|
Đời
là bóng hiện của cảnh Tâm
Pháp Hiền cư sĩ
Le sens de la vie[1]
Tiếng Pháp: Michel Cool và Pierre Lafforgue
Việt dịch: Pháp Hiền cư sỹ
• Buổi giảng ngày thứ ba
Thế giới theo quan điểm Phật giáo
Trong pháp hội này, đầu tiên, hăy cho phép tôi được nói đôi lời về giáo chỉ tu
Phật làm động cơ phát triển tâm thức; trước khi ta bàn luận đến bản chất tâm hay
tôn giáo: một động cơ tốt (nghiệp lành) thật là quan trọng. Nếu như ta trao đổi
với nhau về những chủ đề tâm thức, điều này không hẳn là v́ mong thu lợi về mặt
tài chánh, v́ danh vọng hoặc với mục đích đảm bảo một vài cách sống như thế nào
đó trong cơi đời này. Có rất nhiều hoạt động khác hơn, khả dĩ đáp ứng cho nhu
cầu cần thiết ấy. Lư do chính mà chúng ta gặp nhau ở đây, tại Camden Hall này,
đến từ nỗi cưu mang da diết lâu rồi (vient d’une préoccupation portant sur le
long terme).
Có một việc mà bất cứ ai trong chúng ta cũng hằng mong muốn, đó là được hạnh
phúc và không khổ đau, chắc là như thế. Tuy nhiên, có sự khác biệt về cách đạt
được hạnh phúc và cách giải quyết những nạn đề. Có rất nhiều loại hạnh phúc và
có nhiều ngơ để dẫn đến đó; tương tợ, khổ đau cũng ngổn ngang trăm lối, pháp
giải khổ cũng có ngàn đường. Trong một chừng mực, Phật giáo không chỉ chia bớt
nỗi cưu mang ấy và đem lại trước mắt chúng ta những lợi lạc mà kết quả c̣n dài
lâu hơn nữa. Phật pháp không chỉ liên hệ đến đời này mà pháp duyên đó hầu như vô
tận. Chúng ta không thể tính đếm bằng đơn vị thời gian của những năm, tháng,
ngày, giờ, mà phải tính đếm bằng cả những kiếp đời và vô lượng thời không.
Tiền, thật cần đấy nhưng cũng giới hạn thôi. Thật vậy, giữa quyền năng và những
sở hữu của thế giới hẳn có những điều tốt đẹp, thế nhưng, chúng cũng có những
hạn chế của chúng. Ngược lại, với quan điểm của Phật giáo, tâm thức có thể phát
triển từ đời này sang đời khác; bởi, tự tánh của tâm có những phẩm chất nội hàm,
thậm chí, nếu chúng được khởi phát trên một nền tảng vững chắc, th́ chúng sẽ
luôn tồn tại. Quả thế, khi chúng được phát triển trong một cách thích hợp, dầu
chỉ một lần thôi, (th́) những đức tính ấy không chỉ c̣n măi, mà lại được nhân
lên đến vô cùng tận. V́ lư do như vậy mà việc tu tập tâm thức mang lại tức khắc
hạnh phúc lâu dài, và từng ngày ta có được một năng lực siêu việt đáng kinh ngạc.
Cũng vậy, các bạn hăy để hẳn tâm ḿnh vào những chủ đề sắp tuyên giảng; mong các
bạn lắng nghe với một động cơ thanh tịnh và nhớ đừng ngủ nhé! Bởi v́, tôi muốn
nói với các bạn rằng, động cơ tốt nhất vẫn là tấm ḷng bao dung chân thật, hoàn
toàn lợi lạc cho người khác.
Quán chiếu và điều phục.
Phẩm chất tâm hay tánh đức của nó rất cần thiền định để phát triển và thành
thục. Vậy, tâm thức có thể cải thiện được, và thiền định là cách (phương tiện)
được xem là duy nhất thành tựu sự chuyển hóa này. Thiền định là khiến tâm ngưng
tụ để nhận thức[2], cọ xát và thấu triệt đối tượng. Về mặt cơ bản, ư nghĩa đó
chính là tiếp cận (Accoutumer/Skt: Upa-gama) cảnh giới (Skt: viṣaya. Greek:
αντικειμενο. Ν.D) tâm thức hay đối tượng. Ở đó, (người ta) ngưng ḷng biện đạo
(sur laquel on médite).
Có hai loại Thiền: Liễu biệt Thiền (Thiền phân tách) và Tịch mặc Thiền (Tam muội
Thiền). Loại thứ nhất, chủ yếu phân tách hay quán sát hoạt động của tâm thức (sở
hành cảnh giới 所行境界/Skt: go-cara. N.D) và loại thứ hai là trụ tâm trên cảnh giới
ấy (đưa tư duy vào trong cảnh giới tự chứng. Skt: pratiyātmāpattigati. N.D). Tuy
nhiên, người ta c̣n phân ra làm hai hành pháp, phần nhiều quy cho Liễu biệt
Thiền hơn là cho Tịch mặc Thiền.
01/ Một số cảnh giới nào đó, vô thường chẳng hạn, qua đây, tâm thức quán
chiếu và nỗ lực khảo sát nó một cách mănh liệt (Thầy TUỆ SỸ dạy: “Như mũi tên
cắm sâu vào trong xương tủy vậy” - Khóa tu học DUY THỨC /2004/ Tu viện QUẢNG
HƯƠNG GIÀ LAM.).
02/ Một số cảnh giới nào đó, mà ở đấy người ta trau dồi tánh đức bao dung,
chẳng hạn ḷng xót thương (đại bi); trong cách này, tâm thức tự chuyển hóa thành
bản chất của đối tượng Thiền tư (pháp giới là tâm đại bi - Tự chứng cảnh giới
thanh tịnh. Skt
pratyātmāmalaparicārābhigati.N.D).
Do thấu hiểu được mục đích của thiền định, nên điều này sẽ rất có lợi để giúp ta
nhận thức rơ pháp hành quán chiếu và điều phục. Yếu tố quan trọng nhất là điều
phục, bởi cùng một lúc, nó làm phát sinh an lạc cho chính ḿnh và người khác,
bây giờ và cả trong tương lai nữa. Thế nhưng, điều phục phải thanh tịnh và rốt
ráo; có một quán chiếu thật sự là tối cần thiết. Tu pháp điều phục phải thiết
lập một cách đúng đắn với lư do: v́ nó chủ đạo để đảm bảo một quán chiếu có tính
triết học chính xác.
Tại sao mục đích tối hậu hay cứu cánh của các pháp tu lại liên hệ đến sự điều
phục? Chính là trở thành bậc đạo sư của ḍng tâm bất tận (hạnh điều ngự là hạnh
của đấng trượng phu), lắng diệt mọi dơ bẩn. Nói chung, trong Phật pháp, người ta
chia làm hai Thừa: Đại thừa và Tiểu thừa. Đại thừa chủ yếu là L̉NG BI cho tất cả
chúng sinh. Tiểu thừa liên hệ đến trạng thái tự giải thoát cho ḿnh nhiều hơn.
Như vậy, căn bản mọi giáo chỉ vẫn là L̉NG BI. Thắng pháp của Phật-đà xuất phát
từ L̉NG BI. Đức Phật nói rằng Ngài được sinh ra từ đấy. Đại Bi là yếu tánh của
một đức Phật. Chính ḷng Bi mẫn và tế độ chúng sinh này là lư do duy nhất nhằm
chứng minh cho việc NGUYỆN HỒI HƯỚNG (prise de refuge. Skt: pari-maṇa) của một
đức Phật.
Saṅgha, thuật ngữ này có nghĩa là: Tăng đoàn, là những vị tu hành Phật pháp, kết
tinh thuần nhất bằng đức hạnh (không như các đoàn thể thế pháp, bị luật trần chi
phối. Do thế, Saṅgha = Order of Holly One, bao giờ cũng viết ở số ít trong ngữ
pháp tiếng Phạn. N.D.). Họ giúp đỡ người khác t́m thấy sự trở về nương tựa (quy
y), họ có bốn phẩm chất:
01. Một ai đó tổn hại họ, họ không đáp trả bằng tổn hại (ḷng nhân từ).
02. Một ai đó tỏ ra sân hận với họ, họ không đáp trả lại bằng sự sân hận như vậy
(ḷng xót thương).
03. Khi một ai đó xúc phạm họ, họ không đáp trả lại bằng xúc phạm (ḷng hoan
hỷ).
04. Khi người ta buộc tội họ, họ không đáp trả lại bằng chính việc sỉ nhục ấy
(ḷng xả bỏ, viễn ly).
Thái độ (Tứ Vô Lượng Tâm) hoặc cách điều ngự như vậy là tính chất của một vị
Tăng hay một vị Ni. Đây là kết quả của từ bi. Thế th́ nguyên lư tối yếu của đoàn
thể này, tức là từ bi. Trong ư nghĩa đó, Tam quy của một Phật tử (Quy y Phật,
Quy y Pháp, Quy y Tăng)[3] đều thiết lập trên nền tảng của ḷng bi ấy.
Ḷng Bi là hạnh nguyện chung của mọi tôn giáo. Cách ứng xử cơ bản của bất bạo
động (no-violent không tạp loạn), được ḷng Bi thúc đẩy, không chỉ cần thiết
trong đời sống của riêng ta. Nó cũng cần thiết cho từng quốc gia, thậm chí cho
toàn thế giới nữa.
Duyên khởi là nguyên lư triết học chung của mọi tông phái Phật giáo. Tuy duyên
khởi có những kiến giải khác nhau, nhưng đây là mối liên hệ đến quan điểm Phật
giáo (trong thường quán của mọi Phật tử N.D.). Duyên khởi - Pratīyasamupāda -
theo ngữ nguyên tiếng Phạn có nghĩa: Sự tương thuộc, (diễn sinh từ động từ prati
I: Đạt đến qua đối chiếu hay tiếp cận. N.D). Pratya, có ba nghĩa khác nhau: 01.
Tương hội t́nh cờ, thành h́nh do liên kết (Eng: Go to meet). 02. Dựa vào... làm
cơ sở cho nhau. 03. Phụ thuộc vào. Thế nhưng, cả ba luôn chỉ cho sự phụ thuộc,
c̣n samupāda có nghĩa là liên kết xuất sinh.
Do thế, Pratīyasamupāda, là cái sinh ra bằng những thuộc duyên (sinh ra qua
những điều kiện nào đó), qua hiệu năng của những điều kiện nào đó (qua năng lực
của những tác duyên). Ở mức độ tinh tế, Duyên khởi được hiểu như là nguyên lư
hiện tượng hiện hữu vô tánh (hiện tượng hiện hữu trống vắng bản chất, không có
yếu tánh quyết định).
Để có thể phản ảnh qua diện mục những cảnh giới ấy - Các hiện tượng mà qua đó
Thiền giả quán sát - v́ chúng do duyên sinh, cho nên các hiện tượng là (pháp
tánh) vô ngă,; ngay từ đầu, điều này cần xác định một cách toàn diện rằng: Trong
một chừng mực nào đó, cảnh giới hay những đối tượng như vậy là nguyên nhân hạnh
phúc hay khổ đau, phiền năo hay yêu thương... Giả như ta không khéo hiểu luật
Nhân quả; thật vậy, sẽ khó khăn biết bao để ta chứng nghiệm được mọi hiện tượng
đều không có tự thể (pháp tánh vô ngă), chúng sinh ra do duyên. Nói rằng, nắm
bắt đúng quy luật Nhân quả là cần thiết, v́ đấy là động cơ đưa ta đến nhận thức
được trạng thái vô tánh của chúng. Do vậy, đức Phật dạy ta pháp Duyên khởi liên
hệ đến luật Nhân quả trong những hành tướng của luân hồi (processus des
existences cycliques), đến độ khiến ta đạt đến sự hiểu biết sâu sắc về luật Nhân
quả.
Như vậy, mặt phẳng hay nấc thang chuẩn[4] của duyên sinh là mối tương quan với
luật Nhân quả - Chính là Thập nhị nhân duyên, chuỗi duyên sinh trong cơi trầm
luân này. Và chúng đă được đức Phật giảng dạy trong bản Kinh A-hàm. Đó là Vô
minh vô thủy (vô minh căn bản l’ignorance initiale), hành (nghiệp h́nh thành hay
hiện thể do hành vi tạo thành), thức, danh sắc, lục xứ (căn của các giác quan),
xúc, thọ, ái và hữu (hiện hữu hay nghiệp ở giai đoạn thành thục/Karma à
maturité), sinh, già và chết. Nấc chuẩn thứ hai và nấc chuẩn tinh tế hơn nữa của
duyên sinh, cũng được ứng dụng cho mọi cảnh giới: mỗi một hiện tượng hay cảnh
giới đều được thiết lập trên căn bản của những thành phần có tính cấu kết mà nó
duyên lấy.[5] Như vậy, hiện tượng (hiện hữu) bằng những thành phần hỗn hợp và
được quy vào sự phụ thuộc của những thành phần này. Nghĩa là, duyên vô minh có
hành, duyên hành có thức... Cái này (làm) sở duyên cho cái kia.
C̣n một nấc chuẩn thứ ba nữa, sâu hơn, ở đây những hiện tượng đơn thuần giả danh
hiện khởi bằng những hạn từ (phạm trù) qua tư duy đối chiếu và những khái niệm
dựa vào căn bản sở thuộc của chúng[6]. Thế th́, ta không thể t́m thấy (cái nào)
được làm nhân cho chúng cả. Hiện tượng được dẫn sinh qua tương quan một cách đơn
thuần; trong ư nghĩa ấy, chúng chỉ hiện thành bằng các căn bản sở thuộc (được
giả lập) mà thôi.
Ta thấy đấy, nấc chuẩn thứ nhất của duyên khởi chỉ cho sự xuất sinh của hiện
tượng hỗn hợp dựa vào nhân và duyên, và như vậy, chỉ ứng dụng cho môi trường vô
thường; c̣n nấc chuẩn thứ hai của Mười hai chi duyên khởi ứng dụng luôn cho hai
lănh vực “thường” và “vô thường”.
Khi đức Phật dạy Mười hai nhân duyên, Ngài đă nói đến chúng dựa theo một bối
cảnh hoằng viễn[7]thích ứng cho mọi trường hợp và cho một môi trường ứng dụng
toàn diện. Trong bản kinh Liễu Bổn Sinh Tử (Śalistamba-Sūtra - Liễu Bổn Sinh Tử
Kinh, Đạo Cán Kinh, Từ Thị Bồ-tát Sở Thuyết Đại Thừa Duyên Sinh Đạo Cán Dụ Kinh.
N.D), đức Phật đă tŕnh bày một cách chi tiết 12 chi duyên khởi, và trong nhiều
pháp hội khác, chúng được vạch ra bằng h́nh thái vấn đáp. Trong bản Kinh (A Hàm)
đă nêu, mô tả về duyên khởi qua 03 cách:
01. (V́) sự hiện diện của cái này, (nên) cái kia xuất hiện.
02. (V́) sự sinh khởi của cái này, (nên) cái kia sinh khởi.
03. Cũng vậy: (V́) vô minh vô thủy dẫn sinh (duyên) hành (hiện hành sự hoạt
động); do hành duyên thức, do thức dẫn sinh danh sắc; danh sắc duyên thức căn
(lục nhập); thức căn duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên hữu. Do
hữu này kéo theo nghiệp, được gọi là giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn này gây
ra sinh và sinh sinh bất tận - Dẫn ta đến trạng thái già và chết.
Khi đức Phật tuyên bố: “V́ cái này sinh, (nên) cái kia sinh”; tức là đức Phật
chỉ rơ rằng, một hiện tượng vĩnh hằng, bất sinh, chẳng hạn quan điểm Bản thể nội
tại (l’entité fondamentale) được hệ thống Số Luận (Sāṃkhyā)[8] đề xuất, cũng
không thể thực hiện được chức năng tạo quả. Hơn thế, hiện tượng của ḍng hiện
hữu, được sinh ra do những điều kiện có bản chất vô thường (tự tánh vô thường
duyên/les Phénomènes de l’existence cyclique proviennent de conditions
impermanentes par nature).
Khi nói đến duyên sinh khổ đau (duyên sinh năng khổ), đức Phật chỉ cho ta biết
rằng khổ đau có nguồn gốc trong vô minh vô thủy - là phiền năo chướng - che lấp
nhận thức, cái hiện kiến chân lư tuyệt đối của chúng ta. Trạng thái hư vọng căn
bản này, nguồn gốc của mọi sai lầm, dơ bẩn, phát sinh nghiệp, và nghiệp được
thức huân tập như một loại tiềm năng (chủng tử) có xu hướng khổ đau, dẫn ta tái
sinh vào thời kỳ tương lai ở cơi luân hồi. Nó, nghiệp như là một kết quả tối hậu
trong chu tŕnh sau rốt của duyên sinh, khổ đau của già và chết. Để giải thích
thập nhị nhân duyên, hai cách tŕnh bày được sử dụng: Cách thứ nhất dành cho
hiện tượng bất tịnh - Cảnh giới dơ bẩn, bị tạp chất gây nhiễm ô - Và, cách thứ
hai dành cho hiện tượng thanh tịnh - Cảnh giới lắng diệt. Chẳng hạn, trong Tứ
Thánh đế (Bốn chân lư cao quư), nền tảng giác ngộ của Phật đà, hai nhóm Nhân và
Quả được hiển thị như sau:
Khổ đế và Tập đế - Chúng là hiện tượng bị nhiễm ô.
Diệt đế và Đạo đế - Hiển thị cảnh giới thanh tịnh.
Sự liên kết như vậy giữa thập nhị nhân duyên và Tứ thánh đế, được quy cho lịch
tŕnh của nhiễm ô và thanh tịnh. Khổ, chân lư đầu tiên trong Tứ thánh đế - được
xem như là Quả trong nhóm của những hiện tượng bất tịnh. Và, Tập đế, chân lư thứ
hai trong Tứ thánh đế - hiện hữu Nhân của những hiện tượng bất tịnh. Cũng thế,
chân lư thứ ba - Diệt đế là Quả trong nhóm của những hiện tương thanh tịnh. Và,
chân lư thứ tư của Tứ thánh đế, Đạo đế là Nhân trong nhóm của những cảnh giới
thanh tịnh. Bằng cách phân tích ấy, ta thấy Thập nhị nhân duyên giải thích rằng,
do duyên vô minh mà hành sinh v.v... Sự giải thích này, quy cho hiện tượng nhiễm
ô; cũng cách phân tích ấy, khi đó lư giải rằng, vô minh dừng, hành dứt v.v… và
cứ như vậy, tức là tŕnh bày nấc thang chuẩn của hiện tượng thanh tịnh, và đây
chính là nguyên lư hoàn diệt. Phạm trù thứ nhất là lộ tŕnh duyên sinh khổ đau.
Phạm trù thứ hai là lộ tŕnh chấm dứt khổ đau.
Nói cách khác, Thập nhị nhân duyên phải được giải thích trong trật tự của tiến
tŕnh năng sinh khổ đau; phải được giải thích trong trật tự tiến tŕnh năng tịnh
hóa. Mỗi một phạm trù này liên kết với nhau mà ta có thể thấy được, như những
tương quan chuỗi tiến về phía trước và chiều hoàn diệt là đi nghịch trở về sau.
Như vậy, tính tuần tự của quá tŕnh năng sinh khổ đau được mô tả như sau:
- Do Vô minh vô thủy dẫnn sinh h́nh thái Nghiệp;
- Do (nhân) của h́nh thái Nghiiệp dẫn sinh Thức;
- Do nhân của Thức d𓐃n khởi Danh Sắc;
- Do nhân của Danh Sắc ddẫn sinh Lục nhập;
- Do nhân của Lục nh𓐅p dẫn sinh cảm giác Xúc chạm;
- Do nhân của Xúc chạm, Thọ sinh hiện;
- Do nhân của Thọ, Ái siinh;
- Do nhân của Ái, Thủ siinh;
- Do nhân của Thủ, Hu sinh;
- Do nhân của Hữu, sinh Già và Chết (sinh sinh bất tận).
Chuỗi kết nối có tính dây chuyền này (tính tŕnh tự khả quy), mô tả toàn diện
quá tŕnh tạo khổ đau, và cũng dùng để mô tả nguồn cội khổ đau (ư niệm luân hồi)
nữa.[9]
Trong xu hướng nghịch hành, quá tŕnh năng tạo (duyên) được giải thích như vầy:
- Hữu làm duyên xứ kh𓁅 đau bất như ư (của) Già và Chết;
- Nghiệp làm duyên xứ c&ủa Hữu; tức là khổ đau bất như ư thuộc về Già và Chết
được dẫn sinh qua Hữu;
- Thủ làm duyên xứ ca Nghiệp;
- Ái làm duyên xứ của H&ữu;
- Thọ làm duyên xứ ca Ái;
- Xúc làm duyên xứ của TThọ;
- Thức làm duyên xứ c𓁗a Xúc;
- Danh sắc làm duyên xứ của Thức căn;
- Thức là duyên xứ ca Danh sắc;
- Nghiệp là Duyên xứ c#7911;a Thức;
- Vô minh là duyên xứ củ;a Nghiệp hay Hành.
Trong ư nghĩa vừa nêu, sự giải thích nhằm nhấn mạnh đến chân lư thứ nhất của Tứ
thánh đế - Khổ đế; bản thân của khổ đau - trao về cho Quả.
Trong môi trường xử lư nhiễm ô, tức là bối cảnh của quá tŕnh thanh tịnh, mắc
xích, sự liên hệ mang tính chuỗi (Fren. Enchainement. Skt: Pra-varta. Hán dịch:
Hiện nhập (現入). Greek:
συνεχια. Ν.D), được mô tả như sau:
- Khi vô minh dừng, nghi𓏏p tướng dứt (bản chất nghiêp dứt);
- Khi nghiệp tướng dừng, thức dứt;
- Khi thức dừng, danh s&ắc dứt;
- Khi danh sắc dừng, l#7909;c nhập dứt;
- Khi lục nhập dừnng, xúc dứt;
- Khi xúc dừng, thọ d𓁙t;
- Khi thọ dừng, ái dc dứt;
- Ái dừng, thủ dứtt;
- Thủ dừng, hữu d&ứt;
- Hữu dừng, sinh sinh giià chết dứt.
Sự mô tả này được trao cho nấc thang chuẩn của cảnh giới tịnh hóa, hẳn nhiên là
quy Nhân; nghĩa là chân lư thứ tư trong Tứ thánh đế - Đạo đế (con đường đưa đến
trạng thái toàn lạc).
Và, trật tự chiều hoàn diệt:
- Hữu tận, tuyệt dduyên Già và Chết;
- Hành tận, tuyệt duyên Hữu;
- Thủ tận, tuyệt dduyên Hành;
- Ái tận, tuyệt duyên Thhủ;
- Xúc tận, tuyệt duyên ÁÁi;
- Lục nhập tận, tuuyệt duyên Xúc;
- Danh sắc tận, tuy𓎻t duyên Lục nhập;
- Thức tận, tuyệt duyên Danh Sắc;
- Nghiệp tướng t𓀝n, tuyệt duyên Thức;
- Vô minh tận, tuyệt duyyên Nghiệp tướng.
Tất cả những trạng thái như vậy, nghĩa là sự cáo chung của Già và Chết, được
phát sinh qua việc cáo chung của Hữu... Ở đây, theo tŕnh tự của quá tŕnh tịnh
hóa, trao cho Quả, tức là chân lư của sự dừng dứt - Diệt đế - chân lư thứ ba
trong Tứ thánh đế.
Bảy đồ h́nh sơn màu trước mặt đọc giả, là thú cảnh có kết quả từ diễn tŕnh của
thập nhị nhân duyên, được gọi: Bản đồ pháp giới. Chúng vẽ bằng các ṿng tṛn
khép. Đồ thứ nhất, hiển thị sáu cơi hay Lục thú, tức là các cảnh giới mà ta bị
đưa vào, do nghiệp xấu diễn sinh. Đồ thứ hai, ṿng tṛn ở giữa chỉ cho cảnh giới
biến hiện từ cội nguồn vô minh (gây) thống khổ, thuộc về cảnh giới cấp thấp,
loại gia cầm ngu si như heo… Ái dục, loài gà vịt và sân hận, tức là loài rắn
rết. Ṿng tṛn bên ngoài, minh họa phân nửa chúng sinh được phúc lạc, phân nửa
bị hành hạ đớn đau, tất cả được tác thành do nghiệp tốt hay xấu thuở xưa đă tạo.
Đồ h́nh thứ ba, chỉ cho chư Thiên và A-tu-la. Đồ h́nh thứ tư, vẽ lên cảnh giới
con người và chư Thiên. Đồ h́nh thứ năm, chỉ cho thế giới của các loài thú vật
hoang dă. Đồ h́nh thứ sáu vẽ cảnh tượng Ngạ quỷ, và đồ h́nh thứ bảy vẻ địa ngục
có con người với bao cảnh hành hạ gớm ghê. Tất cả những cảnh giới như thế, nói
lên tiêu chuẩn dị biệt của khổ đau, liên quan đến các loại khác nhau của Hữu.
(Đoạn này, từ: “Tất cả … Hữu”, người dịch dựa vào bản tiếng Hoa, hơn là bản
tiếng Anh, Pháp. N.D).
Do nhân ǵ mà người ta lại bị dẫn đến những quả cảnh khổ đau khác biệt như vậy?
Như đồ h́nh thứ nhất biểu thị, nó vẽ lên toàn cảnh do nghiệp tác thành - Cảnh
giới chư Thiên, chỉ cho thuở sinh tiền, ta tu giáo pháp Thập thiện, c̣n cảnh
giới A-tu-la (có bản chất bằng phân nửa chư Thiên) được phước báu do hành thiện,
nhưng kém đạo đức, ḷng mang đầy tật đố, gây chiến tranh khắp nơi; cảnh giới con
người với những phúc lạc và khổ đau do thuở sinh tiền biết giữ ǵn năm giới,
hoặc ít hoặc nhiều, nên được biến hiện như vậy; cảnh địa ngục dành cho con
người, thể hiện cho những ai lúc sanh tiền hủy báng Tam bảo, giết hại lẫn nhau;
và cảnh giới của loài Ngạ quỷ do thuở sinh tiền tham lam bỏn xẻn, cướp giật của
người; và cảnh giới súc sinh do thuở sinh tiền biếng lười, cướp lấy tài sản,
nhân mạng của người khác và giết hại động vật. Tất cả đều do Nghiệp mà bị sinh
vào những thế giới như vậy. Những đồ h́nh này c̣n được gọi là Thangka. Ngày kia,
tôi thấy một Thangka, ở đây người ta vẽ bộ xương người đặt cạnh loài quái vật,
h́nh ảnh đó c̣n rơ hơn là Vô thường biến hiện nữa.
Và, ngoài ṿng lẩn thẩn của hiện hữu hay Thập nhị nhân duyên, mặt trăng trong đồ
h́nh nằm bên góc trái, gợi lên sự giải thoát. Đức Phật bên góc phải, dùng ngón
tay trỏ của Ngài chỉ mặt trăng, sự gợi ư này, giải thích rằng: Đấy là Tự tại,
cho phép những ai vượt qua biển sanh tử khổ đau, và điều này có thể thực hiện
được.
Truy t́m nguyên ủy của Thangka cho chúng ta biết rằng, vào thời đức bổn sư
Thích-ca Mâu-ni c̣n tại thế, Udayana là vị vua của một đất nước xa xôi, gởi tặng
cho vua Bimbisara bộ ngự bào khảm bằng đá quư. Khi đó, đức vua bối rối, không
biết lấy tặng phẩm nào có giá trị tương đương để đáp lại và Ngài đem sự t́nh ấy
đến bạch Phật, đức Phật dạy rằng, hăy gởi cho vị vua ấy bức tranh hiển thị sáu
ṿng tṛn này, và viết lên đó những vần kệ sau đây:
Nên tŕ pháp như vậy
Và xả ly pháp kia
Hăy nhập tuệ giác Phật.
Như voi dẩm mái tranh
(Là hang ổ vô minh)
Diệt dứt sức Diêm chúa
Ai hành giới pháp này
Với tấm ḷng cần mẫn
Họ sẽ rời hữu vi
Đưa khổ đến cáo chung[10]
Đức Phật dạy vua Bimbisara hăy gởi họa phẩm này cho vua Cedayana. Người ta nói,
khi vị vua ấy tiếp nhận tặng phẩm, Ngài theo đó tu học và đắc pháp.
Thập nhị nhân duyên là Mười hai phối cảnh tṛn xoay. Cảnh ban đầu biểu diện của
nó là một lăo già mù khập khễnh nương thân bằng gậy, chỉ cho vô minh đầu tiên,
đó là nhân duyên thứ nhất. Ở mặt nội dung, vô minh là sự vô tri về cảnh giới
thực tại của những hiện tượng. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, triết học Phật
giáo chia ra làm bốn trường phái chính. Và họ thường giải thích theo sự phân
tông chung của họ. Vô minh, thật vậy, được lư giải quá đa thù. Chúng ta không có
đủ thời gian để học và cá nhân tôi không có tâm trí đâu để mà nhớ hết cho được.
Nói chung, vô minh vô thủy chỉ là trạng thái tâm thức mê mờ (thuần túy), chỉ là
sự hôn ám đơn thuần về cái cách mà các Pháp hay sự vật hiện diện (các pháp tưởng
như có thật tự thể). Các Kinh nói có sáu mươi chín loại vô minh khác nhau. Sở dĩ
vô minh được mô tả như vậy, bởi tính đa thù của những quan điểm tùy t́nh và các
khái niệm cực đoan mà thôi. Tuy nhiên, ở đây, trong Thập nhị nhân duyên mà ta
vừa nêu, Vô minh chỉ là nhận thức hư vọng về vạn hữu một cách hoàn toàn ngược
lại với bản chất thật sự mà chúng hiện hữu.
Vô minh vô thủy là những ư tưởng có năng tố xúc tác cảm giác khổ đau trầm trọng
nhất, là chủ tể của cảm thọ bi lụy mà chúng ta cần phải quan tâm loại bỏ. Mỗi
cảm giác khổ đau (yếu tố tâm thức bất lợi), có hai nhóm: Được bẩm sinh và được
dung nạp bằng trí biện (inné ou intellectuellement acquis). Những ư tưởng có
năng tố bất lợi gây khổ đau được dung nạp diễn sinh từ các hệ thống triết học
non kém (Skt: tīrthika/ Phàm phu ngoại đạo. N.D) hay là từ những khái niệm bi
quan như thế, đến độ lôi tâm ta vào những cảnh giới nhiễm ô, bất tịnh không
cưỡng lại được. Thế th́, chúng không thể là những cái chung (định phận) cho mọi
sinh thể và cũng không thể làm “căn bản” chi phối chúng sinh trong cơi luân hồi
(nó không thể là những cái lôi kéo chúng ta nổi lên và ch́m xuống trong cơi kham
nhẫn này- ils ne sont pas communs à tous les êtres sensibles, et ne peuvent être
la racine qui entraine les êtres dans l’existence cyclique…). Đấy là cái bẩm
sinh - Vô minh vô thủy. Long Thọ (Nagarjuna), đă tuyên bố về nó như sau trong
tác phẩm Thất thập tánh không luận của ḿnh như sau:
Thức ấy thấy chư pháp
Rằng, chúng có tự thể
Đức Đạo Sư đă dạy
Thức ấy là vô minh
V́ chư pháp duyên sinh
Thức ấy là vô minh
Nên Mười hai chi khởi[11]
Bởi v́, thức này có những lănh vực biến hiện khác nhau,[12] nên vô minh được
phân hóa thành hai chủng loại (Skt: parivarta, phẩm loại, tính châu biến dây
chuyền. N.D): một là thức ấy thừa nhận có một cái ngă thân nội tại; hai là thừa
nhận các pháp có tự tánh quyết định (các pháp có tự thể). Hai trạng thái này,
thuật ngữ Phật giáo gọi là, chấp ngă và chấp pháp.[13]
Khái niệm hoặc bám chấp vào cái ta của ḿnh[14], tự thân nó có hai loại: loại
thứ nhất xuất hiện khi cảnh giới (đối tượng) của ư niệm (ư xứ, Skt: mano-bhūmi,
manasi-karaṇ, manausthāna / thi thiết, giả lập từ khái niệm; nên sinh ra kiến
phần và tướng phần. N. D), khi người ta thừa nhận đối tượng của thức, cái tha
thể (thân) của chính ḿnh, và cho rằng nó thực hữu. Loại thứ hai xuất hiện, khi
ấy, ư giới cơ hồ như là tự thể của chúng ta, cái tôi đặc hữu, và lúc đó, người
ta cho rằng nó có tự thể hay yếu tính quyết định cho chính nó. Cả hai loại trên
có cả thô và tế, được gọi là kiến phần và tướng phần (và v́ nó là cái bóng dội
của vô minh vô thủy, nên nó có một phần tinh vi đặc biệt nữa; đó là chứng tự
chứng phần, nghĩa là, nó tựa như biết được chính nó, tức là kư ức liên kết được
với quá khứ. N.D). Loại thứ hai này, người ta gọi là tùy t́nh tích tập vô thường
(la vue fausse de la collection transitoire - Saisie du soi personne: Chấp ngă
dẫn sinh Khát ái, như loài thú hoang khát nước, rong ruổi chạy t́m, tưởng dưới
chân ḿnh là nước. Timiro mṛga tṛṣṇā vā dharmanāṃ svapno vandhyā prasūyatam
alāta-cakra dhūmo vā yad ahaṃ dṛṣṭavān iha. Hoặc đây là những hiện tượng do mắt
bệnh (ngộ nhận do mắt nhặm, do quáng nắng (như thú hoang khát nước), do khói mù
của ṿng lửa (tung hỏa mù) hoặc như nữ nhân triệt sản (thạch nữ) mơ mộng sinh
con. Vậy ở đây, những cái mà tôi thấy là ǵ? (Laṅkāvatāra-sūtram. Thầy Nguyên
Giác, khóa tu học kinh Lăng già, 2005, tại Quảng Hương Già Lam).
Long Thọ, trong những vần kệ đă nêu, Ngài chỉ ra rằng: Cái kiến xứ mê lầm của
ngă thủ như vậy chính là nguồn gốc của luân hồi; mà thật ra, nó xuất hiện và
hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào cơ cấu của thân và tâm (tâm sở. Skt:
citta-caitta. Các căn, Skt: indrya, thuật ngữ của Duy thức chỉ cho các đối tượng
không thật có, gây tác động nhận thức, như ư lực, tưởng tượng do đối chiếu… Các
căn là cơ quan đầu năo tiếp nhận thông tin từ mắt, tai, mũi, lưỡi…N.D). Nghĩa là
“căn bản” biểu hiện có vẻ cá biệt này, (ta ngộ nhận) là tự hữu, có bản chất tự
sinh do chính chúng. Cũng vậy, pháp chấp - thừa nhận hiện tượng giới có tự thể
(la saisie d’un soi des phénomènes) - khởi sinh giống hệt như ngă chấp, tức là
thừa nhận vạn hữu hay các pháp có bản thể nội tại tự hữu - Cả hai kiến giải như
vậy đều là vô minh, v́ tất cả đồng sở y trên môi trường vô minh về cái gọi là tự
thể thật hữu tính.
Khi chúng ta nội quán (hồi quang phản chiếu) ngay vào những bám chấp và sân hận,
chúng ta thấy rằng, chúng được dẫn sinh từ trong ư niệm của chính ḿnh, hầu như
chúng vốn hiện diện một cách rất cụ thể, chắc thật, và như vậy, ta thiết lập sự
phân biệt rơ ràng giữa ta và người, giữa chủ và khách. Kết quả là, tạo nên việc
bám chấp tư dục và sân hận; tất cả đều do việc thổi phồng của giác quan và quan
niệm về cái TÔI, phải thế không các bạn?
Một cái TÔI, cái ngă thật hữu đă thành là quy ước, cố hữu. Những bám chấp như
vậy đă thành là sự tích tập của nghiệp, mà quả của nó chính là kham nhẫn khổ đau
(và đó, cái nghiệp, cái TÔI ấy là nhân thân chi phối niềm vui hay khổ đau của
ta. Eng: “… and that is the persone undergoing the pleasure and pain that are
the fruit of those actions.” Tuy nhiên, khi ta khảo sát nguyên lư hay lănh vực
hỗn loạn của (chức năng) tâm thức (Toutefois, quand nous examinons le mode
d’prehension (de fonctionnement) de l’esprit..), khi cái TÔI, cái ngă, cái tự
thể bắt đầu gây phiền năo (problème / khi cái TÔI ấy tạo nên phiền năo), chúng
ta có thể phát hiện, ư niệm của ḿnh về cái TÔI tự hữu thể, là sự thổi phồng lên
của một cái ǵ đó có thật.[15] Khi cái “Tôi” hiện khởi trong tâm thức, nó không
tỏ ra bất cứ dấu hiệu nào liên quan đến tâm và thân uẩn cả (dựa vào những ḥa
hợp của thân và tâm), hầu như nó độc lập hoàn toàn. Nếu nó thật hữu bằng cách
thế thuần túy và độc lập như vậy, th́ người ta càng lúc càng hiểu nó rơ ràng
hơn, và nó, phải được ta khảo sát bằng luận chứng của Trung Quán (Madhyamika)
(01), càng lúc càng sâu hơn. Hoặc là, như đă nêu, khi người ta nghiên cứu một
cái “Tôi” như thế bằng nguyên lư Trung Quán, th́ sự tồn tại của nó càng lúc càng
kém chắc thật, cho đến khi, bổng nhiên người ta xác định rằng, đấy là cái bất
khả kiến (introuvable). Sự thật là khi quán sát, phân tích cái (TÔI) ấy, ta
chẳng rút ra được điều ǵ cả ngoại trừ việc xác định đơn thuần, chẳng qua, nó
hiện diện bằng một số sự kiện duyên hợp mà thôi. Nó không thật hữu (nó hiện hữu
nhưng có bản chất ṛ rỉ. Do vậy, nó là hữu lậu. N.D).[16]Tuy nhiên, khi nó xuất
hiện và được định vị như một cái ǵ đó rất cụ thể, hoặc, khi ta đeo bám vào
tướng hư vọng ấy, bạn biết đấy! Phiền năo phát sinh ngay (qua cánh tay của
nghiệp, ṿng tṛn của hữu lại xoay).
Theo mục chú thích của bản tiếng Anh, th́ đức Dalai Lama 14 đề cập đến
phẩm Quán khổ đau.
Duḥkha-parīkṣā
Dvādaśanam pra-karaṇam
Atrāha-kecid dukhaṃ svakṛtaṃ para-kṛtaṃ ubhaya-kṛtaṃ
ahetusamutpannaṃ cecchanti tasmād atra dukham vidyate, iti, atrocyate.
Svayaṃ kṛtaṃ para-kṛtaṃ dvābhyaṃ kṛtaṃ-ahetu kaṃ ⁄
Duḥkham-ityeka icchanti tacca kāryaṃ na yujyate ∕∕
(Madhyamaka-śāstram / Sampādakaḥ Raghunātha Pāṇḍeya)
Quán (liễu biệt) khổ đau
Những ai muốn đặt về vấn đề, khổ đau, khởi sinh do tính chất tự hữu, sinh do
tính chất khác, do các điều kiện hợp sinh, do không có nguyên nhân mà sinh và
người ta cho là khổ khởi nguồn từ đó - Những trường hợp nêu trên được Luận thư
tuyên bố rằng:
Khổ đau:
Do có tính chất tự sinh
Do (tính chất) khác sinh
Do cả hai (tự và tha) sinh
Kết quả được hiểu như vậy, là hoàn toàn sai lầm.
(Trung quán luận / Raghunātha Pāṇḍeya chủ biên / Nguyên tác Phạn bản / MOTILAL
BANARSIDASS)[17].N.D.
Sự phản biện, sự đối đăi, giữa cách thế mà cái TÔI xuất hiện (hiện hành), thậm
chí nó hiện hữu một cách cụ thể. Và thật ra, người ta không thể t́m thấy ‘chân
tướng’ của nó cho dù đă cố công phân tách; ngoại trừ, sự phân kỳ trong h́nh
tướng và cách hiện hành hầu như rất thật của nó. Những nhà vật lư đă phát hiện
được sự tương đẳng giữa cái ǵ hiện hành và cái ǵ hiện hữu thật sự.
Trong tịnh tư, chúng ta có thể nhận dạng các phẩm loại hoặc các nấc thang bám
luyến tư dục khác nhau. Chẳng hạn, khi chúng ta đọc một đoạn tiểu thuyết nào đó
và chúng ta thấy thích nó, ngay lúc ấy ta thiết lập nấc thang ban đầu của bám
luyến tư dục (thủ). Khi mua nó xong, ta cảm thấy “nó là của tôi”, đấy là nấc
thang kế (cấp độ) khác của bám luyến tư dục. Cả hai trạng thái này đều là bám
luyến tư dục, nhưng hiệu năng của chúng khác nhau.
Đối với chúng ta, quán được 03 nấc chuẩn của tướng vọng niệm và tính bám chấp là
một điều rất hệ trọng. Trong nấc chuẩn thứ nhất: Đối tượng là hiện tượng đơn
thuần; cái t́nh trạng bám chấp (thủ) vẫn chưa hoạt hiện và chưa phát huy tác
dụng lôi kéo tâm thức ta (seules existant l’appqrance et la reconnaissance de
l’object. Eng:”Howere, the mind is not strongly involed with object.” Skt: Āveṣṭita→khởi
phát tác dụng). Rồi, chúng ta nghĩ: “Ồ, cái này tuyệt vời thật!” Khi đó, sự bám
chấp liền hiện hành. Đối với trạng thái này, đấy là tướng hư vọng được vô minh
dẫn sinh và tâm thức bám víu vào đối tượng ấy, nó, cảnh giới đó được thừa nhận
là có thực thể. Đến nấc chuẩn thứ ba tinh vi hơn, khi đă quyết định “mua” tác
phẩm để được đoạn văn mà ḿnh thích rồi biến nó thành của riêng, và thế là, ta
hân hoan có được nó như chính của ḿnh vậy.[18] Qua nấc chuẩn thứ nhất, hầu như
đối tượng chỉ mới xuất hiện, mường tượng tự sinh một cách độc lập, thế nhưng,
bấy giờ nó chưa lôi kéo tâm thức ta một cách trầm trọng cho lắm. Qua nấc thứ hai,
được sự chi phối của vô minh vô thủy (vô minh ban đầu), đến lúc này, đối tượng
xem như hoàn toàn tự hữu thật sự. Cuối cùng, nấc chuẩn tinh vi nhất được khởi
lên ở sát-na sau đó, mà từ đây, ư thức thừa nhận đối tượng có bản chất tự hữu.
Thế nhưng, khi chấp thủ đă trở thành thô trọng (sắc pháp hiện hành.N.D.), khái
niệm về tính tự hữu hoạt động như là nhân của nó (hiện hành huân chủng tử.N.D.)
(Thỉnh xem/ Tuệ Sỹ/ Luận Thành Duy Thức/Ban tu thư Phật học, tập 1/ từ
tr.126→128 sẽ rơ hơn.) Cái nhân đó, vốn nội hàm sự chấp thủ tăng thắng, nhưng,
đúng là nó không có mặt khi chấp thủ ở giai đoạn mới thành h́nh.
Chính v́ vậy, ta tự thể nghiệm được như vầy:
- Nấc chuẩn thứ nh𓉷t, pháp hay đối tượng xuất hiện như tự sinh.
- Nấc thứ nh́, nhận th#7913;c thừa nhận tướng hữu vi này.
- Nấc thứ ba, khi chúng ta ࣡ă “mua được” đối tượng “tự sinh” một cách trọn vẹn
rồi, và rằng, chúng ta biến nó thành của riêng, phát triển một cảnh giới thô
trọng về quyền sở hữu mà trong đó, chúng ta xem nó có giá trị tối thượng.
Giai đoạn sau cùng của tiến tŕnh này, có hai gịng bám chấp đầy quyền năng hội
lưu - Sự bám chấp đối với đối tượng có tính tự hữu và chấp thủ ngă thể của ḿnh
- Phải nói cách khác là ta đangg biến chấp thủ theo khuynh hướng rộng lớn hơn
trước nhiều. Hăy tự phản tỉnh, cho dầu nó hiện hữu hay là không.
Thực tánh của sân hận cũng y như vậy. Nấc chuẩn ban đầu, chất liệu của đối tượng,
được người ta thừa nhận với tánh cách quy ước và chắc chắn đúng. [Eng: There is
an initial experience involving a conventionally valid perception of the
qualities of an object - Trạng thái ban đầu trăi qua bao gồm khái niệm chắc chắn
có tính quy ước (thể hiện thành lời được thế gian chấp nhận - Skt: vyavahāra -
N.D.)] về chất liệu của đối tượng. Chẳng hạn, thấy một cái ǵ đó không tốt đẹp,
(theo thế gian quy ước) và cho là bất thiện. Kế đến là nấc thứ hai, niệm sân hận
khởi lên, khi ấy, nhận thức hay tưởng tri xen vào, ta nghĩ: “Ồ! Điều này sao tồi
tệ thế.” Thế là sân hận phát tác, càng lúc càng lớn dần ra, cho đến khi người ta
cảm nhận, đối tượng của sân hận đă thật sự gây ta phiền năo. Như vậy, có bao
nhiêu bám chấp, th́ có bấy nhiêu sân hận, vô minh ban đầu đóng vai tṛ trợ lư
“chung” cho địa hạt chấp ngă và cả sân hận nữa. Thế th́, nhân của trạng huống
hỗn loạn hay phiền năo này, chính là bức tranh “con heo” như Thangka đă tŕnh
bày. Và nói theo lịch vạn niên của Tây Tạng, năm sinh của “tôi” là năm sinh “con
heo” vậy!
Chú thích
---------------------------------------------------------------------------------
[1] Bản tiếng Pháp: le Sens de la Vie (Réincarnation et Liberté / Tái sinh và
giải thoát) do Miche Cool và Pierre Lafforgue dịch từ bản tiếng Anh: The Meaning
of Life, tức là những bài giảng của đức DALAI LAMA 14. N.D.
[2] Nguyên văn: “Familiariser” có nghĩa là tập làm quen. Ở đây, nên hiểu là
“nhận thức”, tương đương với Skt: Abhi-jña, hoặc Greek : γνωση gnosi : Liễu
tri, tri. N.D.
[3] Skt: “Buddhaṃ
śaraṇaṃ
gacchāmi. Con về nương tựa Phật.
Dharmaṃ
śaraṇaṃ
gacchāmi. Con về nương tựa Pháp.
Saṅghaṃ
śaraṇaṃ
gacchāmi. Con về nương tựa Tăng”. N.D.
[4] Nguyên văn: “Un niveau d’interdependance...” (Skt: Prastha. Greek: Αλφαδι.
N.D.)
[5] Bản Eng: “This is the establishement of Phenomena dependent upon their
parts” (đó là sự thiết lập của hiện tượng phụ thuộc vào những thành phần của
chúng.) N.D.
[6] Nguyên văn: “..., où les phénomènes sont simplement imputés par des termes
et des concepts en dépendance de leur base d’imputation,...” imputés = Skt:
Parikalpaṇa
/ prati-vikalpa / kṛtākhyā.
Hán dịch: “Biến kế sở phân biệt
遍計所分別
/ tư duy đối chiếu
思唯對照
/ giả lập tác danh
假立作名.”
Những thuật ngữ này, xin thỉnh đọc kinh Lăng-già, Phạn bản, phẩm đầu tiên, tờ kế
cuối. N.D.
[7] Skt: Yathāsthana → Môi trường thích ứng cho mọi trường hợp. Do vậy, une
vaste perspective tương đương với Yathāsthana. N.D.
[8] Sāṃkhyā-karikā.
Thuật kư: Số luận, Phạm âm là Tăng-Khư (Skt. Saṃkyā),
dịch là số, tức là trí tuệ số. Do tính đếm căn bản của các pháp, theo đó mà đặt
tên ... Người sáng lập là Kiếp-tỉ-la, phiên âm củ là Ca-t́-la, dịch là Huỳnh
sắc. Tiểu sử và truyền thuyết, xem Kim thất thập luận (q.54.tr. 1245a8). Tuệ Sỹ
/ Thành Duy Thức Luận. Phần chú thích.
Sāṃkhyakārikāḥ
(Gaudapādaviracitabhāṣyahitāḥ):
“Kapilāya namas tasmai yenāvidhyodadhau jagat [magne],kāruṇyāt
sāṃkhyamayī
naur iva vihitā prataraṇāya…ity
ete Brahmaṇaḥ
putrāḥ
sapta proktā maharṣayaḥ.”
Đảnh lễ đấng Kapila, cái vị mà, v́ ḷng xót thương chúng sinh bị nhận ch́m trong
đại dương vô minh, sáng tạo Số luận, như chiếc thuyền (cho) họ vượt qua ... Thật
vậy, Ngài được cho là 01 trong 07 vị thánh đức,, con của đại Phạm thiên. (Les
strophes de Sāṃkhya).N.D.
[9] Nguyên văn: “…et sert de support à l’explication des origines de la
souffrance.” Des origines, theo chú thích của nguyên tác (bản Eng.)→ Skt:
Vijñāna Thức. Thượng nhân Trí Quang: Khái niệm luân hồi. Greek: εννοια / ιδεα
μεταμορφωσας. Ν. D.
[10] Nguyên văn Fren:
“Prenant ceci et laissant cela
Entrez dans l’Enseignement du Buddha
Comme un éléphant dans une chaumière
Detrusez les forces du Seigneur de la Mort
Ceux qui avec une conscience attentive
Pratiqueront cette discipline
Abandonneront la Roue de la naissance
Mettant un terme à leur souffrance.”
Bản Eng :
“Undertaking this and leaving that
Enter into the teaching of the Buddha
Like an elephant in a thatch hause
Destroy the forces of the Lort of Death
Those who with thorough conscientiousness
Pratice this disciplinary doctrine
Will forsake the wheel of birth
Briging suffering to an end.”
[11] Nguyên văn (Fren.):
“Cette conscience percevant les phénomènes comme existant de faςon ultime,
Bienqu’ils soient produits en dependance de causes et de conditions,
Est ce que le Maitre appelle l’ignorance initial.
D’elle surgissent les douze liens.”
Eng:
“That consciousness that things
Wich are produced in dependence upon
Cauces and conditios
To ultimately exist
Was said by the Teacher to be ignorance.
From it the twelve links arise.”
“Cái thức này thấy sự vật hiện hữu một cách tối hậu mặc dù chúng được nhân và
duyên dẫn sinh. Thế nên, đức Đạo sư gọi cái thức ấy là vô minh vô thủy. Do vô
minh đó, 12 chi sinh khởi.” Thức, ở đây chính là ư, nó dẫn đạo các pháp, dẫn
sinh các pháp. Tệ hại hơn, nó tự cho là con người có 01 cái ngă (Ego/Ātma) và
thấy các pháp cũng có tự thể (sva-bhāva). Kinh Pháp Cú dạy: “Các pháp khởi thủy
bị chi phối là do ư, ư chủ đạo, ư tạo lập. Nếu như ta nói, hành động bằng tư
tưởng xấu ác (nghiệp thân, khẩu, ư), th́ khổ đau theo họ như ḅ kéo xe vậy.”
Pāli:
“Manoseṭṭhā
manamayā
Manasā ce paduṭṭhena
Bhāsati vā karoti vā
Tatonaṁ
pdukkhamanveti
Cakkhaṃ’vaahato
padaṁ.”
(Pháp Cú Kinh Yếu Nghĩa-法句經要義.Tông
giáo Văn Hóa Xuất Bản Xă).
Ở đây, đức Dalai Lama 14 dạy, ngay từ đầu là cách chuyển y (Skt: Parā-vṛtta.
Hán dịch là Đốn Ngộ-頓悟),
tức là thay đổi toàn diện cơ cấu thân và tâm. Chẳng hạn Thiền tư về vô thường,
cho phép ư thức phát sinh trạng thái từ bi, tức là trau dồi ḷng vị tha. Khi
ḷng bi phát sinh, bây giờ ḷng bi không c̣n là đối tượng Thiền quán nữa, mà
chính là ta chuyển di “thức” vào trong ḷng bi. Ư nghĩa này là Từ bi quán của
PHỔ MÔN vậy (kṛpamaitralocana).
Sarvaguṇasya
pāramiṃgataḥ
sarvasattva kṛpamaitralocano.
Guṇabhūta
mahāguṇodadhī.
Ngà́ (Quán-thế-âm Bồ-tát) có mọi phẩm chất siêu việt (sự thù thắng của nhất
thiết phẩm chất), đôi mắt từ ái thương xót mọi chúng sinh. Ngài là biển công đức
vĩ đại, phẩm chất ấy không do duyên mà có. Vị đó, ta phải nên đảnh lễ. (Phổ môn,
Phạn bản, kệ 26) N.D.
[12] Nguyên văn: “Du fait que la conscience peut avoir differents types
d’objects…” d’objects, không nên hiểu là đối tượng theo thường nghĩa. Nó biểu
thị cho lănh vực hoạt động của tâm thức có từ vô thủy, (Skt: Artha, go-cara,
pra-cāra, bhūmi-Môi trường, mục đích, trạng thái...). Nó luôn có khuynh hướng
biến hiện thánh đối tượng của bám luyến tư dục, được vô minh trưởng dưỡng, thổi
phồng - Nhất thiết duy tâm sở hiện là đây (dṛṣṭa
cittamātra / Chương đầu, Phạn bản Kinh Lăng Già). N.D.
[13] Skt: Ātma-grāha, Ātma-pari-grāha (chấp ngă). Dharma-parigrāha (chấp pháp).
Thành Duy Thức Luận. N.D.
[14] Nguyên văn: “La conception du soi des Personnes”, personne, Lat: nostri
homines → Cấu trúc tâm lư và các phụ gia hay thuộc duyên (Omnes mortales omnium
Ǽtatum). N.D.
[15] Nguyên văn: “…, nous pouvons découvrir que notre conception d’un moi
auto-institué (notre Ego) est une exagération de ce qui existe réellement.” Ở
đây, thuật ngữ - une exagération - mà đức Dalai Lama 14 sử dụng, tức là chỉ
cho tánh không của các pháp. Bởi tánh không (śūnyatā) diễn sinh từ động từ √śū
hay √śvi. Greek tương đương : (v) φουσκωνω → κενο. Chỉ cho trạng thái thổi
phồng lên như ta bị bỏng lửa. Ta không thể t́m được tư tánh của việc thổi pḥng
này. Như vậy, thổi pḥng, không thể hiểu một cách đơn thuần là cường điệu -
exagération - mà phải quán tính chất nó. Quán, giản trạch, liễu biệt, phân biệt
bằng tư duy thanh tịnh (tịnh tư); diễn sinh từ động từ pari√Iś → parīkṣā,
Bồ-tát Long Thọ đă dùng thuật ngữ này làm hợp từ (compound) định “danh” cho hệ
thống “triết tu” của ḿnh. Tức là liễu biệt Thiền (parīkṣā),
như ngay từ đầu, đức Dalai Lama 14 đề ra.
[16] [8c-d] Là khổ, tập, kiến xứ và hữu.
01. V́ nghịch ư các bậc Thánh, nên nói là khổ (duḥkha).
02. Khổ phát sinh từ đó nên nói là Tập.
03. V́ bị băng hoại nên nói là thế gian.
04. Các kiến chấp trụ ở đây, tiềm phục ở đây, nên nói là kiến xứ (dṛṭisthāna).
05. Nó hiện hữu nên nói nó là hữu.
Đó là những dị danh của hữu lậu.
* Dẫn bởi Sphut, tr.28, Kinh nói: “lujate luyate tamāl lokaḥ.”
“Nó băng hoại, nó băng hoại, nên gọi là thế gian”...
** Dẫn bởi Sphut., nt: “ye kacid bhikṣava
ātmata ātmīyataś ca samanupaśyati ta imaneva pañcopādāskandhāanātmata ātmīyatas
ca samanupaśyati,” “Này các Tỳ-kheo, những ai nhận thấy có ngă và ngă sở, những
người ấy ở ngay năm thủ uẩn này mà nhận thấy có ngă và ngă sở.”
*** Skt: Bhavatīti bhavaḥ…
(Tuệ sỹ / A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận / Ban tu thư Phật học)
(Kệ số 08 / Abhidharmakośa-bhāsyam ): “Dukhaṃ
samudayo loko dṛṣṭisthānaṃ
bhavaśca te.
Āryānāṃ
pratkūlavād duḥkhaṃ.
Samudetyasmād duḥkhaṃ
iti samudayaḥ.
Lujyata’ iti lokaḥ.
Dṛṣṭar
asmiṃ
stiṣṭhaty
anuśayanād iti dṛṣṭisthānaṃ.
Bhavat iti Bhavaḥ.
Ityete sāśravānāṃ
dharmānāṃ
anvarthaparyāyāḥ.”
N.D.
[17] Bản tiếng Đức tương đương:[Einige stellen die Behauptung auf: “Lei ist
durch sich selbst geschaffen”; (andere): “es ist durch andres geschaffen”;
(wieder andere:), “es ist durch beides (sich selbst und anderes)geschaffen”,
(wieder andere:) “ es ist (ganz) ohne Ursache”. “ Doch trifft nicht zu, dass
Leid uber haupt etwas ist, das geschaffen werden kann.”] N.D.
[18] Nên nhớ một điều là, đức Dalai Lama 14 dạy ta quán tánh không của nhân
duyên hay vọng niệm, chớ không dạy ta bám không, hay chấp không.
Pratyaparīkṣānāma
pratham prakāraṇam,
ĀryaMañjuŚriye Kumārabhūtāya namaḥ,
(vyākhyātur maṅgalā-caraṇam).
(01) Yo’ntadvayāsavidhūtavāsaḥ
saṃbudhi
sāgara labdhajanmā. Sad-dharmakośasya gabhīra-bhavaṃ
yathānu-Buddhaṃ
kṛpayā
jagāda. (02) Yasya darśaṇatejaṃsi
paravādimatendhanam. Dahatyadyāpi lokasya mānasānitamāṃsi
ca. (03)
Yasyāsamajñānavacaḥ
śaraghā nidhnanti niḥ-śoṣabhavārisonām.
Tridhāturājya śriyamād adhāna vineya lokasya. (04) Nāgāryu nāya praṇipatya
tasmai tat-kāraṇikāṇām
vi-vṛtiṃ
kariṣye.
Uttāna-sattriyavākyanaddhām tarkānilāvyakulitāṃ
prasannam. Tatra “na svato nāpi parato na dvabhyām” ityādi vakṣyamāṇaṃ
śāstram. Tasya kāni saṃbandhābhidheya
prayojanāni, iti praśne Madhyamāka-vatarā vihitavidhinā advayajñānālaṃ
kṛtvaṃ
mahākarūṇopāyaparassaraṃ
prathamacittotpādaṃ
Tathāgatajñānotpatti hetum ādiṃ
kṛtvā
yāvad Ācarya Nārgārjunasya viditāviparīta prajñāpāramita nīteḥ
karūṇayā
parava bodhārtha Śāstrapraṇayanamityeṣe
tāvacchāstrasya sambandhaḥ
Yacchāsti vaḥ
kleśa ripūnaṣeṣān
saṃtrāyate
durgatito bhavācca. Tac chāsanātrāna gunāc ca Śāstraṃ
eva dvayaṃ
cānya mateṣu
nāsti. Iti. Svayam eva cāryo vakṣyamāṇa
sakala śāsvābhiyeyārtha saprayojanam upa-darśayan tad aviparītaṃ
saṃ-prakāśatena
māhātmyam ud-bhāvya tat sva-bhāvā vyatireka vartine parama gurate Tathāgatāya
śāstrapraṇayana
nimittakaṃ
praṇamaṃ
kartukāma āha:
Anirodham anutpādam anutcchedam aśāśvataṃ
Anekārtham ānārtham anagamam anirgamam.
Chương thứ nhất: PHẨM QUÁN NHÂN DUYÊN
Đảnh lễ Văn Thù Sư lợi Pháp vương tử
(Thuyết về hạnh của đấng Kiết Tường)
(01) Vị mà, trụ xứ của Ngài, lănh vực nhị nguyên được từ bỏ.
(VỊ ấy) sinh ra từ đại dương trí, (mà nơi đó tuệ hải) vốn đă được chứng đắc.
Vị ấy có khả năng thể hiện sự thể nghiệm đúng như tinh hoa thù thắng (thể tánh
sâu xa) của Tạng diệu pháp.
(02) Ánh sáng thị hiện của Ngài làm mồi lửa thiêu sạch những quan điểm sai lầm
của ngoại đạo (những cỏ rác triết học non kém).
Và, giờ đây, ngay lúc này, ánh sáng đó vẫn thiêu sạch những sai lầm vụn dại (vô
minh) và, tỏa rực trong tâm thức của chúng sinh.
(03) (Nói đến) trí tuệ không thể so sánh, vô song (vô đẳng trí) của Ngài, (là
nói đến) phẩm chất toàn hảo của những đoàn quân thiện chiến, được sở hữu bằng
các phương tiện bén nhạy, tinh nhuệ.
Ngài là Đế ṭa trong Tam giới: Các cơi chết, toàn bộ chư Thiên và thế giới; đều
được NGÀI nhiếp hóa.
(04) Sau khi đảnh lễ đấng Đạo sư, Bồ-tát Long Thọ diễn khai tụng bản.
Thuyết giả có tánh thanh tịnh của chư Long chủng, là v́ giáo giới phát sinh từ
hạnh thường kính lễ.
Trước tiên, ở đây, Luận thư đề cập đến (hiện tượng) “không do tự tính (chính bản
chất của nó), không do tha tính (không do bản chất của hiện tượng khác), cũng
không do cả hai.” Động cơ hay những đối tượng nào mà trạng thái tương y của nhân
duyên sẽ được nói đến? Trong vấn nạn nêu trên, những đạo lư được bản Kinh
Madhyamāka-vatarā giải thích: Bước ban đầu là nắm lấy tâm thức tối sơ, phát khởi
đại bi, thực hiện trí bất nhị trọn vẹn. Sau khi tu tập yếu tính vốn có như vậy,
th́ Trí Như Lai phát sinh; bởi v́ đại bi như là bậc dẫn đường vào Trí Bát-nhă,
được thánh Long Thọ chân thật chỉ dạy, là mục đích cho việc giác ngộ tối hậu,
chính luận bản mang lại điều này. Hơn thế nữa, sự liên hệ đến Luận bản là vầy:
“Cái có kiểm soát được sự tích lủy tạo nên quả phiền năo, hận thù và có thể
khiến cho sợ hải lộ tŕnh đưa đến địa ngục. Bởi v́, tính điều phục, tính vô cứu
độ và công đức, cả hai; Luận bản c̣n không - Cho là - Hiện hữu trong giác tính (cái
được chứng tri).”
Trong khi tŕnh bày toàn bộ Luận bản, bậc Thánh ấy muốn nhắm đến, cái mà có thể
đạt được tự tại thù thắng bằng sự khai thị chân thật như vậy, cái đó có trong
bản chất giải thoát. Một cách tuyệt vời nhất, Ngài tán thán đức NHƯ LAI, tác
thuyết đảnh lễ làm động cơ thể hiện luận thư:
(Tất cả các pháp).
“Không (do) nguyên nhân đệ nhất sinh
Không nguyên nhân đệ nhất diệt
Không đoạn diệt tính
Không thường hằng tính
Không đồng nhất tính
Không dị biệt tính
Không sản sinh trong sự hữu
Không siêu việt ngoài sự hữu.
• Ở đây, đoạn kệ “bất bát” này, tôi dịch theo bản tiếng Đức: “Nichtvergehen,
Nichtenstehen, Nichtabrechen, Nichtandauer, Nichteinheit, Nichtvielheit,
Nicht-zur-Erscheinung-Kommen, Nicht-aus-ihr-Verswinden.”
(Nguồn: Phụ bản Pháp Luân số 5)
|