. Vậy th́, nếu một ngày kia họ tha tội cho nazi th́
bởi v́ tội đó đang rướm máu mà họ tha.
Đó là
thái độ của các tác giả Do thái về kư ức và sự quên. Các tác giả
Thiên chúa nghĩ thế nào?
Trước
hết, họ nhắc lại câu nói của Giê Su khi bị đóng đinh trên cây thập
tự. “Lạy Cha, họ không biết hành động họ đang làm”. Một câu nói hàm
chứa tinh thần tha lổi. quả vậy, tha tội là thái độ của giáo lư
Thiên chúa. Thượng Đế của Do Thái và Thiên chúa là một, và Thượng Đế
đó có hai mặt, vừa là Thượng Đế của thịnh nộ tượng trưng cho công
lư, vừa là Thượng Đế của t́nh thương. Trong vấn đề tha tội, như vấn
đề nazi đang nói, các tác giả Do Thái nhấn mạnh trên công lư, các
tác giả Thiên chúa nhấn mạnh trên t́nh thương. “Lạy Cha, họ không
biết hành động họ đang làm” là câu nói của t́nh thương.
Thế nhưng
phải hiểu thêm điều tối quan trọng này nữa. Thái độ của Thiên chúa
giáo là tha tội, nhưng sự tha tội phải được hiểu thông qua Thượng
Đế. Tại v́ tha tội là ân huệ của Thượng Đế. Giữa người và người
không có tha tội. Chỉ có Thượng Đế là tha tội. Nói rằng con người
tha tội là tha tội thông qua Thượng Đế. Thượng Đế là Thượng Đế của
t́nh thương, và chính bởi v́ tôi biết Thượng Đế luôn luôn thương tôi
mà tha tội cho tôi, cho nên tôi mới tha tội cho kẻ khác được. Tôi
nhận ân huệ của Thượng Đế và tôi trao ân huệ đó cho người khác dưới
dạng tha lỗi. Paul Ricoeur gói ghém lư thuyết đó bằng một luật mà
ông gọi là luật “tràn đầy thặng dư” (loi de surabondance). Ở đâu mà
tội lỗi tràn đầy, ở đó có tràn đầy hơn nữa, “tràn đầy thặng dư” ân
huệ của Thượng Đế. Tha tội được hiểu qua sự tràn đầy thừa dư đó: dù
cho phạm nhân có phạm tội ǵ đi nữa, luôn luôn có một cái ǵ đó đợi
chờ anh ta và cái đó tốt đẹp hơn việc mà anh ta làm. Cái đó là ân
huệ của Thượng Đế (5). Sự tha tội của Thượng Đế ví như một tấm
gương: tôi soi vào tấm gương đó và tôi thấy tội của tôi làm, tội đối
với Thượng Đế và tội đối với người khác. Tôi của tôi như thế mà
Thượng Đế c̣n tha th́ làm sao tôi không thể v́ Thượng Đế mà tha tội
cho người đă xúc phạm tôi?
Hiểu và
hành động như thế th́ tôi thấy nhẹ ḷng, nhẹ như trút được gần hết
gánh nặng. Kierkegaad gọi đó là “gánh nặng nhẹ bơn” (fardeau léger):
“người nào trút được ư thức về tội lỗi và thế vào đó bằng ư thức của
tha tội th́ trút đi được gánh nặng và thế vào đó bằng gánh nặng nhẹ
bơn” (6). Gánh nặng nhẹ bơn đó là ǵ? Là không quên rằng ḿnh vừa
được tha tội, không quên rằng ḿnh sẽ được tha tội ngày mai, không
quên rằng từ sự tha tội đó ḿnh dựng xây một đời sống mới.
Kierkegaard nói rất hay về tương quan giữa tha tội và lăng
quên:”Người nông nổi th́ muốn rằng cái ǵ cũng sẽ quên: đừng ḥng!
Người bi quan th́ muốn chẳng ǵ quên được: đừng ḥng! Nhưng người
nào tin ở Thượng Đế th́ tin rằng tất cả đều quên nhưng quên với gánh
nặng nhẹ bơn trong ḷng: bởi v́ anh ta gánh kư ức của sự tha tội!
Người nông nổi muốn rằng kư ức đó cũng sẽ quên, muốn rằng tất cả đều
được tha tội-và-quên. Nhưng ḷng tin vào Thượng Đế nói: tất cả đều
quên, nhưng này, ngươi phải nhớ đến sự tha tội”. Nghĩa là nhớ đến sự
tha tội của Thượng Đế mà ai cũng được hưởng qua ân huệ. Như vậy đâu
có phải quá khứ bị quên: quá khứ đă quên trong sự tha tội. Mỗi khi
ngươi nhớ đến sự tha tội th́ quá khứ sẽ quên, nhưng nếu ngươi quên
sự tha tội, quá khứ sẽ không bị quên nữa. Ngươi hăy sống như thế:
sống mà đừng quên rằng ngươi đă được Thượng Đế tha tội.
Nói một
cách khác, tin vào ân huệ của Thượng Đế th́ khỏi phải ôm tội mà
sống. Th́ được rửa tội. Đó là Thượng Đế thương yêu. Nhưng Thượng Đế
cũng biết giận, biết thịnh nộ. Đây là vấn đề thứ ba.
3.
Tha tội và công lư.
Các nhà tư
tưởng Thiên chúa giáo nói: khi Thượng Đế tha tội, Thượng Đế khước từ
khả năng trừng trị, khả năng hành xử công lư của ḿnh. Họ biện luận:
tất nhiên trong thánh kinh không thiếu ǵ những đoạn tiên tri, loan
báo nhữn gtrừng phạt, những thịnh nộ, những tai ương sẽ xảy ra,
nhưng “Thượng Đế không phải lúc nào cũng là Thượng Đế giữ măi thịnh
nộ”(“Tu n’es pas un Dieu qui garde sa colère à toujours”). Ta sẽ
trừng phạt để ngươi trở về lại với Ta, để ngươi lại t́m thấy Ta.
Nhưng công
tŕnh của Thượng Đế là làm cho người được thành người trọn vẹn như
Thượng Đế đă tạo ra nó bằng t́nh thương của ḿnh. Công tŕnh này
không thể thực hiện được bằng trừng phạt. Trừng phạt không làm cho
con người trở lại con người trong t́nh trạng trước khi phạm tội.
Giết kẻ sát nhân không trả lại được mạng sóng cho nạn nhân. Và làm
sao t́m được một h́nh phạt tương xứng với tội ác đă phạm? Kẻ giết
trăm người chỉ có một thân để đền tội. Trừng phạt không sửa đổi được
con người, chỉ làm tăng thêm khổ đau mà thôi. Bởi vậy, họ nói, công
lư của Thượng Đế không giống với công lư của con người. Thượng Đế từ
khước, không dùng đau khổ để nhân lên đau khổ. Thượng Đế mở ra cho
người phạm tội một con đường mới và cùng đi với anh ta trên con
đường đó: conđường Liên Minh. Tha tội là liên minh giữa Thượng Đế đă
từ khước trả thù và con người đă được tha tội, run sợ trước Thượng
Đế (“Tu pardonnes afin que l’on te craigne”).
Được tha
tội như thế, con người học và hiểu rằng từ đây ḿnh không thể là ông
quan ṭa đúng đắn. Không có khả năng phán đoán đúng đắn nữa, ḿnh
không xét xử người khác được. Mà đă không xét xử được th́ chỉ c̣n
cách tha tội thôi. Nhưng phải nhớ hoài trong đầu, phải lặp đi lặp
lại rằng tha tội như vậy là tiếp tục, là kéo dài sự tha tội mà ḿnh
đă nhận từ Thượng Đế qua chúa Giê Su. Ḿnh không xứng đáng tư nào để
được tha tội, vậy mà Thượng Đế cũng tha, tha không suy tính, tha
miễn phí, gratuit. Đó mới là sự tha tội đích thực, duy nhất đúng:
tha miễn phí. Cho nên tha tội, nghĩ cho cùng, là tha cái không thể
tha được: bởi v́ không thể tha được cho nên mới tha, chứ nếu tha
được th́ sự tha đâu c̣n nghĩa lư cao siêu ǵ nữa! Hăy bắt chước
Thượng Đế tha như vậy. Thánh kinh nói: “Phải thương người khác như
thương chính ḿnh”, nguyên tắc đó vượt qua luật pháp, vượt qua công
lư.
Một chủ
trương như vậy, cần phải giải đáp ba câu hỏi. Một, có thể tha tội
cho người không nhận tội, không hối hận, không xin lỗi hay không?
Hối hận, thú tội, đó chẳng phải là điều kiện tiên quyết để tha tội
hay sao? Tha tội là để người kia làm lại cuộc đời mới, đuổi bóng
tối, thắp ánh sáng, nhưng lửa có thắp được không khi củi ướt? Họ trả
lời: Tôi tha tội v́ tôi nối kết hành động tha của tôi với cây thánh
giá.
Hai, như
vậy phải chăng chỉ nạn nhân mới có thể tha tội, ngoài ra không ai
khác có thể tha? Đứa con bị chết v́ tai nạn xe cộ, người mẹ không
thể tha tội được cho kẻ lái xe bất cẩn? Hàng chục người bị chết v́
cầu sập, những người sống sót không tha tội được cho ông kỹ sư đă
tính toán lầm? Triết gia Do Thái nổi tiếng Emmanuel Lévinas trả lời
không ngần ngại: trong Cựu Ước, làm máu chảy th́ công lư kêu gọi trả
thù. Cựu Ước ghê tởm sự tha tội được ban cấp do người khác ngoài nạn
nhân, bởi v́ chỉ nạn nhân mới tha tội được. Tôi có quyền tha những
xúc phạm gây ra do những người khác, thân thuộc tôi hoặc dân tộc
tôi, th́, v́ họ, tôi đ̣i hỏi công lư (7). Đây là lập trường trước
sau như một của người Do Thái đối với nazi.
Các nhà tư
tưởng Thiên chúa giáo nói khác: tất cả chúng ta đều liên đới với
nhau trong thánh thể, cho nên bất công, dù ở đâu, cũng liên hệ đến
chúng ta. Và bởi v́ bất công và xúc phạm vượt ra khỏi nạn nhân. Dù
nạn nhân đă chết, người khác vẫn có thể tha tội được.
Câu hỏi
thứ ba: thế th́ tôi có thể tha tội cho tôi không? Trả lời: không
nhất thiết không. Tôi có thể nhận lời xin tha tội, nhưng tôi không
thể ban cấp sự tha tội cho chínhtôi, tôi không thể áp dụng luật
“tràn đầy thặng dư” cho chính tôi. Phải có một người khác nói cho
tôi biết luật đó. Phải có khoảng cách giữa người tha tội và người
được tha. Phải đi xưng tội để được nghe nói: “Tôi tuyên bố anh được
tha” (“Je vous declare pardonné”). Thượng Đế tha tôi cho anh như tha
tội cho tất cả mọi người. C̣n nếu tôi không thổ lộ với ai mà khổ sở
quá th́ chỉ có cách tự tử. Bởi v́ tôi không thể tha tội cho tôi.
Khi năy,
tôi có đối chiếu Thượng Đế của Cựu Ước với Thượng Đế của Tân Ước,
Thượng Đế của công lư và Thượng Đế của t́nh thương. Nói như vậy
không có nghĩa Thượng Đế của Do Thái chỉ có thịnh nộ, trừng phạt.
Chương Jonas mà tín đồ Do Thái phải đọc trong lễ lớn nhất của họ, lễ
Kippour, chứng tỏ điều đó: Thượng Đế sai tiên tri Jonas đến Ninive
kêu gọi dân chúng xứ đó hối hận để được tha tội. Tội ǵ? Trăm năm
trước đó, thủ đô này đă tàn sát dân Do Thái gần diệt chủng. “Jonas,
đứng dậy, đi đến Ninive!” Trong Kinh thánh, Ninive được mô tả như
đất của bạo lực, bất công, vô thần, tội lỗi. Jonas không chấp nhận
nỗi lệnh đó. Một tội như vậy không thể tha được, tha là chẳng c̣n lẽ
phải, công lư ǵ nữa. Jonas ngậm miệng ra đi, nhưng làm ngược lại để
tỏ cho Thượng Đế biết ḷng ông đang nổi loạn với duyên cớ chính
đáng: thay v́ đi về hướng Ninive, phía đông, ông đi ngược lại, phía
tây. Ông không đi lên trời, về phía Thượng Đế, mà đi xuống biển. Gặp
biển, ông lấy tàu, nhưng băo nổi lên, tàu sắp đắm. Thủy thủ vất hết
hàng hóa để cứu người, nhưng băo dữ hơn. Thủy thủ quỳ xuống van vái
Thượng Đế của họ và bảo Jonas van vái Thượng Đế của ông. Nhưng băo
vẫn dữ. Họ bàn tán và khám phá ra rằng thần băo nổi giận v́ có Jonas
trong tàu. Jonas nói: đúng vậy, hăy ném tôi xuống biển, v́ chính tôi
mà thần giận các ông. Thủy thủ không nỡ ḷng, cố chèo chống vào bờ,
van xin cả Thượng Đế của Joans, nhưng làm sao chống nổi Thượng Đế!
Rốt cuộc, họ phải ném Jonas xuống biển. Biển yên, gió lặng. Jonas
ch́m sâu trong biển, trôi vào bụng cá voi. Vâng lệnh Thượng Đế, cá
voi mang Jonas vào bờ, trả ông về đúng chỗ ông bắt đầu đi. Và, Jonas
nghe Thượng Đế phán: “Jonas, đứng dậy, đi đến Ninive!”.
Nghĩa là
Thượng Đế của Jonas cũng tha cái tội không thể tha được. Bởi v́ t́nh
thương siêu việt công lư.
II.
Bây giờ đến lúc tôi có thể kể câu chuyện được rồi. Tha hay không
tha?
Chuyện này
được viết và in ra lần đầu năm 1969, nguyên tác bằng tiếng Đức, dịch
ra tiếng Pháp cùng năm. Ba mươi năm sau, 1999, truyện được in lại,
và cũng như lần trước, nhà xuất bản mời một số nhân vật nổi tiếng
trong lĩnh vực triết học, văn học, tôn giáo cho biết ư kiến. Người
tŕnh bày lập trường Phật giáo là Mathieu Ricard, nhà khoa học Pháp
đă trở thành vị Tăng Tây Tạng từ nhiều chục năm nay, cộng sự viên
thân tín của ngài Đạt Lai Lạt Ma.
Truyện lấy
tên là Die Sonnenblume trong nguyên tác, Les Fleurs de Soleil trong
bản tiếng Pháp (8). Tôi dịch là Hoa Mặt Trời. tác giả là Simon
Wiesenthal mà tôi phải giới thiệu dài v́ ông là nhân vật chính của
truyện. Đây là chuyện đă xảy ra cho chính ông năm 1942. Wiesenthal
là người Do Thái, sinh và sống ở Ba Lan, nơi mà người Do Thái bị kỳ
thị sâu đậm trước thế chiến thứ hai. Sau khi Đức quốc xă chiếm Ba
Lan năm 1941, ông và vợ bị bắt nhốt vào trại tập trung rồi vào trại
khổ sai. Tháng tám 1942, mẹ ông bị bắt nhốt vào trại tử h́nh. Cuối
tháng chín năm ấy, 89 người trong đại gia đ́nh của ông bị chết.
Tháng mười năm 1943, ông vượt ngục, nhưng bị bắt lại vào tháng sáu
năm 1944. Đáng lẽ ông đă bị đưa vào trại chết nếu Hồng quânLiên Xô
không chuẩn bị tấn công vào nơi ông bị giam. Cả trại giam bị lùa đi
nơi khác, cho đến ngày 5-5-1945 th́ ông được quân đội Mỹ giải phóng.
Sau chiến
tranh, ông dùng tất cả cuộc đời của ông để thành lập những trung tâm
lịch sử khắp Âu châu và Mỹ châu thu thập chứng cớ về tội ác của nazi
và để truy lùng những tay đầu đảng nazi đang lẩn trốn trên khắp thế
giới. Có người hỏi ông: tại sao ông không chịu sống b́nh thường như
mọi người mà cứ săn đuổi nazi suốt đời như vậy? Ông trả lời: để mai
sau, khi qua bên kia thế giới, gặp lại hàng triệu đồng bào của ông
đă chết trong các trại giam, ông có thể nói với họ rằng: “tôi không
quên các anh”. Ông không quên. Khi năy, tôi nói nhiều về quên và nhớ
là v́ vậy.
Chuyện xảy
ra trong thời gian ông bị giam trong trại khổ sai. Tra tấn, hành hạ,
chưởi mắng, nhục mạ, đói, bệnh, chết… là chuyện hàng ngày. Nhưng man
rợ nhất là ư muốn hạ con người xuống mức con vật, biến nhân tính
thành thú tính, lăng nhục nhân phẩm của người Do Thái. Trong thế
giới tàn ác, phi nhân đó, câu hỏi chập chờn ngoài trong đầu người tù
là: Do Thái toàn năng, toàn hảo đi đâu rồi? Kinh sách Do Thái kể:
Thưở xưa, có bốn thiên thần t́nh nguyện làm cha đở đầu cho người.
Thần nhân từ, thần sự thật, thần hoà b́nh và thần công lư. Nhưng
ngay lúc Thượng Đế muốn biết có nên tạo ra con người hay chăng th́
bốn thiên thần bất đồng ư kiến. Thần sự thật chống đối quyết liệt.
Thượng Đế giận quá, đày thần xuống trái đất. Các thần kia van xin
Thượng Đế rủ ḷng tha tội, van xin thiết tha quá khiến Thượng Đế
phải chấp nhận triệu thần sự thật về lại thiên đ́nh. Thần này trở về
trời, mang theo một nắm đất ướt sũng nước mắt, nước mắt mà thần đă
khóc khi bị đày xuống trần. Thượng Đế đă nặn ra con người với nắm
đất đó.
Thế th́
Thượng Đế đang ở đấy chứ ở đâu! Rơ ràng con người là nắm đất ướt
sũng nước mắt. Ai c̣n giữ được ḷng tin th́ tin như vậy để sống. Ai
mất ḷng tin th́ càng khó tin: Chẳng lẽ thằng trưởng trại nazi sát
nhân kia cũng sinh từ cùng một nắm đất với người Do Thái tử đạo này?
Chắc Thượng Đế đi nghỉ phép rồi! Đang tắm biển, phơi nắng. Bận rộn
quanh năm, Thượng Đế cũng có quyền đi nghỉ hè.
Truyện lấy
tên là Hoa Mặt Trời bởi v́ đó là hoa mà người Đức trồng nơi nghĩa
địa, trước mỗi tấm mồ. Một hôm, đang bị áp tải đi làm khổ sai, tác
giả bỗng chợt thấy hoa mặt trời nở thẳng tấp trong một nghĩa trang
quân đội Đức. Cuống hoa vươn cao, mặt hoa nở tṛn như đón tất cả
nắng từ trên trời, dọi nắng ấy xuống tận đáy mồ. Vài con bướm bay từ
hoa này sang hoa khác, đậu giây lát, rồi bay, như đem chuyện của mồ
này qua nói lại với mồ kia. Người chết dưới mồ nhờ hoa mà nhận được
ánh sáng, nhờ bướm mà chuyền được chuyện tṛ. Người tù ngây người
nh́n cảnh. Cảnh đẹp quá, nhưng Thượng Đế đi nghỉ phép rồi, bởi v́
chỉ lính Đức mới được chết như thế, c̣n tù Do Thái như anh th́ xác
vứt vào hố chôn tập thể, thây này chồng lên thây kia, đâu có hoa mặt
trời chờ đợi. Nằm dưới đất, Do Thái vẫn chưa được là người.
Đó là bối
cảnh của chuyện. Câu chuyện thực sự bắt đầu từ hôm tác giả làm khổ
sai trong khuôn viên một bệnh viện quân sự. Đang làm việc như thế,
bỗng một cô y tá tần ngần đến hỏi người tù: “Anh là Do Thái phải
không?” Cô bảo anh theo cô vào bệnh viện, leo thang gác lên tầng
một, tầng hai, đầy thương binh, đầy người băng bó. Cô đưa anh đến
trước một cửa pḥng, mở cửa, đẩy anh vào trong pḥng nửa tối nửa
sáng, trong đó anh nhận ra một cái giường trắng và trên giường một
h́nh thù người phủ dưới chăn trắng. Cô y tá bảo anhở lại đấy, rồi
đóng cửa đi mất. Anh nghe một giọng yếu ớt van lơn: “Xin ông làm ơn
đến gần chút nữa… tôi không nói to được”. Cả một cái mặt người, cả
một cái đầu người bị băng bó lộ ra khỏi chăn. Hai bàn tay đặt trên
chăn, trắng hếu như khôngc̣n tư máu.
Người tù
ngần ngại đến ngồi bên mép giường. Giống như sâu ḅ, mấy ngón tay
trắng hếu lần ṃ đến t́m bàn tay của anh. Anh nghe giọng nói yếu ớt
như sắp tắt: “Tôi không giữ ông lâu đâu, tôi sắp chết rồi”. Người
sắp chết là người Đức. Người tù Do Thái không chút cảm động. Chết là
chuyện hàng ngày trong trại giam. Chiều hôm qua, đi khổ sai về, kiểm
danh, sáu người đi làm buổi sáng đă thành sáu thây ma, chẳng ai thắc
mắc. Người sắp chết kể: Anh là lính, 21 tuổi, t́nh nguyện gia nhập
đội quân SS v́ tin lănh tụ, chủ nghĩa, đă xông pha ở khắp chiến
trường, tiên phong đánh chiếm Ba Lan, tấn công Liên Xô, diệt Do
Thái. Bây giờ anh bị thương, mù hai mắt, nằm chờ chết. Tay anh lại
t́m tay người tù để đặt vào đấy một phong thư, thư anh gửi cho mẹ
anh. Đây là việc cuối cùng trong đời anh, anh đă cầu viện cô y tá
giúp đở: anh muốn cô t́m cho anh một người Do Thái và đây là phong
thư.
Người tù
nghĩ đến mẹ anh vừa bị hốt, bị đẩy lên xe lính, đưa đến trại tập
trung và từ đó biệt tăm. Anh tránh bàn tay, tránh bức thư. Thư rơi
xuống đất, anh lượm lên, đặt lại trên chăn.
Tại sao
anh lính Đức lại muốn gặp một người Do Thái? Anh cắt nghĩa: tại v́
anh hối hận, anh muốn xin tha tội. Anh ư thức được tội của anh trước
khi đến đây, và bây giờ, trong khi nằm chờ chết, tội ác đè nặng trên
lương tâm của anh, anh không thể chết trước khi thốt ra lời. Người
tù Do Thái không động ḷng. Trong đầu anh, hiện ra h́nh ảnh đóa hoa
mặt trời sẽ nở tṛn xoe trên mộ người Đức này, đón ánh nắng từ trên
xanh thẳm. Anh này sướng thật, có hoa mặt trời, có cả mẹ c̣n sống để
gởi thư. C̣n tôi, tù Do Thái, tại sao tôi c̣n ngồi đây để nghe y kể?
Tại sao tôi không bỏ đi? Anh lính Đức cứ tiếp tục kể: Anh được mẹ
nuôi nấng, dạy dỗ một cách thánh thiện, đi nhà thờ, hát lễ, học giáo
lư, e có thể đi tu. Nhưng nước Đức trở thành quốc xă, anh gia nhập
đoàn thanh niên Hitler, xung phong vào SS, đánh Liên Xô, giết tù
binh không gớm tay.
Hôm đó,
sau một chiến thắng, anh và đồng đội đang nghỉ sức, hút thuốc, th́
đất trời rung chuyển, mấy cái nhà trước mặt anh nổ tung. Quân đội
Liên Xô, khi rút lui, đă gài ḿn nơi mỗi nhà nhà trống,nắng hè oi à,
lính Đức cứ t́m bóng mát trú chân. Ồ ạt, xe cứu thương rú lên, rồi
xe lính xộc đến chở anh ta và đồng đội đến một công viên. Ở góc bên
kia, một tón người bị dồn lên, ngồi chen chúc dưới họng súng. Anh
nghe đồng đội nói vào tai nhau: “Bọn Do Thái!” Lúc nhỏ, anh không
thù ǵ Do Thái, nhưng ngày đêm tuyên truyền nhét vào đầu anh nào Do
Thái gây tội ác, nào Do Thái gây chiến tranh, gây thất nghiệp, đói
khó, khiến anh căm thù. Đội của anh được lệnh tiến về phía toán
người Do Thái đó, độ hai trăm, trong đó có rất nhiều trẻ em. Chúng
giương mắt nh́n chặt vào anh, có đức khóc. Vài bà mẹ ẵm con thơ
trong tay. Rất ít thanh niên. Rất nhiều phụ nữ lớn tuổi và người
già. Đến gần, anh thấy sợ hăi in trong mắt họ, sợ khiếp, như tuồng
họ biết chuyện ǵ sắp xảy ra. Một chiếc xe chạy đến, chở đầy b́nh
xăng. Đội anh ta được lệnh dồn họ vào một ngôi nhà bên cạnh. Nhà
không lớn, nhưng chỉ vài phút là không c̣n một bóng người Do Thái
nào ngoài đường nữa. Lại thêm một xe nữa xộc đến, chở khoảng ba chục
người, tất cả bị tống thêm vào nhà. Đội anh đóng cửa, đặt súng liên
thanh phía trước.
Xong xuôi,
đội anh rút chốt lựu đạn ném qua cửa sổ. Đạn nổ liên hồi. Lửa cháy.
Người gào thét. Khói đen bốc um, ngạt thở. Từ cửa sổ tầng thứ hai,
anh thấy một người đàn ông ẵm đứa con, áo quần bốc lửa, bên cạnh là
một người đàn bà, chắc là mẹ nó. Người đàn ông bịt mắt đửa bé, nhảy
xuống. Người đàn bà nhảy theo. Từ các cửa sồ khác cũng thế, những
thân thể bốc lửa nhảy xuống. Bắn! Anh bắn! Đồng đội anh bắn! Không
ngừng. Rất nhiều người chết truớc mũi súng như vậy, nhưng anh nhớ
như in gia đ́nh đầu tiên, nhất là đứa bé. Mắt nó đen. Tóc nó đen.
Người tù
Do Thái không muốn nghe nữa. Anh t́m cách gỡ mấy ngón tay bám chặt
tay anh. Tại sao anh nghe? Tại sao anh nghe lời thú tội của một tên
nazi với tư cách một người Do Thái? Nếu anh này muốn xưng tội, tại
sao không t́m một ông linh mục? Có thể ông này sê giúp anh ta chết
dễ dàng hơn. Khỏi phải thốt ra: “Chúa ơi, tôi thấy đứa bé. Nó đang ở
trước mặt tôi”. Anh lính đâu có biết Thượng Đế đă đi nghỉ phép!
Chiến trận
ở Liên Xô đổi chiều. Hồng quân phản công, quân đội Đức bắt đầu rúng
động. Hết giai đoạn rượt đuổi, mở đầu giai đoạn đánh xáp lá cà, lưỡi
lê cắm đầu súng. Trong một trận xáp chiến như vậy, anh lính Đức đang
xông tới, bỗng rụng rời, súng và lưỡi lê run trong tay: anh ta thấy
trước mắt cả gia đ́nh kia đang xông tới, ngườí đàn ông, người đàn
bà, đứa bé, cả ba đang bốc lửa. Không, anh ta không thế bắn vào họ
một lần thứ hai được... Vừa nghĩ như vậy th́ một quả đạn nổ, anh ta
ngă gục, bất tỉnh. Anh tỉnh dậy trong bệnh viện, đạn ghim khắp ḿnh,
mù hai mắt. Anh muốn chết ngay mà không chết được, cứ nằm chờ chết
như thế này với tội lỗi giày ṿ. Mấy ngón tay của anh lại ḅ đi t́m
bàn tay lẩn trốn của người tù. Anh thều thào: “Tôi không biết ông là
ai, tôi chỉ biết ông là Do Thái. Thế là đủ. Trong đêm tăm tối mà tôi
đang chịu đựng, tôi chỉ c̣n nguyện vọng cuối cùng là được kề lại tẩt
cả chuyện đó với một người Do Thái... để xin tha tội. Tôi biết tôi
đ̣i hỏi ông nhiều quá, nhưng nếu tôi không đưọc trả lời, tôi chết
không yên”.
Người tù
đứng dậy, nh́n hai bàn tay chắp lại trên chăn. Một tia nắng lọt qua
cửa sổ, vờn giữa hai bàn tay chắp lại. Người kia chờ đợi một sự giúp
đở từ người này, nhưng người này quyết định không làm ǵ được cho
người kia. Quyết định dứt khoát. Anh mở cửa, bước ra ngoài. Trở về
trại giam, anh hỏi ư kiến hai người bạn tù về hành động của anh.
Người thứ nhất, sắt đá: May quá, cậu đă không nói một lời tha tội
nào. Nếu cậu muốn, cậu có thể tha tội về phần cậu về những ǵ mà cậu
đă chịu đựng. Đây là chuyện giữa cậu và cậu. C̣n những người khác có
cho phép cậu tha tội đâu mà cậu tha! Cậu không thể tha những tội gây
ra cho người khác. Bảo rằng tên SS kia hối lỗi một cách chân thành
à? Giày ṿ mà anh ta phải chịu đựng chỉ là một phần mọn của h́nh
phạt mà anh ta phải lănh, h́nh phạt rất đúng đắn.
Ngựi thứ
hai, giễu cợt: Đáng lẽ tên SS kia nên mời một ông cha cố cùng tôn
giáo, như vậy hai bên sẽ dễ dàng đồng ư với nhau.
Cả hai
cách trả lời đều không làm yên ḷng người tù. Tên SS kia đă chẳng
muốn tạ tội trước một người Do Thái đó sao. Một người Do Thái như là
đại diện, như là tưọng trưng cho cộng đồng Do Thái. Và anh ta thành
khẩn! Vả chăng, làm sao anh ta tạ tội trước nạn nhân của anh ta? Họ
chết cả rồi! Rất có thể ḷng hối hận chân thành đă đưa anh lính SS
kia trở về lại với cậu bé ngoan đạo là anh ta lúc nhỏ. Rất có thể
anh ta đă chết trong yên ổn bỏi v́ có ngườí đă nghe anh ta thú tội.
Đối với anh ta, rất có thể sự thú tội đó là đích thực, là cớ giá
trị, dù không có linh mục. Nhưng sự việc đă xảy ra vẫn gợi thắc mắc
trong lương tâm của người kể chuyện. Bởi v́ truóc mặt anh là người
hấp hối và anh đă tư chối lời van xin.
Ngày hôm
sau, người tù Do Thái cố t́m cách tránh làm việc gần bệnh viện để
khỏi gặp cô y tá. Nhưng tránh không đưọc, cô lại đến t́m anh, bảo đi
theo cô. Nhưng cô đi đường khác, dẫn anh đến trưóc một pḥng khác,
mở cửa, t́m hồi lâu rồi trao cho anh một gói đồ, trên đó có ghi địa
chỉ. Cô nói: “Anh lính hôm qua chết rồi. Tôi có hứa với anh ấy sê
trao lại cho ông tất cả những ǵ anh ta c̣n giữ. Trừ chiếc đồng hồ
mà tôi sẽ trao lại cho mẹ anh ấy". Người tù khoát tay không nhận,
quay gót đi mất. Sau giải phóng, người tù - tác giả - có dịp ghé
thăm bà mẹ. Bà sống một ḿnh, già yếu, giữa căn nhà đầy kỷ niệm đứa
con trai. Bà kể chuyện về con bà lúc nhỏ, trời ơi, nó dễ thương biết
bao nhiêu. Nó đi nhà thờ, nó đi hát lễ, con tôi, ông biết không,
chưa đứa nào dễ thương như nó... Chẳng lẽ kề sự thật về con bà cho
nghe? Người khách lặng yên ngồi, lặng yên nghe, lặng yên ra về.
Đó là
chuyện đă xảy ra tháng sáu năm 1942 cho chính tác giả. Cuối truyện,
ông viết: Tôi biết có nhiều người hiểu và tán thành hành động của
tôi truớc tên SS hấp hối. Nhưng tôi cũng biết có nhiều ngựi khác,
nhiều không kém, kểt án tôi v́ tôi đă không làm dịu cái chết của tên
sát nhân biết hối lỗi. Vậy tôi có lư hay tôi không có lư?
Tôi không
dám nói cụ thể cái ǵ tôI sẽ làm được đối với anh lính hấp hối. Tôi
chỉ nhắc lại giáo lư của chúng ta. Tôi nói: dù anh sắp chềt, anh vẫn
c̣n có quá thừa th́ giờ để sám hối, sám hối vẫn có công năng, công
năng nằm trong một niệm. Tôi nói với anh: kinh của tôi nói thêm:
công năng đó không lường được, không thể nghĩ bàn được. Một niệm.
Thật tṛn. Tôi tin anh chết nhẹ nhàng.
III.
Tác
giả có lư? Tác giả không có lư?
Trước hết,
tôi phải nói ngay rằng những người không tham dự trong thảm kịch vừa
kể, như chúng ta, khó mà phê b́nh thái độ của người đang chảy máu và
chảy nưóc mắt. Ta nói trong giả tưởng, họ sống trong thực tại. Vả
lại, truyện tôi vừa tóm tắt là một tác phẩm văn chương trong đó phản
ứng tâm lư được tŕnh bày khúc chiết, khó tóm tắt. Cứ mỗi lần tác
giả sắp động ḷng, v́ bàn tay đi t́m bàn tay, hoặc giọng nói nghẹn
ngào của người hấp hối khi nhắc đến đứa bé có tóc đen, mắt đen, lập
tức một h́nh ảnh đày đọa, nhục nhă của người Do Thái hiện ra trong
đầu, xóa thực tại trước mắt và chút t́nh cảm gợn lên trong ḷng. Đứa
bé bốc lửa nhảy qua cửa sổ chẳng hạn hiện ra dưới h́nh ảnh một đứa
bé Do Thái sáu tuổi chỉ nhờ chút t́nh cờ mà không sa vào bẫy của SS
trong khi cả trăm đứa bé khác, v́ quá đói, đă trốn nhà đến kiếm
miếng ăn nơi bẫy và đưa thân cho lính tóm gọn, đẩy lên xe, mất tích.
Truyện kể rất khéo, gợi bất b́nh, công phẫn trong ḷng người đọc,
nhưng đôi lúc cũng gợi chút thương hại, khiến người đọc cũng phân
vân giữa công lư và bác ái, giữa căm thù và tha tội, giữa phải nhớ
và phải quên...
Biết rằng
người bàng quan như chúng ta chỉ có thể nói lên thái độ của ḿnh
trong trừu tượng, cho nên tôi đă dành phần đầu để lược qua một ít lư
thuyết về tha tội. Bây giờ, tôi tóm tắt thái độ của một vài nhân vật
đă phát biểu ở cuối cuốn truyện.
Nói chung,
không ai trách tác giả. Làm sao trách được! Ngườt b́nh phẩm chỉ cố
phản ánh quan điểm của tôn giáo ḿnh một cách tổng quát sau khi đă
tán thành. Tán thành thái độ của tác giả, một nhà trí thức Tin lành
nhắc lại hai điều kiện để một lờt thú tội có thể được đạo đức chấp
nhận. Một là tôi chỉ có thể tha tội về phần tôi, nhưng về phần người
khác th́ tôi chỉ có thể đ̣i áp dụng công lư. Hai là nguời phạm tội
chấp nhận tội lỗi, hối lỗi thành thật. Anh lính SS hội được điều
kiện thứ hai, nhưng người tù Do Thái không thể ban cấp cho anh ta
điều kiện thứ nhất. Nói xa hơn, một người không thể đại diện cho kư
ức để đứng lên, 50 năm sau, xin lỗi, thú tội hoặc tha tội về những
sự việc mà người ấy không biết. Tha tội như vậy là vô đạo đức, khôi
hài, trào phúng. Người tù Do Thái đă có lư khi không tha tội.
Nhưng
người b́nh luận đó nói thêm: mặt khác, nếu ta chờ cho đến khi các
điều kiện của sự tha tội được hội đủ, có lẽ không bao giờ có tha
tội. Vậy th́ làm sao không quên quá khứ mà vẫn chấm dứt được nợ nần?
Để tang tóc của ngày hôm qua nhường chỗ cho sự hồi sinh của một hiện
tại mới trong đó nglrời này và nglrời kia bắt đẫu một đời sống
khác?
Một trí
thức Tin lành khác phân tích một vài chi tiết tế nhị trong truyện.
Suốt câu chuyện, người tù không mở miệng nói một lời nào. Nhưng
trong im lặng của anh đâu phảI chỉ có duy nhất và thuần túy căm thù?
Nhiều lần anh cố gỡ bàn tay kia ra khỏi tay anh, nhưng anh cũng đă
để yên cho bàn tay kia bám lấy tay anh. Bàn tay anh né tránh không
cầm phong thư, nhưng cũng bàn tay đó đă đuổi con ruồi bu trên chiếc
đầu băng bó. Anh không động ḷng trước lời thú tội, nhưng anh ghi
nhận sự thành khẩn. Anh ngồi im, nhưng anh không có một thái độ hay
một cử chỉ ǵ bất nhẫn. Sự im lặng của anh nói nhiều hơn lời nói.
Biết đâu trong im lặng đó nỗi thống khổ cùng cực của anh lính bắt
gặp được tận trong sâu thẳm nỗi khổ của chính anh? Chúng ta không
bao giờ biết ta đă tha tội thực sự hay không. Câu chuyện khiến ta
nghĩ rằng rốt cuộc ta cũng chẳng biết có phải ta đă từ chối tha tội
hay không. Người lính đă chết b́nh yên như thể đă được người Do Thái
tha tội rồi mà người này không biết.
Cũng trong
chiều hướng gợi lên ḷng bác ái của Thiên chúa, tôi trích lời nói
của một linh mục trí thức: Tôi biết quá rơ trường hợp những người
b́nh thường bỗng nhiên một ngày nào đó, một khoảnh khắc nào đó, rơi
tơm vào tội lỗi, hiếp dâm, giết người. Từ thiện qua ác, con người dễ
rơi một cách bi đát. Không biết bao nhiêu lần, nghe người khác thú
nhận về những hành động phát xuất từ trong chốn thâm u của ư thức,
tôi tự nói trong bí mật của lương tâm tôi: “đây là tôi, tôi cũng
vậy”. Cho nên tôi tin ở sức mạnh tuyệt vời của sự tha tội Trước mắt
tôi, người lính SS trở nên dễ thương. Giá như tất cả các tên đao phủ
đều xin nạn nhân tha tội khi nằm trên giường chết, có lẽ nhân loại
bắt đầu một khởi thủy mới như câu nói của một tiên tri: “con chó sói
sẽ sống với con cừu non, con beo ăn cỏ bên cạnh con nai tơ".
Một linh
mục trí thức khác, ngắn gọn hơn, xác định: Tôi có khuynh hướng tha
tội cho tên SS sắp chết và hối hận. Tôi có khuynh hướng khoan hồng
đối với một người xét ra cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một chủ
nghĩa điên rồ.
Tất nhiên,
cộng đồng Do Thái triệt để tán thành tác giả. Tôi trích một câu có
tính nguyên tắc: Hitler phạm tội ác cùng tột: tội tự coi ḿnh như
Thượng Đế. Đó là thách thức cùng tột mà con người ném vào mặt Thượng
Đế đă sinh ra họ. Cô ai tha tội đó được không? Tuyệt đối không. Tại
sao? Tại v́ tội vi phạm trước Thượng Đế th́ chỉ có người bị xúc phạm
nghĩa là Thượng Đế tha tội được mà thôi. Không người nào tha tội cho
tên SS được. Anh này đă nhờ cô y tá t́m bất cứ người Do Thái nào thú
tội. Như vậy anh ta đă tự đồng hóa với lănh tụ của anh và đồng hóa
người Do Thái trước mặt với cả dân tộc Do Thái. Dân tộc Do Thái là
dân tộc được Thượng Đế chọn, cho nên Thượng Đế và chỉ Thượng Đế mà
thôi có thể tha tội.
Bây giờ đến
lượt Phật giáo. Mathieu Ricard rất xứng đáng đại diện chúng
ta, nên tôi tóm tắt ư kiến vị này.
Tội do
người khác gây ra cho ta, không những ta có thể tha mà c̣n phải tha.
Tội xúc phạm đến người khác cũng nên tha, v́ người được tha mới có
cơ hội sửa ḿnh. Phật giáo tin rằng bất cứ người nào, dù là kẻ sát
nhân, cũng có Phật tính, như vàng nằm trong quặng, lọc quặng th́
vàng lộ ra. Phật giáo cũng chủ trương không nên lấy oán trả oán: oán
đó sê tồn tại trập trùng. Tuy nhiên, dù được tha tội, nghiệp đă tạo
ra th́ người kia phải tră, không có cách nào thoát được. Bởi vậy,
một người chân thành hối lỗi th́ không cần xin tha tội nữa: chỉ cần
người ấy chí thành sửa ḿnh, tạo phước lớn hơn, hoặc ít ra cũng bằng
tội đă phạm.
Đối vởi
người phạm tội, xă hội có thể trừng phạt, nhưng trừng phạt không
phải là trả thù. Trừng phạt là cố để tránh, không cho người phạm tội
làm hại nữa, c̣n trả thù là nuôI hận dưới danh nghĩa công lư. Tha
tội không phải là miễn cho cái tội mà là từ bỏ đói khát trả thù, bởi
v́ nuôi thù th́ phá hoại chính sự b́nh an thanh thản của ḿnh và của
mọi người chung quanh.
Vậy th́
anh lính kia nên cư xử thế nào dưới mắt Phật giáo? Thay v́ thú tội
trước một người Do Thái, anh nên có hành động tích cực và can đảm
hơn: kêu gọi bạn bè SS của anh đến bên giường và khuyếnh khích họ từ
bỏ ư nghĩ và hành động phi nhân của họ. C̣n người tù Do Thái th́ nên
làm ǵ? Nên nói với người lính rằng: Bây giờ anh phải đối diện với
chính hành động của anh và hậu quả của nó. Anh chỉ c̣n có cách chuộc
lại tội ác trong những kiếp sau của anh bằng cách làm điều thiện lớn
như anh đă làm điều ác.
Tha tội
không phải là làm tiêu tội: không ai lừa dối luật nhân quả được. Một
người Phật tử nh́n anh lính SS hấp hối trong đày đọa của hối hận như
thế kia chỉ sinh ḷng từ bi vô lượng đối vởi chúng sinh triền miên
trong biển khổ của hận thù và vô minh. Kẻ thù phải diệt chính là vô
minh, hận thù đó.
Nói như
thề là đầy đủ. Tôi chỉ xin ké thêm vài lời.
Trong Phật
giáo, tôi không nghe nói đến tha tội. Chỉ nghe nói sám hối. Và sám
hối là nguyên tắc và hành động cực kỳ quan trọng trong Phật giáo.
Vậy sảm
hối là ǵ? Là “làm cho hết lỗi cũ và không gây lỗi mớỉ”. Lương Hoàng
Sám định nghĩa như vậy. Không gây lỗi mởi, và giữ tâm nguyện không
gây lỗi mới, là điều kiện để lỗi cũ được sạch. C̣n thêm một điều
kiện nữa: phải biết sợ hăi. Sợ hăi ai? Sợ hăi quả báo. Chưa hết, c̣n
một điều kiện thứ ba: phải biết hổ thẹn tội lỗi. Trong thuật ngữ
Phật giáo, hổ thẹn là tàm quư. Tàm là tự thẹn ở bên trong. Quư là
phát lộ với người ở bên ngoài. Tại sao hổ thẹn? Tại v́ ḿnh tự nh́n
Phật tính của ḿnh và tự thấy đă làm khuất mờ phật tính ấy. Ḥa
Thượng Trí Quang b́nh chú: sám hối th́ không được nh́n xuống và nh́n
ngang, mà nh́n lên và nh́n vào, nh́n lên Phật vào Phật tính của
ḿnh(9).
Nếu sám
hối đúng đắn như vậy, tội lỗi có được diệt sạch không? Phật giáo
khẳng định: sạch. Lương Hoàng Sám nói rô như thế này: “Trong kinh đă
ca tụng, trong đời có hai kẻ mạnh mẽ, đó là kẻ không làm ác và kẻ
biết sám hối. Ngày nay, đại chúng muốn sám hối th́ phải gột sạch tâm
trí, nghiêm chỉnh h́nh dung, tủi thẹn đầy ở trong, thống thiết lộ ra
ngoài, vận dụng hai tâm lư sau đây th́ không tội lỗi nào mà không
diệt sạch, đó là tàm và quư”. Một thái độ lạc quan tột bực, cứu vớt
nguời phạm tội như bàn tay kéo người chết đuối ra khỏi nưởc.
Ai xóa
sạch tội lỗi? Chẳng ai cả. Chẳng ông trời nào. Tự nó xóa sạch. Tại
sao. Tại v́ tội lỗi không có bản chất. Lương Hoàng Sám nói rơ: “Tội
lỗi do những mối tương quan mà phát sinh th́ cũng do những mối tương
quan mà tiêu diệt”. Một quan niệm vô cùng hiện đại. Tội lỗi dữ dội
thật, nhưng thực chất là do duyên sinh nên cũng do duyên diệt. Mà
duyên đầu tiên diệt tội là sám hối. Cho nên sám hối là xác tín tội
lỗi sẽ bị quả báo, nhưng cùng lúc cũng xác tín có thể diệt được. Vua
A Xà Thế (Ajatasatru) là một ví dụ trong kinh. Vua chiến trận lừng
lẫy, nhưng cầm tù cha mẹ, nên ung nhọt nổi lên khắp ḿnh. Đến Phật
săm hối th́ lành, ông tâm nguyện quy y, trở thành hộ pháp cho cuộc
kiết tập lần thứ nhất. Ương quật ma la (Angulimalaya) là ví dụ thứ
hai. Anh này theo tà thuyết, tin rằng giết 1000 nguời th́ được Niết
bàn. Anh giết dă được 999 người, cắt mỗi người một ngón tay làm ṿng
hoa đội trên đầu. Thiếu một ngón nữa, anh đuổi giết mẹ. Phật thương
mà cứu và thuyết pháp cho. Anh sám hối, xuất gia, đắc quả A la hán
liền.
Tôi vừa
nói Phật giáo có một quan niệm rất hiện đại về tội. Tôi nói thêm:
ngày nay khoa phân tâm học không nói lên cái ǵ mới hơn và đầy đủ
hơn. Vấn đề của phân tâm học là giải tỏa, giải tỏa cừu thù nơi nạn
nhân, giải tỏa khắc khoải, mặc cảm nơi người phạm tội. Làm thế nào
để một buổi sáng thức dậy, bỗng thấy mưa đă làm sạch bụi bặm trần
gian. Bỗng thấy cuộc đời như vừa rửa mặt. Bỗng thấy quá khứ nặng nè
tan đâu mất. Bỗng thấy bước chân của cả hai người khởi hành thênh
thang từ một hiện tại nhẹ như bông. Khó lắm! Tại sao? Tại v́ trong
quan niệm của Tây phương, luôn luôn có sự phân biệt rành rọt giữa
người tha lỗi và người được tha. Tây phương quả quyết: không ai có
thể tha tội cho ḿnh, phải thông qua người khác. Nhưng suy nghĩ cho
cùng, ai tha tội cho lương tâm ngoài chính lương tâm? Dù cho người
khác có tuyên bố tha tội cho ḿnh, mặc cảm của người phạm tội có
phải v́ thế mà tan biến không?
Lương
Hoàng Sám nói một câu thâm thúy: sám hối là “không khinh thường ḿnh
và người”. Không khinh thường ḿnh, bởi v́ ḿnh trọng Phật tính nơi
ḿnh. Không khinh thường người bởi v́ ḿnh biết rằng nơi người kia
cũng có Phật tính. Nạn nhân nghĩ như vậy đối với phạm nhân. Phạm
nhân cũng nghĩ như vậy đối vởi nạn nhân. Cả hai đều không khinh
thường ḿnh và người th́ mặc cảm c̣n đâu?. Th́ ngưtời này đi vào
người kia. Th́ không có người khác. Bởi vậy, Lương Hoàng Sám khuyên
mọi người “không nên nhớ lỗi người khác”, “phải vận dụng từ bi hỷ xả
mà tạo tâm lư b́nh đẳng đối với người thân kẻ thù, ư thức không c̣n
hai ấn tượng thân thù đối chọi với nhau”. Sám hối là giải tỏa oán
kết: “oán đă kết th́ xin hỷ xả tất cả cho nhau, oán chưa kết th́ xin
thyệt đối đừng kết thắt nữa”.
Phật giảo
đă làm phân tâm học từ hai ngàn năm. Sám hối là để đem lại niềm vui.
Hổ thẹn là để mà vui. “Chính hai đức tính tàm quư này có năng lực
làm cho hành giả đứợc cái vui vô ngại”, cái vui không có mặc cảm,
“cái vui của sự yên ổn”. Có cái vui đó th́ mới tin ở ḿnh mà dũng
mănh tinh tiến. Không có cái vui đó th́ rơi lại dọc đường. Đó là cái
vui hồi sinh, phục sinh, mà phân tâm học mơ ước thực hiện. Lương
Hoàng Sám diễn tả: “Từ nay sắp đi, bỏ sự sinh ra với đời sống tội
báo mà được sinh ra với đời sống tịnh độ, tức là bỏ tính mạng tội
báo mà được tính mạng tưệ giác, bỏ thân thể tội báo mà được thân thể
kim cương, hết cái khổ ác đạo mà được cái vui Niết bàn”.
Bởi vậy
sám hối là thuốc thần, là thần dược. Kinh Dược Sư nỏi rơ như vậy:
“Do đó mà biết công năng sám hối là tể thuốc linh nghiệm làm lành
bệnh thân tâm, là toa thuốc thần kỳ làm thoát khổ sinh tử“(10). Phật
giáo đại thừa đi xa hơn nữa trên con đường phục sinh bằng cách nhấn
mạnh tội lỗi và quả báo của tội lỗi đều không thật. Kinh sám Dưọc sư
quan trọng ở chỗ đó: Dược sư nói rô tội tánh bàn không. Không thật,
mới mong sám hối và sám hối được.
Cái không
thật đó, kinh Duy Ma nói tuyệt diệu. Tôi xin phép nhắc lại: Hai vị
Tỷ kheo phạm giới, lấy làm xấu hổ, xin ngài Ưu Bà Ly giài tỏa hoài
nghi và hối hận. Đệ tử xuất sắc số một của Phật về giới luật, ngài
Ưu Bà Ly cứ đúng phêp tẳc mà giải thỉch. Cư sĩ Duy Ma cười: “Dạ,
kính bạch tôn giả Uu Bà Ly, xin ngài đừng làm tăng thêm cái tội của
hai vị tỷ kheo này. Ngài nên giải tỏa thẳng vào tội lỗi, đừng quấy
rối tâm họ. Tại sao? V́ tội của họ không ở trong, không ở ngoài,
không ở glữa. Như đức Thế Tôn dạy, tâm bẩn th́ con người bẩn, tâm
sạch th́ con người sạch. Tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở
giữa. Tâm như vậy th́ tội cũng như vậy, các pháp cũng như vậy tất cả
toàn là không”. Cư sĩ Duy Ma nói tiếp: Tội lỗi chỉ là sự thác loạn,
từ tâm sinh mà không phải đích thực là cái đụng của tâm. Tâm tánh
của chúng sinh không bẩn. Vọng tuởng mới là bẩn, không vọng tưởng
mới sạch. Thác loạn là bẩn, không thác loạn là sạch. Như chiêm bao,
như sóng nắng, sự vật là vọng thấy, sự vật là vọng tưởng. Biết như
vậy là tuân ngữ giới luật. Hai vị tỷ kheo nghe thế, sướng quá, hết
cả hoài nghi, hối hận, phát tâm bồ đề (11) .
Ngài Duy
Ma học phân tâm từ đâu vậy? Th́ từ đức Phật chứ đâu. Cách đây mấy
năm, Ḥa Thượng Trí Quang có dạy tôi một câu chuyện kinh mà tôi quên
mất xuất xứ, lại nhớ mơ hồ, tôi cứ xin kề ra đề mong quư thầy quư sư
cô bổ túc cho tôi. Một vị tỷ kheo phạm giới, mà lại là một giới rất
trọng, hậu quả là mất luôn cả cái tước vị tỷ kheo, không được gọi là
tỷ kheo nữa. Vị đó khổ sở quả, bởi v́ chí xuất gia vẫn c̣n, ư nguyện
tỷ kheo vẫn giữ Nhưng ông biết ông không c̣n là tỷ kheo nữa, ông
không được gọi là tỷ kheo nữa. Từ ngoài đường bước vào tịnh xá, ông
rất sợ gặp Phật. Gặp ai chứ gặp Phật th́ Phật thấy ngay cái bụng dạ
tim gan của ông! Phật nh́n vị đó từ xa đi đến, Phật gọi: “Lại đây,
ông tỷ kheo!” Ông sướng quá, sụp xuống lạy Phật, sạch tội.
Chuyện Ḥa
Thượng Trí Quang kể cho tôi, tôi không t́m xuất xứ, là v́ h́nh ảnh
mà tôi nhận được lúc đó quá đẹp. Tôi nghĩ rằng nếu ḿnh được sụp lạy
trước Phật như thế th́ tội ǵ cũng sạch trơn. Và tôi nghĩ thêm: ḿnh
có một vị thầy thấy suốt tâm can mà vẫn nhân từ như vậy, làm sao
ḿnh nhẫn tâm phụ thầy đưọc?
Tội
tùng tâm khởi tương tâm sám
Tâm nhược
diệt thời tội diệt vong
Tội vong
tâm diệt lưỡng câu không
Thị tắc
danh vi chân sám hối
(Tội từ
tâm khởi đem tâm sám
Tâm sám rồi
th́ tội liền tiêu
Tội tiêu tâm
sám thảy đều không
Thế mới thật
là tâm sám hối)
Ngày hôm
nay, mỗi khi tựng bài kệ đó, tôi đi vào ư nghĩa của “tội tánh bản
không” dễ dàng bời v́ trước mắt tôi, bên tai tôi, rơ ràng h́nh ảnh
của Phật nh́n vị tỷ kheo, rơ ràng lời Phật gọi: “Lại đây...” Tôi đố
ai đi đến Phật như vậy mà c̣n tội lỗi.
Vậy th́
nếu tôi, nếu chúng ta, ngồi bên mép giường của anh lính SS hấp hối,
ta có thể nói ǵ, hành động ǵ?
Một trong
những lư lê đă đưa ra để từ chối sự tha tội là: anh lính không có
thời gian để làm hành động chuộc tội. Ta cũng nói như vậy: diệt tội
sinh phước. Anh này sắp chết rồi, biết làm phước thế nào đây? Thế
th́ người hấp hối kia dành đi xuống địa ngục đă mở sẵn cửa hay sao?
Tôi nghĩ rằng Phật giáo luôn luôn lạc quan và lạc quan một cách hùng
vĩ. Kinh Đại Tập ví như thế này: ngôi nhà dầu tối cả trăm năm, nhưng
một khi đốt đèn lên là bóng tối biến mất. Từ bờ bên này qua bờ bên
kia, xa thật vô cùng xa, mà gần cũng vô cùng gần, chưa nhăy đă đến,
bởi v́ biên giới không có. Đâu là biên giới giữa ánh sáng và bóng
tối? Đây hiện ra th́ đó biến mất. Nói đây nói đó là phân biệt cho dễ
hiểu, chứ đây với đó chỉ là một mà thôi. Bởt vậy, Phật giáo vô cùng
trân trọng chữ “một niệm” trong kinh. Một niệm khởi lên, u uẩn tan
hết. Lương Hoàng Sám nói: “chí thành khẩn thiết, vận dụng tâm trí
một cách tột độ, nguyện một niệm có sức cảm ứng mười phương chư
Phật, một lạy có sức diệt sạch vô lượng tối báo”.
Tôi nh́n
anh lính sắp chết, có thể tôi không biết nói ǵ với anh, nhưng chắc
chắn trong đầu tôi, trong đầu chúng ta, vẳng ra mồn một bài kệ mà
chúng ta tụng hàng ngày:
Quy y
tṛn một niệm
Dứt sạch
nghiệp ba kỳ
Một niệm.
Tṛn. Phải tṛn. Thật tṛn. Như trái cây phải chín mói ăn được. Chưa
đủ chín một chút là đắng, là chát. Tôi không dám nói cụ thể cái ǵ
tôI sẽ làm được đối với anh lính hấp hối. Tôi chỉ nhắc lại giáo lư
của chúng ta. Tôi nói: dù anh sắp chềt, anh vẫn c̣n có quá thừa th́
giờ để sám hối, sám hối vẫn có công năng, công năng nằm trong một
niệm. Tôi nói với anh: kinh của tôi nói thêm: công năng đó không
lường được, không thể nghĩ bàn được. Một niệm. Thật tṛn. Tôi tin
anh chết nhẹ nhàng.
Và tôi có
thể làm ǵ hơn được nữa? Chính ở đây, chúng ta khác với quan niệm
cho rằng chỉ có nạn nhân có quyền tha tội. Trong Phật giáo, ta có
thể sám hối và phải sám hối cho kẻ khác. Tôi lại trích Lương Hoàng
Sám: “Hăy v́ tất cả những kẻ đang chịu khổ trong địa ngục, ngạ
quỷ và súc sinh, rộng ra cho dến v́ tất cả những kẻ đang chịu khổ
trong lục đạo, nhất tâm nhất ư mà lễ bái sám hối cho họ, làm cho họ
giải thoảt tất cả”. Bởi v́ sám hối được thực hiện dưới hai
động cơ tâm lư: sợ hăi và từ bi. Sợ hăi quả báo cho ḿnh như thế nào
th́ cũng sợ hăi quả báo cho người khác như vậy. Do đó, sám hối thực
sự là không phải chỉ làm cho ḿnh, và nếu làm cho ḿnh cũng không
phải chỉ để lợi ḿnh. Tận cùng của một buổi lễ Phật giáo, bao giờ
đại chúng cũng đọc bài kệ hồi hướng. Hồi là xoay lại. Hướng là hướng
về. Xoay ḿnh hướng người. Làm được chút phước đức hay thiện hạnh ǵ
cũng biết đem ra mà hồi hướng. “Có ǵ th́ cho cả, không một chút
tiếc nuối... Công dức tạo ra th́ hiến cho toàn thể”.
Nhưng hồi
hướng trong sám hối c̣n có ư nghĩa cao hơn thế nữa. Là không ham quả
báo. Không phải làm thiện chỉ để được quả thiện cho ḿnh. Như thế
mới được siêu nhiên tự tại Như thế mới giải thoát. Và như thế th́
“thấy việc thiện như ảo thuật, coi việc ác như chiêm bao”.
Tôi không
biết tôi có dám nói điều đó với anh lính sắp chết không. Nhưng tôi
có thể nói thế này: chúng tôi hồi hướng như thế đấy, chúng tôi hồi
hướng cho cả ngạ quỷ. Như vậy không lẽ chúng tôi không hồi hướng cho
anh? Và tôi có thể làm ǵ nữa trước khi dứng dậy đi ra khỏi pḥng?
Th́ làm cái việc mà quư thầy, quư sư cô làm hàng ngày, nhưng bây giờ
th́ làm như sứ giả của Dược Sư
Tất cả
pháp hữu vi
Như mộng
huyễn bọt ảnh
Như sương
như bóng chởp
Nh́n thật
rơ như vậy
Tôi có thể
chấm dứt ở đây. Nhưng tôi xin phép thêm một câu thôi.
Trong đời
tôi, có lần tôi đối diện vởi một nguời không phải nazi nhưng cũng na
ná, bởi v́ gia đ́nh, triều đại người đó cũng áp dụng triệt để chính
sách kỳ thị, không phải kỳ thị chủng tộc mà kỳ thị tôn giáo. Th́
cũng thế! Có lần tôi đối diện với ông Ngô Đ́nh Cẩn, em út ông Diệm,
“Cậu Cẩn”, lănh chúa, hung thần miền Trung. Tôi làm báo, nh́n ông bị
xử trước ṭa. Ông Cẩn trước mắt tôi không c̣n là Cậu Cẩn ngồi nhai
trầu trên phản với tướng tá và quan chức nhà nước khúm núm dưới
thềm. Đó là ông Cẩn già vờ đau tim, xỉu lên xỉu xuống mấy lần trước
ṭa để cố kéo dài thời gian tuyên án. Người Mỹ làm áp lực để tha
ông. Dân chúng không tha. Tôi là dân chúng. Là dân chúng, tôi đă tự
hỏi tôi: có tha không? Tôi đă nghĩ như Mathieu Ricard: xă hội có
quyền trừng phạt, nhưng trừng phạt là để không cho phép người kia
làm hại, chứ không phải v́ căm thù. Căm thù, ta phải tuyệt đối
tránh. Nhưng lịch sử, tuyệt đối không được quên.
Quư vị đă
hiểu tại sao quyển tự truyện Hoa Mặt Trời đă quyến rũ tôi.
Chú
thích:
(1) Le
Monde 12-9-2000
(2) Le
Monde 28-4-2000
(3) Le
Monde 23-1 1-2000
(4) Le
Monde 21-10-2000
(5) P.
Ricoeur, trích bởi Stanislas Breton, L’Autrement du monde, trong: Le
Pardon, Autrement, 1991, trang 106.
(6)
Kierkegaard trích bởi Jacques Ellul, Car tout est grâce trong Le
Pardon trang 125.
(7) E .
Lévinas, trích bởi Olivier Abell Tables du pardon, trong Le Pardon,
trang 213.
(8) Simon
Wiesenthal, Les Fleurs de Soleil, Albin Michell 1999.
(9) Lương
Hoàng Sám, Trí Quang dịch in lần thứ hai, 1972, trang 1014. Cả đoạn
này mượn ư từ b́nh chú của dịch giả.
(10) Dược
Sư Kinh Sám, Trí Quang dịch, 1994, trang 137.
(11) Kinh
Duy Ma, Trí Quang dịch, 1994, trang 73.
C.H.T
Trung Tâm
Văn Hoá Phật Giáo Liễu Quán Huế
(http://www.lieuquanhue.com.vn/)
06-08-2009
08:23:46