|
Duyên Khởi
và Vô Ngă
(Paticcasamuppàda
và Anattà)
Thích Chơn Thiện
Duyên khởi là
giáo lư mà từ đó Thế Tôn giác ngộ Vô Thượng Bồ-đề. Từ đấy, Thế Tôn được Trời,
Người tôn xưng với mười hiệu Như Lai. Không có một sử liệu nào, cũng không có
một bản Kinh nào nói khác đi về nội dung chứng ngộ đó của Thế Tôn.
Kinh Tương Ưng
Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II; Tập 12, 16, Đại 2, 85a), Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna),
(Tiểu Bộ Kinh I, Bản dịch của H.T. Minh Châu 1982), Kinh Đại Bổn (Trường Bộ Kinh
III) và Kinh Đại Duyên (Trường Bộ Kinh III) là các kinh bàn rơ về giáo lư Duyên
khởi.
Theo Kinh Tương
Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II), Thế Tôn Tỳ-bà-thi (Vipassi), sáu Thế Tôn
tiếp theo Thế Tôn Tỳ-bà-thi trong quá khứ, Thế Tôn Thích-ca-mâu-ni và cả chư Thế
Tôn trong vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ-đề từ giáo lư Duyên khởi.
Tại sao giác ngộ
Duyên khởi là giác ngộ tối thượng? -- Nếu không muốn nói là "Pháp nhĩ như thị" (Pháp
vốn như vậy) th́ câu trả lời giản dị nhất là Duyên khởi nói lên thực tính của
các pháp. Thực tính ấy là Duyên sinh tính hay Vô ngă tính. Trung Bộ Kinh I, số
28; Tương Ưng III, tr. 144 và Tiểu Bộ I, tr. 48, chép lời Thế Tôn: "Ai
thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)." Thấy Phật
quả là sự giác ngộ tối thượng.
Nếu đi vào phân
tích giáo lư, th́ từ giáo lư Duyên khởi ta thấy rơ vô ngă tính của các pháp. Vô
ngă là giáo lư độc đáo nhất của Phật giáo, độc đáo nhất của lịch sử Tôn giáo và
tư tưởng của nhân loại, làm nền tảng chủ yếu cho các giáo lư Bắc tạng và Nam
tạng.
Giữa khi sáu mươi
hai học thuyết Ấn Độ chấp ngă và ngă sở, giữa khi nhân loại chấp thủ ngă và ngă
sở, bị ch́m sâu vào ṿng sinh tử khổ đau, th́ tiếng nói Duyên sinh Vô ngă phải
là tiếng nói của giác ngộ, giải thoát khổ đau.
Duyên khởi là ǵ?
Thế Tôn định nghĩa:
"Do vô minh, có
hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục
nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do
ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lăo tử,
sầu, bi, khổ, ưu, năo sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi (hay
Duyên sinh)." (Tương Ưng Bộ Kinh II, tr. 1-2).
"Do đoạn diệt
tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt; do hành diệt nên thức diệt; ...;
lăo tử, sầu, bi, khổ, ưu, năo diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Này
các Tỳ-kheo, như vậy là đoạn diệt." (Ibid. tr. 1-2)
Khi mười hai nhân
duyên sinh khởi th́ đồng nghĩa với toàn bộ khổ uẩn khởi. Khi mười hai nhân duyên
diệt hay gọi là mười hai nhân duyên đoạn diệt th́ đồng nghĩa với toàn bộ khổ uẩn
đoạn diệt. Tất cả đó gọi là Duyên khởi, là sự thật về sự có mặt của các pháp, đă
được Thế Tôn xác nhận:
"Pháp Duyên khởi
ấy, dù có Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp
quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt định
lư ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết,
khai triển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị."
Ngài dạy:
"Duyên vô minh,
này các Tỳ-kheo, có các hành, v.v... Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là như
tánh, bất hư vọng tánh, bất dị như tánh, y duyên tánh ấy. Này các Tỳ-kheo, đây
gọi là Duyên khởi." (Ibid. tr. 31).
Về bốn danh từ
nói về lư Duyên khởi ở trên, được tập sớ giải thích như sau: lư Duyên sinh này
trú như vậy, không có một sanh, già, chết, v.v... nào không có duyên sinh
(paccaya). Do duyên nên có các pháp khởi lên, tồn tại, do vậy nên gọi là Pháp
trú tánh ấy (Dhammatthitata). Các duyên ra lệnh hay an trú các pháp, do vậy được
gọi là pháp quyết định tánh. Các duyên của sanh già v.v... là các duyên đặc biệt
gọi là y duyên tánh. Thế nào là duyên sinh pháp (hay pháp do duyên sinh)?
-- "Gọi là duyên
sinh pháp là các pháp được tác thành, hữu vi, biến hoại, tan ră, đoạn diệt, vô
thường." (Ibid, tr. 31).
Trong Kinh Phật
Tự Thuyết (Tiểu Bộ I, tr. 291), nguyên lư Duyên khởi đă được Thế Tôn tóm tắt:
-- Do cái này có
mặt nên cái kia có mặt.
-- Do cái này
không có mặt nên cái kia không có mặt.
-- Do cái này
sinh nên cái kia sinh.
-- Do cái này
diệt nên cái kia diệt.
Trong kinh Đại
Duyên (Trường Bộ III), khi Tôn giả A-nan ca ngợi giáo lư Duyên khởi thâm thúy,
th́ Thế Tôn lại nhấn mạnh hơn:
"Này Ananda,
chính v́ không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp Duyên khởi này mà chúng sanh
hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja
và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử." (tr.
56)
Để hiểu rơ Duyên
khởi hơn, chúng ta cần đi vào ư nghĩa của từng chi phần trong mười hai duyên, và
đi vào một số vấn đề được đặt ra với Duyên khởi.
-- Lăo, tử
(Jaràmarana): "Cái ǵ thuộc các loài chúng sinh bị già, yếu, suy nhược, răng
rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ lớn, các căn chín muồi th́ gọi là già. Cái ǵ
thuộc các loài chúng sinh bị từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, các uẩn tàn lụn, thân
thể vứt bỏ, tử vong th́ gọi là chết." (Ibid. tr. 3).
-- Sinh
(Jàti): "Cái ǵ thuộc các loài chúng sinh bị sanh, xuất sinh, giáng sinh, đản
sinh, xuất hiện các uẩn, thành tựu các xứ th́ gọi là sinh." (Tương Ưng II, tr.
3).
-- Hữu
(Bhava): "Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, gọi là hữu." (Tương Ưng II, tr. 3).
-- Thủ
(Upàdàna): "Có bốn thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngă luận thủ." (Ibid,
tr. 3).
-- Ái
(Tanhà): "Sắc ái, thanh ái, hương ái, vi ái, xúc ái, pháp ái; hay: dục ái, sắc
ái và vô sắc ái." (Ibid, tr. 3).
-- Thọ
(Venada): "Có sáu thọ, thọ do nhăn xúc sinh, thọ do..., và thọ do ư xúc sinh."
(Ibid, tr. 3).
-- Xúc
(Phassa): "Có sáu xúc: nhăn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ư xúc."
(Ibid, tr. 3).
-- Sáu xứ
(chabbithàna): "Gồm sáu nội xứ (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư căn) và sáu
ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp)." (Ibid, tr. 4).
-- Danh sắc
(Nàma-rùpa): "Danh gồm xúc, tác ư, thọ, tưởng và tư (có nơi tŕnh bày Danh gồm
có thọ, tưởng, hành và thức uẩn). Sắc là tứ đại và các pháp do tứ đại sanh."
(Ibid, tr. 4).
-- Thức
(Vinanàna): "Nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức."
(Ibid, tr. 4).
-- Hành
(Sankhara): "Gồm có thân hành, khẩu hành và ư hành."
-- Vô minh
(Avijja): "Không hiểu rơ Tứ đế gọi là vô minh (Tương Ưng II, tr. 4). Có thể phát
biểu cách khác rằng, không hiểu Duyên khởi, vô ngă là vô minh."
Khi Thế Tôn giảng
về Duyên khởi, Tôn giả Moliya Phagguna hỏi, "Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc? Ai thọ?
Ai khát ái? Ai chấp thủ?" (Tương Ưng II, tr. 15-16). Thế Tôn dạy:
"Như Lai chỉ dạy
xúc, thọ, ái, thủ..., chớ không dạy người nào xúc, thọ..., nên các câu hỏi đó
không phù hợp với định lư Duyên khởi. Câu hỏi phù hợp lư Duyên khởi phải là: Do
duyên ǵ xúc sinh, thọ sinh? v.v..." (Tương Ưng II, tr. 16).
Ngoại đạo lơa thể
Kassapa (Tương Ưng II, tr. 22) và ngoại đạo du sĩ Timbakura (Tương Ưng II, tr.
26) đặt vấn đề với Thế Tôn rằng: "Có phải khổ do ḿnh làm ra, hay do người khác
làm ra? Hay do ḿnh và người khác làm ra? Hoặc khổ do tự nhiên sinh?" Thế Tôn đă
dạy nghĩa Trung đạo: "Khổ
do Duyên sinh
(khổ do xúc sinh)."
Tương tự, đối với
mười một chi nhân duyên c̣n lại đều do duyên mà sinh. Hễ cái ǵ do duyên sinh
th́ là hữu vi, vô thường, đoạn diệt, biến hoại, không thật.
Một hôm, Thế Tôn
cắt nghĩa với Tôn giả Kaccayana (Tương Ưng II, tr. 20) rằng, ai không chấp thủ,
vị ấy không có nghĩ đây là tự ngă của tôi, và khi khổ sinh th́ xem là sinh, khi
khổ diệt th́ xem là diệt, mà không xem có tôi khổ, hay tôi hết khổ.
Từ mười hai chi
phần nhân duyên của Duyên khởi như vừa được tŕnh bày, chúng ta có thể đi đến
một số kết luận:
1.
Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sinh. Sự có mặt của một pháp thực ra chỉ là
sự có mặt của nhơn duyên sinh ra nó; sự hoại diệt của một pháp cũng chỉ là sự
hoại diệt nhơn duyên sinh ra nó. Các pháp không có thật sinh hay thật diệt.
Tiếp tục lập luận
như thế với tất cả các duyên, không dừng lại một nơi nào cả, ta sẽ thấy không có
một bóng h́nh hữu ngă nào xuất hiện trong pháp giới Duyên khởi này cả. Nói một
cách ngắn ngọn, tất cả do duyên sinh nên vô ngă.
Duyên khởi nói
lên sự thật vô ngă và phủ nhận tự ngă,
nên phủ nhận mọi câu hỏi và mọi câu trả lời về bản chất của các pháp, về nguyên
nhân đầu tiên của vũ trụ.
2.
Mỗi một chi phần trong mười hai chi phần nhân duyên là sự có mặt của mười một
chi phần kia. Sự đoạn diệt hoàn toàn một chi phần cũng có nghĩa là sự đoạn diệt
cả 12 chi phần nhân duyên. Vô minh, hành, thức, v.v... không thể có mặt một
ḿnh, v́ thế khi ái diệt hoặc thủ diệt hoặc thức diệt... th́ vô minh hoàn toàn
diệt.
3.
Khi ái, thủ, hay vô minh tồn tại hay tập khởi, th́ toàn bộ khổ uẩn tập khởi. Con
đường tập khởi này là sinh tử, gọi là tà đạo.
Khi tham ái, chấp
thủ, hay vô minh đoạn diệt, th́ toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Con đường đoạn diệt
này là chánh đạo.
4.
Duyên khởi, trong thực tại, là một hiện tượng trùng trùng. Một sự vật có mặt có
nghĩa là tất cả nhơn duyên trùng trùng ấy có mặt, tất cả pháp giới có mặt. Nói
khác đi, không thể có một ngă tướng nào có mặt ngoại trừ pháp giới Duyên khởi.
Một pháp tập khởi
chính là pháp giới tập khởi. Đây là ư nghĩa của "Một là tất cả, tất cả là một."
Một ở đây, chính là tất cả, chính là pháp giới.
Tất cả chính là
một và chính là pháp giới. Một là tất cả ấy đồng nghĩa với Duyên sinh và Vô ngă.
V́ duyên sinh, vô
ngă, vốn không sinh, không diệt, nên tự nó không có ư nghĩa thường hay vô
thường, có hay không có, khứ hay lai, v.v... nó thoát ly mọi tướng trạng.
5.
Cái gọi là Duy tâm, Duy vật, Duy thức, Duy linh, v.v... không có ư nghĩa khác
biệt nhau nào cả, nếu chúng được nh́n là do duyên sinh, là vô ngă.
Với Duyên khởi,
do đó, tất cả các chủ thuyết đều không phù hợp nếu chúng được xây dựng trên căn
bản ngă tính; tất cả sẽ phù hợp nếu chúng được xây dựng trên căn bản vô ngă
tính.
Các vấn đề siêu
h́nh (metaphysic) bàn về nguồn gốc, tự thể của các hiện hữu đều được xem là hư
luận đối với giáo lư Duyên khởi.
6.
Đối tượng nghe giáo lư Duyên khởi là con Người. Đối tượng này bị vướng mắc vào
vô minh, ái, thủ, nên v́ lợi ích giải thoát, Thế Tôn đă tŕnh bày Duyên khởi
dưới dạng thức mười hai chi phần nhân duyên.
Chi phần lục nhập
(6 căn và 6 trần) nói lên rơ ràng đối tượng nghe phải là con Người (các loại
bàng sanh không đủ lục nhập; một số các loài Trời cũng thế, có nơi tỷ thức và
thiệt thức không có hoạt động nên không có liên hệ đến hương trần và vị trần).
Với sự có mặt của
tham ái hay chấp thủ, các chi phần nhân duyên của Duyên khởi được nh́n thấy là
hữu vi (vô thường, đoạn diệt); với những ai ngay trên đời này mà ái diệt, thủ
diệt th́ các pháp là phi khổ đau, là trung đạo, là vô vi, như chính Thế Tôn xác
định quan điểm của Thế Tôn: "Khi Tôi thanh tịnh, Tôi thấy thế giới thanh tịnh".
Bài kệ mở đầu Trung Luận của Tổ Long Thọ cũng nói lên ư nghĩa ấy:
"Bất sanh diệc
bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất khứ diệc bất lai,
Năng thuyết thị nhân duyên,
Thiện diệt chư hư luận."
(Chương I, Trung Luận).
Ở đây cho thấy
thực tại là duyên khởi, vô ngă. Đây chính là thật pháp, như pháp, là thật tánh,
bất hư vọng tánh, như chủ trương của Hoa Nghiêm qua giáo lư "Pháp giới trùng
trùng Duyên khởi". Không có một sự cao thấp nào giữa Duyên khởi được Thế Tôn
chứng ngộ tŕnh bày dưới mười hai chi phần nhân duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II) và
Duyên khởi của Hoa Nghiêm cả.
Nói về thực tại
như thật, Thế Tôn dạy:
"Này các Tỳ-kheo,
có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió,
không có Hư không vô biên xứ, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ,
không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không
có cả hai mặt trăng, mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có
đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sinh, không có an trú,
không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn diệt khổ đau." (Kinh Phật
Tự Thuyết, Tiểu Bộ Kinh I, bản dịch của H.T. Thích Minh Châu, 1982, tr. 381),
và:
"Này các Tỷ-kheo,
có sự không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ-kheo,
nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở
đây không thể tŕnh bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi
hữu vi. V́ rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị
làm, không hữu vi, nên có sự tŕnh bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị
làm, khỏi hữu vi." (Tiểu Bộ Kinh I, sđd, tr. 382).
Sự kiện Thế Tôn
giác ngộ nói lên rằng vô vi cũng chính là cuộc đời này. Một buổi sáng thanh
tịnh, Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti) đă khéo nhận ra việc mở bày tâm Kim Cang của
Thế Tôn qua các việc đắp y, tŕ bát, vào Xá-vệ thành khất thực, v.v... (Kinh Kim
Cương, phần mở đầu) và đă dâng lời tán thán Thế Tôn: "Thiện hộ niệm, thiện phó
chúc chư Bồ-tát."
Câu kệ Pháp Cú số
279 viết: "Hết thảy các pháp là vô ngă" (Sabbe dhammà anattà). Thế có nghĩa là
hữu vi và vô vi đều vô ngă, hay hữu vi cũng chính là vô vi ở mặt tự thể, hay ở
mặt chân nghĩa của Duyên khởi. Đây là ư nghĩa mà Kinh Kim Cang bảo: "Nhứt thiết
pháp giai thị Phật pháp"; Hoa Nghiêm nói: "Nhứt thiết chư Pháp vô phi Phật pháp"
và các tư tưởng Bắc tạng thường đề cập: "Phiền năo tức Bồ-đề", hay "Sinh tử tức
Niết-bàn", hoặc "Thiết lập nhân gian Tịnh độ".
Tại đây, chúng ta
có thể ổn định kết luận rằng Duyên khởi là giáo lư nền tảng nhất của Phật
giáo. Dù Duyên khởi được nh́n dưới quan điểm của bộ phái nào, dù được
tŕnh bày dưới định thức tổng quát "Cái này có, cái kia có..." hay dưới mười hai
chi phần nhân duyên nó vẫn chuyên chở đầy đủ ư nghĩa thậm thâm nhất. Cho rằng
Duyên khởi là giáo lư thuộc Duyên giác thừa hay Tiểu thừa chỉ là một thiên chấp
hay là một ngộ nhận đáng tiếc.
7.
Không thể xem Duyên khởi, Vô ngă như là giáo lư được Thế Tôn phương tiện thuyết
để đối trị chấp ngă, cái nhân khổ đau. Thực sự khổ đau là do vô minh, không hiểu
rơ tính duyên khởi, vô ngă của các pháp. Đoạn tận khổ đau đồng nghĩa với giác
ngộ Duyên sinh, Vô ngă ấy.
8.
Bàn đến Duyên sinh, nhà học giả Nhật Bản Kimura Taiken trong cuốn "Đại thừa Phật
Giáo Tư Tưởng Luận (bản dịch của TT. Thích Quảng Độ, Tu thư Vạn Hạnh, 1969) nhận
định:
"Vấn đề Duyên
sinh tuy có thể diễn tả theo nhiều cách, song điểm phát xuất của nó vẫn không
ngoài Tâm, nếu ĺa Tâm th́ ra lư Duyên sinh sẽ vô căn cứ. Bởi thế nói một cách
rốt ráo th́ Tâm là nguồn gốc của Duyên sinh quan. Cho nên, cái gọi là pháp, là
Duyên sinh rốt cuộc cũng không ngoài cái Tâm tướng biến hiện của ta. Đó là điểm
căn bản độc nhất của Phật giáo, Tiểu thừa cũng như Đại thừa. Điều phục lấy Tâm
đă trở nên một phương châm tu dưỡng quyết định trong Phật giáo. Do đó, khi nói
đến Duyên khởi, tất nhiên ta phải đề cập đến Tâm, v́ giữa hai điểm ấy có một mối
quan hệ rất mật thiết và nếu ta muốn hiểu rơ dụng ư căn bản của Phật giáo, ta
không thể quên điểm hệ trọng đó." (tr. 28).
Công tŕnh nghiên
cứu tư tưởng Phật học qua các bộ phái của Kimura Taiken là một công tŕnh giá
trị, nhưng qua đoạn phát biểu nầy về Duyên sinh của tác giả, chúng ta cảm nhận
ngay có ǵ bất ổn trong đó, nghe hơi thiếu vẻ Duyên sinh.
Tác giả xem Tâm
là gốc của Duyên sinh, trong khi thực tế chính Tâm là do Duyên sinh, là Duyên
sinh. Ngay cả từ nguồn gốc, tự thân nó đă là không phù hợp với
Duyên sinh. Tâm trong Phật giáo (hay đấy là thọ, tưởng, hành và thức uẩn) là vô
thường, biến diệt, nó c̣n phi thật hơn cả vật chất (sắc uẩn), Tâm này cũng là
Duyên sinh, vô ngă.
Tu, điều phục
Tâm, là đi đến giải thoát và tri kiến giải thoát: ở đây, th́ phi tâm phi vật, nó
là chân như, vô ngă.
9.
Cái thắc mắc lớn nhất về giáo lư Duyên Sinh, Vô ngă của người học Phật vẫn là:
khó mà quan niệm được một pháp giới hoàn toàn vô ngă. Làm sao mà có thể tồn tại,
nếu là vô ngă? Ai sinh tử, luân hồi? Ai tu? Ai chứng?... như chính thắc mắc của
Moliya Phagguna, Kassapa và Timbura (như đă đề cập), như âu lo của Kimura Taiken
(phải có tâm là gốc th́ Duyên khởi mới đứng vững) và như chính Tôn giả A-nan,
trong Thủ Lăng Nghiêm, đă sửng sốt khi nghe Thế Tôn dạy chân tâm là vô ngă.
Gốc của thắc mắc
ấy là tập khí tham ái, chấp thủ của chúng sinh do nhiều kiếp ngă trôi lăn trong
sinh tử.
Theo Phật giáo,
gốc của sinh tử là vô minh. Vô minh là nhận lầm thực tại vốn không có "ngă"
thành có "ngă". Sinh tử chính là sự nhận lầm có cái "ngă" ấy. Thực sự, không có
"ngă" trong sinh tử, luân hồi.
Tu là lộ tŕnh đi
khỏi sinh tử, luân hồi; có nghĩa là đi ra khỏi sự trói buộc đầy sương mù của sự
chấp có ngă, là đoạn trừ cái ngă ấy. Đoạn trừ cái chấp ngă là đoạn trừ hết thảy
vọng tưởng.
Chứng, hay chứng
ngộ, là đoạn trừ hoàn toàn chấp thủ ngă tướng, chấp có ngă, để chứng đắc thực
tại không có tự ngă.
V́ thế, các câu
hỏi: Ai tu? Ai chứng? v.v... là những câu hỏi đầy vọng niệm, trái với lư Duyên
khởi như Thế Tôn đă dạy.
10.
Thực tại vô ngă th́ không trống rỗng. Chỉ có thế giới ngă tướng là trống rỗng.
Không phải v́ ngă tướng mà thế giới tồn tại, mà thực sự nhờ vô ngă, thế giới mới
sinh khởi và tồn tại. Chúng ta thử đi vào quán sát một hiện tượng sau đây:
-- V́ carbon (C)
và sắt (Fe) là vô tự tính nên mới có hợp chất của gang và thép. V́ hydro và oxy,
v.v... là vô tự tính nên mới có tổng hợp của nước, mới có các phản ứng hóa học.
-- V́ hư không là
vô ngă tính nên mới vừa tối, vừa sáng, có nắng, có mưa, có bốn mùa vận hành. Nếu
hư không có ngă tính th́ chỉ có hoặc tối, hoặc sáng, v.v...
-- Nếu con người
có ngă tính th́ sẽ hoặc dốt, hoặc thông, hoặc khỏe, hoặc bệnh, mà không thể
chuyển đổi từ dốt sang thông, từ bệnh sang vô bệnh, từ buồn sang vui, từ thất
vọng qua hy vọng, từ ghét hận thành yêu thương...
-- V́ các hiện
tượng xă hội vô ngă tính nên mới có thể cải tạo, chấn hưng.
-- V́ sự vật và
nhận thức là vô ngă tính nên mới có sáng tạo, gốc của văn hóa và văn minh.
-- V́ vô ngă nên
mới có hiện tượng thần túc thông: có ngh́n chư Thiên có thân khổng lồ ở đầu mũi
kim mà không vướng nhau.
-- V́ vô ngă nên
các pháp dung nhiếp nhau, mới có lư sự và sự sự vô ngại, v.v...
Nói tóm, v́ vô
ngă tính mà các tính được thành lập.
11.
Khi thấy rơ vô ngă tính của các pháp th́ tham ái và chấp thủ sẽ tan dần đến hủy
diệt, khổ năo sẽ tiêu đi, và giải thoát đến. Bấy giờ thực tại Duyên sinh trở về
chính nó. Nó là như thế, măi măi như thế. Kinh Pháp Hoa gọi đây là "Thế gian
tướng thường trú". Nó không bị nhân quả hay bị duyên sinh. Nhân quả và duyên
sinh là chính nó. Đây là tánh "Không" của Bát nhă, tánh "Như thị" của Pháp Hoa,
và là tánh "Diệu hữu" của Hoa Nghiêm, Niết-bàn.
12.
Dù Duyên khởi được hiểu theo bất cứ quan điểm của bộ phái nào, Niết-bàn (hay
giải thoát toàn triệt) cũng đồng nghĩa với ái diệt, thủ diệt, thức diệt hay vô
minh diệt. Đây là quả vị giải thoát sau cùng, gọi là A-nậu-đa-la
Tam-miệu-tam-bồ-đề (Anuttara Sammasambodhi). Có lẽ đây là lư do mà Thế Tôn tŕnh
bày Duyên khởi dưới dạng thức mười hai chi phần nhân duyên. Và đây cũng là ư
nghĩa mà người viết nầy chọn mười hai nhân duyên là dạng thức ổn định của Duyên
khởi để khảo sát, để tránh khỏi những bối rối có thể có, khi đi vào một số chủ
trương Duyên khởi khác nhau qua các thời kỳ phát triển Phật giáo.
Thích Chơn Thiện
Trích "Phật Học
Khái Luận", Sài G̣n 1993
Duyên khởi
Thuyết Duyên khởi (zh.
縁起,
sa. pratītyasamutpāda, pi. paṭiccasamuppāda,
bo. rten cing `brel bar `byung ba
རྟེན་ཅིང་འབྲེལ་བར་འབྱུང་བ་),
cũng được gọi là Nhân duyên sinh (zh.
因縁生),
và v́ bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác là Thập nhị nhân duyên
(zh. 十二因縁,
sa. dvādaśanidāna, dvādaśāṅgapratītyasamutpāda,
bo. rten `brel yan lag bcu gnyis
རྟེན་འབྲེལ་ཡན་ལག་བཅུ་གཉིས་),
là một trong những giáo lí quan trọng nhất của
đạo Phật.
Thuyết này chỉ rơ là mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm
trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là
kết quả của một yếu tố khác, làm thành một ṿng với mười hai yếu tố. Các yếu tố
này làm
loài hữu t́nh
cứ măi vướng mắc trong
Luân hồi
(sa., pi. saṃsāra).
Giáo lí duyên khởi được ghi lại trong kinh như sau (Chân Nguyên dịch Pāli-Việt):
Imasmiṃ
sati, idaṃ
hoti; imass`uppādā, idaṃ
uppajjati; imasmiṃ
asati, idaṃ
na hoti; imassa nirodhā, idaṃ
nirujjhati.
(MN II.32, SN II. 28)
Nếu cái này tồn tại th́ cái kia h́nh thành. Cái này phát sinh th́ cái kia phát
sinh. Cái này không tồn tại th́ cái kia không h́nh thành. Cái này diệt th́ cái
kia diệt.
Duyên khởi và
Vô ngă
(zh. 無我,
sa. anātman, pi. anattā) là hai giáo lí làm rường cột cho tất cả
các tông phái Phật giáo. Các nhân duyên (nguyên nhân chính và điều kiện phụ) này
gồm có 12 yếu tố.
Thập nhị nhân duyên
Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:
-
Vô minh
(zh. 無明,
sa. avidyā, pi. avijjā), sự không thấu hiểu
Tứ diệu đế,
không hiểu
Khổ
là tính chất căn bản của đời sống;
-
Vô
minh sinh Hành (zh.
行,
sa. saṃskāra,
pi. saṅkhāra),
hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có
thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ư;
-
Hành sinh Thức (zh.
識,
sa. vijñāna, pi. viññāṇa),
làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn
cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định;
-
Thức sinh Danh sắc (zh.
名色,
sa., pi. nāmarūpa), là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do
Ngũ uẩn (sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha) tạo thành;
-
Danh sắc sinh Lục căn (zh.
六根,
sa.
ṣaḍāyatana,
pi. saḷāyatana),
là các
giác quan,
sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu);
-
Lục
căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (zh.
觸,
sa. sparśa, pi. phassa);
-
Xúc
sinh Thụ (zh.
受,
sa., pi. vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên
ngoài;
-
Thụ
sinh Ái (zh.
愛,
sa. tṛṣṇā,
pi. taṇhā),
tham ái, ḷng ham muốn xuất phát từ vô minh;
-
Ái
sinh Thủ (zh.
取,
sa., pi. upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm lấy cho ḿnh;
-
Thủ
dẫn đến Hữu (zh.
有,
sa., pi. bhava), là toàn bộ những ǵ ta gọi là tồn tại, sự sống, thế
giới;
-
Hữu
dẫn đến Sinh (zh.
生,
sa., pi. jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi;
-
Sinh sinh ra Lăo tử (zh.
老死,
sa., pi. jarāmaraṇa),
v́ có Sinh nên có hoại diệt.
Kinh nghiệm
giác ngộ
lí duyên khởi bao gồm Mười hai nhân duyên của Phật được ghi lại trong
Luật tạng
(sa., pi. vinayapiṭaka),
phần Đại phẩm (pi. mahāvagga) như sau (Chân Nguyên dịch
Pāli-Việt):
Nguyên văn tiếng Pāli:
Tena samayena buddho bhagavā uruvelāyaṃ
viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho.
atha kho bhagavā bodhirukkhamūle sattāhaṃ
eka-pallaṃkena
nisīdhi vimutti-sukha-paṭisaṃvedī.
atha kho bhagavā rattiyā paṭhamaṃ
yāmaṃ
paṭiccasamuppādaṃ
anulomapaṭilomaṃ
manas' ākāsi: avijjāpaccayā saṃkhārā,
saṃkhārapaccayā
viññāṇaṃ,
viññāṇapaccayā
nāmarūpaṃ,
nāmarūpaccayā saḷāyatanaṃ,
saḷāyatanapaccayā
phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā,
taṇhāpaccayā
upādānaṃ,
upādanapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ
soka-parideva-dukkha-domanass-upāyāsā sambhavanti. evam etassa kevalassa
dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
avijjāya tv eva asesa-virāga-nirodhā saṃkhāranirodho,
saṃkhāranirodhā
viññāṇanirodho,
viññāṇanirodhā
nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho,
saḷāyatana-nirodhā
phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho,
taṇhānirodhā
upādānanirodho, upādananirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho,
jātinirodhā jarāmaraṇaṃ
soka-paridevadukkha-domanass-upāyāsā nirujjhanti. evam etassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hotīti.
atha kho bhagavā etam atthaṃ
viditvā tāyaṃ
velāyaṃ
imaṃ
udānaṃ
udānesi: yadā have pātubhavanti dhammā ātāpino jhāyato brāhmaṇassa,
ath`assa kaṃkhā
vapayanti sabbā yato pajānāti sahetu-dhamman`ti"
Dịch nghĩa:
Thời nọ, Phật Thế Tôn an trú tại
Ưu-lâu-tần loa
(zh. 優樓頻螺,
sa. uruvilvā, pi. uruvelā), bên bờ sông Ni-liên-thiền (zh.
尼連禪,
sa. nairañjanā, pi. nerañjarā, nirañjarā) dưới gốc một
cây bồ-đề,
lần đầu tiên đạt chính đẳng giác (sa., pi. abhisambuddha). Phật Thế Tôn
ngồi chân tréo kết già bảy ngày dưới gốc cây bồ-đề, thưởng thức sự an lạc của
giải thoát.
Vào canh thứ nhất, Phật quán chiếu trong thâm tâm nguyên lí duyên khởi hướng
xuôi chiều (sa., pi. anuloma) và ngược chiều (sa. pratiloma, pi.
paṭiloma):
Từ vô minh mà các hành phát sinh, từ các hành mà thức phát sinh, từ thức danh
sắc, từ danh sắc là sáu giác quan (cùng với sáu đối tượng của chúng), từ sáu
giác quan sinh ra xúc, từ xúc sinh ra thụ, từ thụ tham ái, từ tham ái ra thủ, từ
thủ ra hữu, từ hữu ra sinh, từ sinh ra lăo tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh, tuyệt
vọng. Sự h́nh thành của nguyên khối khổ này là như thế.
Qua sự chấm dứt và tiêu diệt của vô minh mà các hành chấm dứt, qua sự chấm dứt
của hành mà thức chấm dứt, qua sự chấm dứt của thức mà danh sắc chấm dứt, qua sự
chấm dứt của danh sắc mà sáu giác quan chấm dứt, qua sự chấm dứt của sáu giác
quan mà sự chạm xúc chấm dứt, qua sự chấm dứt của sự chạm xúc mà thụ chấm dứt,
qua sự chấm dứt của thụ mà tham ái chấm dứt, qua sự chấm dứt của tham ái mà thủ
chấm dứt, qua sự chấm dứt của thủ mà hữu chấm dứt, qua sự chấm dứt của hữu mà
sinh chấm dứt, qua sự chấm dứt của sinh mà lăo tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh,
tuyệt vọng chấm dứt. Sự chấm dứt của nguyên khối khổ này là như vậy.
Lúc ấy, sau khi nhận thức rơ điều này, Thế Tôn thốt lên một cách cảm kích: "Thật
như thế, khi các pháp hiện rơ cho một người tinh tiến, một hiền nhân đang quán
chiếu th́ tất cả những nghi hoặc của ông ta tan biến, bởi v́ ông ta đă nhận thức
được Pháp với nguyên nhân của nó (pi. hetu)."
Phân tích
Người ta có thể nh́n Mười hai nhân duyên dưới nhiều cách phân tích khác nhau.
Cách phân tích thông thường có tính thời gian là: yếu tố 1-2 thuộc về đời sống
trước đây, yếu tố 3-7 là điều kiện và nguyên nhân sinh thành của đời sống sau
này, yếu tố 8-10 là kết quả trong đời sống này, yếu tố 11-12 chỉ đời sống tương
lai.
Mười hai nhân duyên chỉ rơ tính chất liên hệ lẫn nhau của ḍng chảy "Tâm",
"Vật" của thế giới hiện tượng, trong đó những khái niệm quan trọng nhất là "Ta",
"Người", "Sinh
vật".
Nếu thuyết vô ngă chỉ rơ thế giới và con người do các yếu tố giả hợp kết thành
với nhau, thật chất là trống rỗng, th́ thuyết nhân duyên có tính chất tổng hợp
các yếu tố đó, chỉ ra rằng mọi hiện tượng thân tâm đều bắt nguồn từ những hiện
tượng khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó có thể nh́n dưới khía cạnh đồng thời
hoặc có thứ tự thời gian.
Thuyết Mười hai nhân duyên được các trường phái Phật giáo giải thích khác nhau.
Tiểu thừa
cho rằng thuyết này đă giải thích nguyên nhân của khổ và tất cả mọi pháp
hữu vi
(sa. saṃskṛta)
đều có nguyên nhân và điều kiện mới sinh ra nên chúng vô ngă - không có một
tự tính nào. Như thế thuyết Mười hai nhân duyên nhằm dẫn đến quan điểm vô
ngă.
Trong
Đại thừa,
Mười hai nhân duyên được sử dụng để chứng minh sự không thật của sự vật và đặc
biệt trong
Trung quán tông
(sa. mādhyamika), Mười hai nhân duyên được định nghĩa là
tính Không.
Kinh Bát-nhă ba-la-mật-đa
nhấn mạnh rằng Mười hai nhân duyên không nên hiểu theo thứ tự thời gian. Thuyết
này nói lên sự liên hệ của vạn vật một cách tổng quát.
Vô ngă
Vô ngă
(無我,
sa. anātman, pi. anattā), là một trong Ba tính chất (sa. trilakṣaṇa)
của sự vật. Quan điểm vô ngă là giáo pháp cơ bản của
đạo Phật,
cho rằng, không có một
Ngă
(sa. ātman, pi. attā), một cái ǵ trường tồn, bất biến, nhất quán,
tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngă, cái "tôi"
cũng chỉ là một tập hợp của
Ngũ uẩn
(sa. pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, mất mát và, v́ vậy, "tôi" chỉ là
một sự giả hợp, gắn liền với cái
Khổ.
Kinh
văn
Quan
điểm này đặc biệt được nhấn mạnh trong "Kinh nói về những đặc tướng của Vô ngă"
(pi. anattālakkhaṇasutta,
Saṃyutta
Nikāya 22.59, bản dịch của Thích Minh Châu):
1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Iśpatana (Chư Tiên đọa xứ),
vườn Lộc Uyển.
2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỉ-khâu: "Này các Tỉ-khâu".
- "Thưa vâng bạch Th𓍷 Tôn". Các Tỉ-khâu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như
sau:
3) Sắc, này các Tỉ-khâu, là vô ngă. Này các Tỉ-khâu, nếu sắc là ngă, thời sắc
không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của
tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Và này các Tỉ-khâu, v́ sắc là vô ngă. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không
thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi
chẳng phải như thế này!"
5) Thọ, này các Tỉ-khâu, là vô ngă. Này các Tỉ-khâu, nếu thọ là ngă, thời thọ
không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi
như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
6) Và này các Tỉ-khâu, v́ thọ là vô ngă. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không
thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi
chẳng phải như thế này!"
7) Tưởng là vô ngă...
8) Các hành là vô ngă, này các Tỉ-khâu, nếu các hành là ngă, thời các hành không
thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: "Mong rằng các hành của
tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"
9) Và này các Tỉ-khâu, v́ các hành là vô ngă. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn,
và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong
rằng các hành của tôi không phải như thế này!"
10) Thức là vô ngă, này các Tỉ-khâu, nếu thức là ngă, thời thức không thể đi đến
bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này!
Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
11) Và này các Tỉ-khâu, v́ thức là vô ngă. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và
không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức
của tôi chẳng phải như thế này!"
12) Này các Tỉ-khâu, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Th#7871; Tôn!
- Cái ǵ vô thường là khổ; hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái ǵ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lư chăng khi quán cái ấy là:
"Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi?"
- Thưa không, bạch Thế Tôôn.
13-15) Thọ... Tưởng... Các hành...
16) Thức là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Th#7871; Tôn.
- Cái ǵ vô thường là khổ; hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái ǵ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lư chăng khi quán cái ấy là:
"Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi?"
- Thưa không, bạch Thế Tôôn.
17) Do vậy, này các Tỉ-khâu, phàm sắc ǵ quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội
hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật
quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải
là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi."
18) Phàm thọ ǵ...
19) Phàm tưởng ǵ...
20) Phàm các hành ǵ...
21) Phàm thức ǵ quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế,
liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ
như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không
phải tự ngă của tôi."
22) Thấy vậy, này các Tỉ-khâu, bậc Đa văn Thánh đệ tử yếm li đối với sắc, yếm li
đối với thọ, yếm li đối với tưởng, yếm li đối với các hành, yếm li đối với thức.
Do yếm li, vị ấy li tham. Do li tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí
khởi lên: "Ta đă được giải thoát". Vị ấy biết rơ: "Sanh đă tận, Phạm hạnh đă
thành, những việc nên làm đă làm, không c̣n trở lui trạng thái này nữa."
23) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỉ-khâu hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn
dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỉ-khâu được giải
thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Phân
tích Ngă và Vô ngă
Cơ bản
th́ vô ngă là một kết luận lô-gíc từ tính chất
vô thường
của vạn vật. Không thể có một "cá nhân" trường tồn bởi v́ ngũ uẩn không có một
thật thể và tính đồng nhất. Nên lưu ư ở đây là sự vắng mặt của một ngă - như
được thuyết trong bài kinh bên trên - chỉ giới hạn trong phạm vi của ngũ uẩn.
Phật không nói không có ngă, mà chỉ nói ngă không thể được t́m thấy trong ngũ
uẩn.
Thế
nhưng, ai cũng có thể nhận biết một khái niệm nhất định về một cái Ngă qua bài
kinh trên. Cái ngă được thiết thuyết ở đây là trường tồn, an lạc, không biến
đổi và có quyền thực hiện, kiểm soát tất cả những ǵ sở hữu. Chính cái ngă
này được thiết thuyết bởi những trào lưu, những người t́m đạo thời Phật c̣n tại
thế. Phần lớn họ cho rằng, sự tái sinh được quyết định bởi
Nghiệp
mà chúng sinh đă tạo trong các kiếp trước.
Từ đó họ kết luận rằng con người phải tu khổ hạnh tránh tạo nghiệp, khống chế
nghiệp lực, hoặc nhận thức được là cốt lơi của chúng sinh, tức chân ngă hoàn
toàn không liên quan đến các nghiệp và v́ vậy trường tồn bất biến.
Quả như
vậy, có nhiều người tu khổ hạnh t́m cách khống chế một phần nào đó, hoặc hoàn
toàn tất cả những hoạt động thân tâm - trường hợp nổi danh nhất có lẽ là năm vị
đệ tử đầu tiên của đức Phật. Điểm quan trọng ở đây là sự kiện những trào lưu
thừa nhận sự nhận thức chân ngă như điều kiện tiên quyết để đạt giải
thoát, bởi v́ nó giúp chúng ta hiểu và xác định vị trí của bài kinh bên trên một
cách chính xác hơn. Kiến giải chấp vào một ngă phần lớn được t́m thấy trong các
Áo nghĩa thư (sa. upaniṣad)
cũng như các bài kinh Vệ-đà (sa. veda).
Chúng
ta chứng kiến rơ ràng là trước hết bài kinh chỉ trích một phương pháp t́m đạo
giải thoát của ngoại đạo và sự thật là kiến giải chấp ngă thỉnh thoảng được gán
vào các trào lưu ngoại đạo một cách minh xác lại càng chứng minh lập trường này
hơn. Kinh thường kể về những nhà tu khổ hạnh,
Bà-la-môn
với kiến giải cho rằng, những điều dễ chịu trong thế gian là trường tồn, an lạc,
là tự ngă siêu thoát mọi tật bệnh và hoàn toàn tịch tĩnh. Theo giáo lí của đức
Phật th́ các vị này phạm một lỗi nặng bởi v́ qua kiến giải này, người ta chỉ làm
tăng trưởng tham ái mà thôi. Mẩu chuyện thú vị bên dưới cũng được ghi lại
(Dīghanikāya 9, 34f, bản dịch của H. von Glasenapp):
Một vài người tu khổ hạnh và Bà-La-Môn cho rằng: "Tự ngă sau khi chết hoàn toàn
an lạc, siêu thoát mọi khổ ải." Ta liền hỏi họ: "Các ông có khi nào thấy một thế
giới hoàn toàn an lạc hoặc một tự ngă nào đó hoàn toàn an lạc dù chỉ một ngày
hoặc một đêm?" Họ phủ nhận cả hai trường hợp. Như vậy nào có khác trường hợp anh
chàng nọ quả quyết "Tôi yêu cô gái đẹp nhất nước" và nếu một người nào đó hỏi
"Anh có quen thiếu nữ đẹp nhất nước, anh có biết cô ấy tên ǵ, thuộc gịng tộc
nào, thấp bé, nước da trắng, đen và cư ngụ ở đâu?" Và anh ta phải trả lời tất cả
những câu hỏi đó với 'không biết'. Vậy không phải những ǵ anh ta nói đều là
những lời nói rỗng tuếch vô nghĩa hay sao?
Như vậy
th́ điểm tinh yếu trong giáo lí đức Phật không xoay quanh vấn đề nhận thức hay
không nhận thức được chân ngă. Kiến giải cho rằng, chân ngă không tương quan đến
những hoạt động thân tâm không giúp đỡ ǵ trên con đường đạt giải thoát. Ngược
lại, người ta nên xả bỏ những kiến giải, những vấn đề liên hệ đến tự ngă, liên
hệ đến bản chất của ngă. Và chỉ sau đó, chúng ta mới có thể tự xem là đă trang
bị đầy đủ để theo con đường Phật dạy. Nh́n theo phương diện thực tế này th́ câu
hỏi ngă có thật sự tồn tại hay không chỉ là một vấn đề bên lề. Sự kiện chính ở
đây chỉ là việc ngă kiến không đóng một vai tṛ tích cực trên con đường tu tập
Phật dạy. Tuy nhiên, trong ánh sáng của sự kiện tự ngă chính v́ thế mà được xem
là trường tồn, bất biến, và chỉ sự nhận thức được một tự ngă như thế mới đạt
giải thoát th́ chúng ta có lí do để tin rằng, Phật không thừa nhận sự tồn
tại của một ngă như thế.
Thuyết
Vô ngă trong Thượng Toạ bộ
Câu hỏi
giáo lí vô ngă thật sự là ǵ và có đúng là giáo lí của đức Phật lịch sử hay
không đă gây nhiều cuộc tranh luận dài dẳng trong giới Phật học. Như đă tŕnh
bày trong phần vừa qua, câu hỏi này không thể được giải đáp một cách rơ ràng từ
những nguồn tài liệu.
Thượng Toạ bộ
(sa. sthaviravādin, pi. theravādin) và
Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ
diễn giảng những lời dạy của Phật bằng một cách mà, qua đó, họ quả quyết là
không có một tự ngă nào, như chúng ta có thể dễ dàng t́m thấy trong các tác
phẩm của họ.
Từ
attā (thân danh từ attan) trong
tiếng Pali
là một đại từ phản thân chính quy (regular reflexive pronoun), được dịch
thành "nơi chính người ấy", "chính tôi" tuỳ trường hợp. Nếu attā là một
thật danh từ (substantive) th́ cũng không phải lúc nào dịch là "ngă" cũng
đúng, mà thỉnh thoảng chính xác hơn nếu ta sử dụng từ "bản chất", hay "nội tại
[của người ấy]". Để diễn tả một "cá nhân" th́ Thượng Toạ bộ dùng chữ Pali
puggala (bổ-đặc-già-la
補特伽羅,
sa. pudgala), trong ngôn ngữ hằng ngày ta cũng có thể hiểu đây là chủ thể
của các hoạt động tâm lí cũng như thân thể. Hai chữ khác thường gặp là satta
(chúng sinh, sa. sattva) hoặc từ ghép nāmarūpa (danh sắc), trong
trường hợp này đặc biệt chỉ một "cá nhân được hợp thành".
Thượng
Toạ bộ cũng t́m cách tiếp cận vấn đề vô ngă, nhưng lại không hoàn toàn sa lạc
vào phương pháp thuần lí luận như
Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ.
Họ cũng không t́m cách giải quyết những ǵ đức Phật lịch sử để lại không giải
thích. Tuy nhiên, họ vẫn muốn kiến lập một toà nhà tư tưởng tiền hậu nhất trí,
tổng hợp và giải thích những vấn đề triết học và thuộc về những vấn đề triết học
này – điều dĩ nhiên – là vô ngă, một vấn đề par excellence được ghi lại
trong nhiều bộ kinh.
A-t́-đạt-ma
bảy phần của Thượng Toạ bộ được h́nh thành trên chính cơ sở này.
Sự tái
sinh không có một tự ngă được đức Phật giải thích qua thuyết
Duyên khởi
với mười hai nhân duyên hệ thuộc. Các vị Cao tăng Thượng Toạ bộ phát triển từ cơ
sở này một thế giới quan mang tính chất năng động tương quan. Tất cả những ǵ
hiện hữu, kể cả con người, đều là một tiến tŕnh được h́nh thành bởi những tính
chất đặc thù, được gọi là
Pháp
(hoặc đạt-ma, pi. dhamma, sa. dharma), H.W. Schumann tóm tắt như
sau (Buddhismus, tr. 118.):
Các pháp được kiến tạo bởi những pháp khác, kết hợp với những pháp hiện hành để
trở thành những kết hợp khác h́nh thành thế giới hiện hữu, để rồi sau đó huỷ
hoại, trở thành nhân duyên cho những pháp khác, nhường chỗ cho những pháp khác
xuất hiện. Chúng không phải là những đặc tính của một thật chất, mà phối hợp
không cần một chủ thể để trở thành những hiện tượng "con người" và "thế giới".
Các pháp tương tự như một giai điệu âm nhạc. Không một âm nào có thể tồn tại lâu
hơn một phần giây, một khoảnh khắc người ta có thể nghe được nó, nhưng chính qua
đó mà những đơn âm này có thể tiếp nối nhau để tạo thành một giai điệu. Hiện
thật chỉ nằm trong thế giới hiện tượng được tạo bởi chư pháp. Không có sự tồn
tại, chỉ có sự lưu chuyển.
Người
ta phân biệt hai tiến tŕnh của chư pháp, bên trong và bên ngoài. Tiến tŕnh bên
trong giải thích những hiện tượng xảy ra nội tâm, sự thăng trầm của tâm thức
chúng ta và sự biến chuyển liên tục của các mối tư duy. V́ Phật định nghĩa "thế
giới" chính là những ǵ được phản ánh trong tâm thức cho nên tiến tŕnh bên
trong này của Thượng Toạ bộ cũng giải thích hiện tượng "thế giới chủ quan". Tuỳ
theo sự xuất hiện của chư pháp và sự kết hợp của chư pháp trong tâm thức mà h́nh
tượng của thế giới bên ngoài biến chuyển.
Tiến
tŕnh bên ngoài tạo cơ sở lí thuyết cho sự tái sinh không một chủ thể. Một tiến
tŕnh được khởi động bằng nghiệp và h́nh thành một "cá nhân" nhất định tuỳ theo
chất lượng của chính nghiệp này. Mặc dù các biểu thị như "khổ", "nghiệp" và
"giải thoát" được quy về một chủ thể, nhưng theo Thượng Toạ bộ th́ chủ thể này
chỉ là một cái ǵ đó mang tính chất kinh nghiệm, một khối tổng hợp tạm thời của
chư pháp, không có một thật thể nào.
Đại
luận sư Phật Âm (pi. buddhaghosa) viết như sau trong bộ luận
Thanh tịnh đạo
(Bản dịch của Nyānatiloka, Der Weg zur Reinheit, tr. 597, 719-720):
Chỉ có khổ, nhưng chẳng có người chịu khổ,
Có nghiệp, nhưng chẳng có người tạo nghiệp
Có giải thoát, nhưng không có người đạt giải thoát
Đường đi th́ có, nhưng chẳng thấy người đi (Vism 16, 19II S. 513)
✧✧✧
Không t́m được người tạo nghiệp
Chẳng có chúng sinh chịu nghiệp quả
Chỉ có những vật trống không
Ai nhận thức được như vậy là người có trí. (Vism 19, 20II S. 602)
Thượng
Toạ bộ liệt kê 82 pháp khác nhau và quan trọng ở đây là sự phân loại chư pháp
thành hữu vi (pi. saṅkhata)
và vô vi (pi. asaṅkhata).
Các pháp hữu vi chính là những nhân tố h́nh thành cuộc sống, thế giới và khổ
ách. Pháp vô vi duy nhất là
Niết-bàn.
Như đặc tính "vô vi" cho thấy, pháp này không được tạo bởi nghiệp lực mà tồn tại
thường hằng.
Như vậy
th́ theo Thượng Toạ bộ, thế giới chung quy được h́nh thành bởi chư pháp. Chỉ chư
pháp mới là hiện thật. Thượng Toạ bộ nhấn mạnh vai tṛ của ngôn ngữ trong thế
giới chúng ta. Tỉ-khâu Na-tiên nói với vua Di-lan-đà: "Xe" chỉ là một biểu thị,
một cách gọi, một tên được sử dụng khi các yếu tố quy tụ, và trường hợp "cá
nhân" cũng tương tự như vậy (Frauwallner: Geschichte der Buddhistischen
Philosophie, tr. 69-70).
Nhưng
qua đó th́ một vấn đề khác lại xuất hiện: Sự thừa nhận chư pháp mang một thật
thể, một ngă. Tuy nhiên, giữa lập trường chấp pháp ngă này và chấp ngă của
Bà-la-môn giáo có một điểm tương phản rất lớn, được V. Zotz ghi lại rất chính
xác (Die Geschichte der buddhistischen Philosophie, S. 73.):
"Việc phản bác một thật thể chủ quan dẫn đến trường hợp thừa nhận hiện thật của
các pháp khách quan. Để chứng minh 'con người' không có một ngă, một
bổ-đặc-già-la th́ chư pháp lại mang những đặc tính của một ngă. Nhưng, v́ đây
không phải là một nguyên tắc mà chỉ là một mạng lưới nhân duyên sinh khởi, cho
nên, không một pháp nào trở thành cái tuyệt đối, như trường hợp Ātman trong Ấn
Độ giáo."
Bổ-đặc-già-la của Độc Tử bộ
Độc Tử
bộ được khai sáng bởi một cao tăng tên Độc Tử (sa. vātsīputra) thuộc
Thượng Toạ bộ. Trước khi hoà nhập tăng-già, vị này theo giáo lí Bà-la-môn. Tài
liệu của trường phái này đă bị huỷ gần hết, chỉ c̣n bốn tác phẩm đă được dịch
sang Hán văn trong
Đại Chính Tân Tu Đại Tạng kinh.
Ngoài ra, người ta có thể t́m thấy lập trường của Độc Tử bộ trong các bộ luận
của các trường phái khác.
Đối
nghịch quan điểm của các trường phái Phật giáo khác, Độc Tử bộ thừa nhận một
bổ-đặc-già-la, một "cá nhân" và cá nhân này là chủ thể của sự tồn tại, sự chuyển
biến và sự tịch diệt.
Ba đặc
tướng của bổ-đặc-già-la
Theo
Tam-di-để bộ luận th́ ba đặc tướng xác định một bổ-đặc-già-la như sau:
1.
Bổ-đặc-già-la được xác định qua cơ sở (sa. āśrayaprajñaptapudgala).
T32n1649_p0466b03║問曰。云何依說
T32n1649_p0466b04║答如佛所說。語跋婆耶言。是是行所依說。是
T32n1649_p0466b05║是其名安
T32n1649_p0466b06║是名依說如火譬。如佛語舍利弗。有人名象
T32n1649_p0466b07║白淨可愛。四大所成是名我。如是一切亦如
T32n1649_p0466b08║乳譬。如是依修多羅等所說。是名依說
Hỏi: Thế nào là "được xác định qua cơ sở?" Đáp: Tương tự như Phật thuyết. Ngài
nói với Bạt-bà-da (跋婆耶,
sa. pāpaka): "Trên cơ sở của các hành (行,
ở đây chỉ những pháp hữu vi chung chung, không phải là hành trong nhóm ngũ uẩn)
này các hành nọ mà người ta gọi là 'được xác định qua cơ sở'. Cá nhân được xác
định qua cơ sở giống như lửa vậy". Và Phật bảo Xá-lợi-phất (舍利弗,
sa. śāriputra) như sau: "Có một người tên Tượng, thanh tịnh khả ái, được
h́nh thành bởi tứ đại và được gọi là một 'ngă'. Và tất cả những trường hợp khác
đều như vậy. Hăy lấy ví dụ của sữa." Kinh văn đều thuyết giải như thế, và đó
chính là "được xác định qua cơ sở".
Cơ sở
đây chính là ngũ uẩn. Bổ-đặc-già-la này hơn là sự tổng hợp của ngũ uẩn và là
nhân tố chính phối hợp đời sống của một cá nhân. Nói cách khác: Bổ-đặc-già-la
chính là nhân vật nắm giữ một thân thể, ǵn giữ nó một khoảng thời gian nhất
định để rồi tiếp nhận một thân thể khác sau khi chết. Bổ-đặc-già-la tương tự một
người mang nhiều quần áo khác nhau. Mối tương quan đặc thù giữa ngũ uẩn và
bổ-đặc-già-la được gọi là tương tục thống nhất thể của một cá nhân và tương tục
thống nhất thểnày là một cái ǵ đó độc lập không hệ thuộc. Nếu có một tương tục
thống nhất thể th́ phải có người chủ của sự tương tục này. Bổ-đặc-già-la chính
là người sống một thời gian, là người vui mừng hoặc âu lo về nghiệp quả của
ḿnh. Bổ-đặc-già-la là cơ sở của trí nhớ, của tâm thức v.v...
2.
Bổ-đặc-già-la được xác định qua sự chuyển đổi (sa. saṃkramaprajñaptapudgala).
T32n1649_p0466b27║問曰。云何度說人
T32n1649_p0466b28║答曰。以是時度異有是時。佛說度眾生。云何
T32n1649_p0466b29║度說眾生。過去說未來說現在說
。。。。
T32n1649_p0466c15║。。。佛依三世行制三說。如是
T32n1649_p0466c16║應知
T32n1649_p0466c17║以是行度說是名度說
Hỏi: Thế nào là "một người được xác định qua sự chuyển đổi (độ
度,
sa. saṃkrama)?"
Đáp: Vào thời điểm bước từ cuộc sống này sang một cách hiện hữu khác th́ Phật
gọi là một chúng sinh trên cơ sở chuyển đổi. V́ sao nói đến "một chúng sinh được
xác định qua sự chuyển đổi?" V́ sự xác định của quá khứ, vị lai và hiện tại.
Nên biết rằng, Phật nương vào chư hành trong tam thế mà lập ba xác định. Đó là
cách xác định chư hành qua sự chuyển đổi và cách xác định [bổ-đặc-già-la] qua sự
chuyển đổi.
Bổ-đặc-già-la được xác định qua sự chuyển đổi là một cách gọi tương ưng với ba
chi phần khác: Quá khứ, vị lai và hiện tại. Sự kiện này chứng minh việc tương
tục thống nhất thể không những lưu chuyển trong hiện tại, mà có nguồn gốc từ dĩ
văng và sẽ tiếp tục lưu chuyển trong tương lai. Hơn nữa, đây cũng là cách giải
thích của Độc Tử bộ về "người tiếp nhận quả báo", mối tương quan giữa người tạo
nghiệp và người thụ nhận.
3.
Bổ-đặc-già-la được xác định qua sự diệt độ (sa. nirodhaprajñaptapudgala).
T32n1649_p0466c18║云何滅說。答逐依說人度說人
T32n1649_p0466c19║佛說滅說人。如過去身壞時。是名滅說。
T32n1649_p0466c20║如是
T32n1649_p0466c21║如佛所說。漏盡比丘五陰無常滅。是名滅說。
T32n1649_p0466c22║如佛說偈言
T32n1649_p0466c23║
智者莫能測得至無動樂
T32n1649_p0466c24║是名滅說。
Hỏi: Thế nào là "được xác định qua sự diệt độ (滅,
sa. nirodha)?" Đáp: Sau khi nói về sự xác định qua cơ sở và sự xác định
qua chuyển đổi, Phật nói về một cá nhân được xác định bởi sự diệt độ. V́ thân
thể quá khứ bị huỷ diệt nên gọi là được xác định bởi sự diệt độ. Phật nói: "Nơi
Tỉ-khâu đă tận diệt được các lậu hoặc (漏,
sa. āsrava) th́ ngũ ấm vô thường huỷ diệt". Phật nói trong một kệ-đà:
"Chiều sâu của một trí giả khó mà lường được, v́ ông ta đă đến nơi an lạc bất
động". Đó là cách xác định [một bổ-đặc-già-la] qua sự diệt độ.
Mục
đích ở đây là đề cao sự kiện Phật hoặc một
A-la-hán,
sau khi đạt vô dư y
Niết-bàn
là hiện thân của một người đạt giải thoát, lưu trú trong an lạc.
Theo
Độc Tử bộ th́ có năm nhân tố có thể nhận thức được (sa. jñeya) mà trong
đó, ba nhân tố đầu là ba loại pháp hữu vi, là các pháp ta có thể t́m thấy trong
quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhân tố thứ tư là một pháp vô vi, là Niết-bàn. Nhân
tố thứ năm là cái "bất khả thuyết" (sa. avaktavya), chính là
bổ-đặc-già-la, chẳng thuộc vào pháp vô vi, mà cũng chẳng thuộc vào pháp hữu vi.
Bổ-đặc-già-la không khác nhưng cũng không giống
ngũ uẩn.
Bổ-đặc-già-la không thể là ngũ uẩn, v́ nếu như vậy, y phải xuất hiện và huỷ diệt
cùng với ngũ uẩn. Bổ-đặc-già-la cũng không khác ngũ uẩn, bởi v́ nếu khác, y có
thể tồn tại bên ngoài ngũ uẩn, và trường tồn, không mang một đặc tính nào, giống
như hư không, không có khả năng hoạt động.
Ngoài
ra, Độc Tử bộ c̣n đề xướng 15 thuyết mà trong đó, hai điểm rất quan trọng quy về
thuyết vô ngă: 1. Có một thật thể bất hoại và 2. Chỉ có một cái tuyệt đối, là
Niết-bàn.
Giáo lí
của Độc Tử bộ có thể xem là phản ứng trực tiếp đối đầu thuyết đạt-ma của Thượng
Toạ bộ, đặc biệt là các học giả chuyên theo
A-t́-đạt-ma.
Độc Tử bộ t́m cách giải quyết vấn đề Phật lưu lại hiển nhiên khi nói đến thuyết
vô ngă: Một mặt nói về sự tái sinh và giải thoát của một chúng sinh có vẻ như
chúng sinh này tồn tại một cách cụ thể và mặt khác nói đến thuyết nhân duyên
sinh và vô ngă mà v́ thế, chúng sinh ấy không thể tồn tại. Độc Tử bộ biện luận
rằng, nếu có tái sinh và giải thoát th́ tất nhiên có một chủ thể tái sinh và đạt
giải thoát.
Song
song với vấn đề phải suy nghĩ như "làm mà không có người làm" cũng có một vấn đề
thực tế khác: Tại sao một người nào đó phải trau dồi kiến thức, tuân thủ giới
luật và thực hành thiền định nếu không phải chính ông ta thâu nhận những kết quả
ấy? Đối với Độc Tử bộ th́ luật nhân quả chỉ có ư nghĩa khi có một chủ thể tiếp
nhận quả báo của chính ḿnh làm, tốt cũng như xấu.
Kết
luận
Giáo lí
của Thượng Toạ bộ và Độc Tử bộ đều có ưu và nhược điểm. Khuyết điểm lớn của
Thượng Toạ bộ là họ quá đề cao vai tṛ của các pháp. Qua đó, các pháp đều có vẻ
như mang một tự tính, có một tự ngă. Mặt khác, các vị luận sư trong Độc Tử bộ -
mặc dù giáo lí của họ không "đúng" hoặc "sai" hơn so với thuyết đạt-ma của
Thượng Toạ bộ - chẳng góp thêm phần nào đáng kể cho quá tŕnh tu chứng trong
lịch sử đạo Phật.
Câu hỏi
phảng phất ở đây là Phật có từ khước một cách tổng quát một ngă hay không chưa
được giải đáp và có lẽ không bao giờ được giải đáp một cách minh xác. Tuy nhiên,
chúng ta có thể thấy rất rơ ở đây là con đường tu chứng Phật dạy có thể được
thực hiện mà không cần chấp hoặc thiết thuyết một tự ngă.
Nhưng
một câu hỏi khác có thể được đặt ngay nơi này, khi chúng ta phải xác nhận là hầu
như tất cả những trường phái nhà Phật đều bác bỏ một niềm tin vào một ngă: Cái
lợi ích thực tiễn, cụ thể của giáo lí 'vô ngă' là ǵ?
Nếu
xoay ngược những luận cứ phản bác một ngă, tŕnh bày chúng một cách khả quan th́
điều chúng ta có thể xác nhận được ngay là khổ giảm dần. Bởi v́, những sự
cố gắng rong ruổi t́m nắm bắt một cái ǵ đó chỉ tồn tại một cách hư cấu sẽ tan
biến, tương tự như trường hợp một người nào đó bám chặt vào thân thể, h́nh dung
của ḿnh ở tuổi hai mươi và bây giờ cưỡng cự lại quá tŕnh lăo hoá. Ước nguyện
trường tồn tan biến, nhường chỗ cho một tâm thức tỉnh giác đối với cái hiện
tại xuất hiện. Đặc biệt là những bài luận ra đời sau này nhấn mạnh đến điểm
trên: Hễ "cái ta" của một người nào đó - một cái "ta" trước đây đều quy tụ tất
cả về chính nó - tan biến dần th́ người ấy càng tự nhận biết rơ ràng hơn được
những ǵ hiện tại đang là. Từ cơ sở giới luật của Đại thừa sau này mà khả
năng hành động lợi tha, vô ngă của một bậc Bồ Tát được phát triển, được dung hàm
trong Bồ Tát hạnh nguyện: Sự nhận thức t́nh huống một cách chân chính đi song
song với một tâm thức hồn nhiên tự do, bởi v́, cái khoảng cách giữa "ta" và
người - vốn được vun bồi vô ư thức trước đây - đă giảm dần hoặc tan biến hoàn
toàn.
Nếu
chúng ta cho sự phản bác một ngă - nói theo thuật ngữ Đại thừa - là một phương
tiện thiện xảo (zh.
方便善巧,
sa. upāyakauśalya) th́ có thể hiểu được phần nào đoạn văn sau trong
Thức thân túc luận (zh.
識身足論,
sa. vijñānakāyaśāstra, Conze, Buddhistisches Denken, tr. 180):
Dù bổ-đặc-già-la của các ông có tồn tại đi nữa, hắn cũng chẳng góp phần ǵ cho
sự việc hướng thượng, chẳng đưa đến an lạc, chẳng hỗ trợ Phật pháp mà cũng chẳng
giúp đỡ một cuộc sống Phạm hạnh, chẳng đưa đến trí huệ siêu việt và cũng chẳng
dẫn đến giải thoát, niết-bàn. V́ bổ-đặc-già-la vô dụng nên không có một
bổ-đặc-già-la nào cả!
V́ lí do trên nên thuyết bổ-đặc-già-la bị tất cả những trường phái Phật giáo
khác phản bác và thuyết Vô ngă vẫn là tông chỉ của đạo Phật cho đến ngày nay.
|