PHẬT GIÁO
VÀ TRIẾT HỌC TRUYỀN
THỐNG TRUNG QUỐC
Lai Vĩnh Hải
– Thích Đồng Thọ chuyển ngữ
"Phật
giáo và triết học truyền thống Trung Quốc" là một đề mục lớn, bài
viết này không có ư thảo luận toàn diện các vấn đề tương quan giữa
Phật giáo và triết học truyền thống Trung Quốc mà chỉ chọn ra một
vài vấn đề mang tính cơ bản nhất để tiến hành thảo luận sâu hơn,
đồng thời mong được sự chỉ giáo của các bậc cao minh.
Thứ
nhất: Sự ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo đối với nền triết học
truyền thống Trung Quốc là hướng tư duy bản thể luận của Phật giáo.
Liên quan
vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đối với triết học truyền thống Trung
Quốc, giới học giả trước đây đă nói khá nhiều, có thể nói, những
nghiên cứu này rất có ích trong việc giúp người ta nhận biết sự
tương quan giữa Phật giáo và triết học truyền thống Trung Quốc. Thế
nhưng, vài năm lại đây khi tiếp xúc vấn đề này người viết luôn có
một cảm giác, tức là những thảo luận của giới học giả trước đây về
vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đối với triết học truyền thống Trung
Quốc thường để mắt đến một vài vấn đề cụ thể như một vài tư tưởng
gia thời cổ đại của Trung Quốc có cách nói nào đă chịu sự ảnh hưởng
của Phật giáo, thuật ngữ nào có nguồn góc từ Phật giáo, hoặc nhà nho
nào đó từng "ra vào cửa Phật Lăo" mấy mươi năm chẳng hạn. Không thể
phủ nhận, cách nghiên cứu này có tính hợp lư riêng của nó, v́ bất cứ
nghiên cứu nào cũng bắt đầu từ một vấn đề cụ thể. Nhưng, chính như
bất cứ nghiên cứu nào cũng đều có sự thâm nhập, có quá tŕnh không
ngừng phát triển, th́ cũng vậy việc t́m hiểu mối tương quan giữa
Phật giáo và triết học truyền thống Trung Quốc không nên cứ dừng lại
ở một vài hiện tượng bên ngoài mà nên trong khi làm rơ cơ sở của các
hiện tượng này, nên tiến thêm một bước t́m hiểu cái sâu hơn, cơ căn
bản hơn của nó... người viết cho rằng, một trong những điều càng sâu
hơn cơ bản hơn đó chính là vấn đề đường lối tư duy.
Phật giáo,
đặc biệt là đường lối tư duy của Đại thừa Phật giáo, là bản thể luận,
là bản thể luận lấy chân như thực tướng làm bản thể. Điểm này các
nhà học thuật không có ư khác. Thực vậy, trong thời ḱ mới bắt đầu,
Phật Thích Ca từng đối với các vấn đề hư huyền, trừu tượng, có thủy
có chung, giới hạn không giới hạn cho đến bản thể đều không hứng thú,
luôn chọn thái độ tránh mà không trả lời. Nhưng trong quá tŕnh phát
triển của Phật giáo trước đây, do chịu ảnh hưởng của truyền thống
văn hóa, truyền thống tư duy của Ấn Độ, thuyết "Đại Phạm Bản Thể"
từng bị Phật giáo nguyên thủy đẫy ra khỏi cửa trước th́ sau đó lại
lẳng lặng đi vào từ cửa sau. Chẳng hạn như, đến hậu ḱ Phật giáo
Tiểu thừa, v́ để khắc phục sự mâu thuẩn giữa nghiệp báo luân hồi và
không có nghiệp báo luân hồi, liền xuất hiện thuyết "Bổ-đặc-già-la".
Thuyết Bổ-đặc-già-la này làm chủ thể luân hồi báo ứng, trước sau
tương tục, trên thực tế đă là một kiểu thực thể biến tướng. Thực thể
này tuy không phải là bản thể trên mặt ư nghĩa khắt khe nhưng cũng
đă thai nghén cho h́nh thức ban sơ của bản thể. Về sau theo sự ra
đời của Đại thừa Phật giáo học thuyết Bát-nhă trong lúc quán xét tất
cả tướng, đă bàn đến các pháp "Thật tướng", lấy "Thật tướng" làm bản
nguyên của nhất thiết pháp, "Thực tướng" trong giai đoạn này, trên
thực tế đă khoác lên một trang phục "Bản thể" Phật giáo. Phật giáo
đại thừa thêm một bước phát triển, đă xuất hiện lư luận Phật tính.
Lư luận Phật tánh lại trên cơ sở thực tướng của Bát Nhă để bàn " Như
Lai tàng" " Phật tánh ngă"." Phật tánh ngă" " Như Lai tàng" trong
Phật giáo Ấn Độ đă có đủ ư nghĩa "bản thể Phật" và "bản thể các pháp",
ví dụ như, đại thừa Phật giáo khi giải thích chữ Như Lai, tức là "
thừa như thực đạo lai thành chánh giác, lai hóa quần sanh" chữ Như
này rơ ràng là để chỉ bản thể của chư Phật và chúng sanh; trên thực
tế kinh luận của đại thừa đối với "Chân Như" là bản thể của các pháp
có rất nhiều luận thuyết rất rơ ràng. Chẳng hạn như, "Duy thức luận"
chép: "Chân là chân thật rơ ràng không hư vọng; như là thường như,
biểu hiện không biến đổi. Nói chân thực này đối với hết thảy các
pháp, tánh nó thường như, nên nói chân như." ("Duy thức luận"quyển
2) điều này nói thể tánh của các pháp ĺa hư vọng mà chân thật cho
nên nói là chơn thường trụ mà không biến đổi nên gọi là như, nói rơ
hơn chính là nói bản thể chân thực bất biến; "Văng sanh luận chú"
cũng nói: "Chân như là chánh thể của các pháp" ("văng sanh luận"
quyển hạ) Ngoài ra, pháp tánh, giới tánh, Như lai tàng tự tánh thanh
tịnh tâm mà trong Phật giáo đại thừa nói thực ra đều là tên gọi khác
của bản thể mà thôi. Như, "Duy thức thuật kư" có nói:"Tánh là nghĩa
của thể tánh, thể tánh của hết thảy các pháp gọi là pháp tánh ("Duy
thức thuật kư" quyển hai), "Đại thừa nghĩa chương" cũng nói: "Thể
tánh của pháp gọi là pháp tánh" ("Đại thừa nghĩa chương" quyển một).
Tóm lại, cái gọi là Chân Như, Thật Tướng, Phật Tánh, Pháp giới, Pháp
tánh, Như Lai tàng tự tánh thanh tịnh tâm... mà Phật giáo đại thừa
nói để chỉ bản nguyên của nhất thiết các pháp cho đến Phật và chúng
sanh, cho dù trong kinh dùng khá nhiều từ như "tức hữu tức vô", "phi
hữu phi vô", "siêu tướng tuyệt ngôn", "vong ngôn tuyệt lự"... để
h́nh dung diễn đạt th́ hầu như không hề bài trừ nó là bản thể. Toàn
bộ Phật giáo đại thừa đếu được kiến lập trên cơ sở bản thể vừa trừu
tượng vừa vô sở vô tại.
Thế th́
lối tư duy triết học truyền thống Trung Quốc có đặc điểm ǵ? Đầu
tiên nên chỉ ra, triết học truyền thống Trung Quốc nói ở đây, chủ
yếu là chỉ học thuyết Nho gia tức là triết học của Nho học... ở đây
không hề có ư bỏ Đạo gia, Đạo giáo cho đến các trường phái học thuật
khác ra khỏi tư tưởng học thuật truyền thống Trung Quốc, chỉ v́ do
Nho học từ trước đến nay được xem là chủ lưu của tư tưởng học thuật
truyền thống Trung Quốc, nên chọn nó làm đại diện mà thôi. Trọng tâm
của học thuyết Nho gia là ở nơi con người, là một loại học thuyết
liên quan đến con người, hoặc nói" Triết học luân lư". Là một loại
"triết học luân lư", đối tượng chính để bàn luận của Nho học là mối
quan hệ giữa con người với con người, đạo đức tu dưỡng của con
người, vấn đề cảnh giới tu dưỡng đạo dức của con người. Đối với
những vấn đề này Nho học truyền thống vẫn tiến hành trên cơ sở tư
tưởng "Thiên nhân hợp nhất", tức là cũng cho rằng con người nhờ vào
sự tu dưỡng tâm tính, hoàn thiện nhân cách, cuối cùng đạt đến cảnh
giới cùng với Thiên hợp nhất. Chính v́ vậy mà giới học thuật của
Trung Quốc có rất nhiều học giả cứ cho rằng đường lối tư duy cơ bản
của Nho gia là "Thiên nhân hợp nhất", người viết đối với cánh nh́n
nhận này có thái độ nửa khẳng định nửa phủ định, lư do là: trước
hết, "Thiên nhân hợp nhất" đúng là hướng tư duy cơ bản của Nho học
truyền thống. Nho học truyền thống nói ở đây chủ yếu là chỉ từ Khổng
Mạnh đến học thuyết Nho gia trước Lư học Tống Minh.
Đặc điểm
lớn nhất của tư tưởng Khổng Tử, hoặc nói, cống hiến lớn nhất của học
thuyết Khổng Tử là phát hiện ra "con người", trong lịch sử tư tưởng
Trung Quốc đă thực hiện cuộc chuyển biến từ " trời" hướng đến
"người". Thế nhưng do v́ ở một mức độ nào đó văn hóa từ xa xưa của
Trung Quốc là một loại văn hóa tôn giáo. Quan điểm "Thiên thần" làm
tư tưởng thống trị Tam đại Hạ, Châu, Thương, là sự kế thừa và phát
triển tôn giáo nguyên thủy của dân tộc du mục viến cổ. Quan điểm
"Thiên thần" này tuy qua các cuộc xung đột tư tưởng "Oán trời",
"Chửi trời" của thời Xuân Thu mà dần dần có sự dao động, nhưng trên
lịch sử nhân loại sự tích tụ tư tưởng mấy ngàn năm thậm chí mấy vạn
năm, không thể một sớm một chiều hay một nhà tư tưởng khác có thể dễ
dàng rửa sạch hết được. Do đó, Khổng Tử tuy là đề xướng và mang tư
tưởng đương thời nhắm vào từ "Trời" hướng đến "Người", nhưng Khổng
Tử không và không thể hoàn toàn bỏ đi hoặc đánh đổ "Trời" . Không
chỉ Khổng Tử, mà nhiều nhà tư tưởng sau Khổng Tử cũng không hoàn
toàn bỏ được cái vỏ bọc "Trời" này, ở mức độ nào đó đều từ nơi chữ
Trời vừa "không tiếng không mùi, lại chí cao vô thượng" để mang ra
bàn luận tham khảo các vấn đề, đặc biệt là vấn đề của con người...
Cho dù do thời đại bất đồng hoặc gọi là Thiên Mạng, hoặc gọi là
Thiên Đạo nhưng cốt lơi vẫn ở chỗ "Cứu Thiên Nhân chi tế" (Cố t́m ra
ranh giới giữa "trời" và "người"), t́m cách làm sao "Thuận hồ thiên
nhi ứng hồ nhơn" (Thuận với trời mà không trái với người). Nói một
cách khác ở một mức độ nào đó truyền thống Nho gia khi bàn về vấn đề
mối tương quan giữa "Trời" và "Người" đều dựa vào cái khung cơ bản
"Thiên nhân hợp nhất" này để nói Đạo đức, viết văn chương, chính v́
thế mà người viết tán đồng với ư kiến cho rằng hướng tư duy cơ bản
truyền thống của Nho gia là luận thuyết "Thiên nhân hợp nhất" như
một số học giả đă nói. Nhưng, đây chỉ là môt mặt của vấn đề. Mặt c̣n
lại của vấn đề là, trên hướng tư duy của học thuyết Nho gia, từ sau
thời tân Nho gia Tống Minh, đă phát sinh sự chuyền biến rất lớn. Tân
Nho gia thời Tống Minh, tuy trên mặt tổng thể, vẫn được xem là một
kiểu chính trị, luận lư triết học, nhưng hướng tư duy được chính trị
và lư luận triết học ấy dựa vào đă không c̣n là lối tư duy truyền
thống "Thiên nhân hợp nhât" nữa, mà trên mức độ nào đó đă y cứ theo
lối tư duy bản thể luận, điểm này chúng ta có thể lấy từ những cái
mà tự thân tân Nho gia Tống Minh đạt được để làm rơ.
Đối với
việc kiến lập nền triết học lư luận trong lịch sử triết học Trung
Quốc, có thể nói Trương Tải làm một tư tưởng quan trọng đáng nhắc
đến. Nói như vậy hoàn toàn không v́ Trương Tải là một nhà Duy vật
chủ nghĩa, quan trọng hơn là ở chỗ, "Nguyên khí bản thể luận" mà ông
ta kiến lập đă là một tấm bia kiên cố trong lịch sử triết học cổ đại
Trung Quốc. Cố nhiên, vào thời ḱ đầu nhà Ngụy, Tấn Vương Bật và Hà
Yên đă từng tiếp xúc với bản thể luận ở mức độ không giống nhau,
nhưng khách quan mà nói th́ bản thể luận của Huyền học thời Ngụy,
Tấn chỉ là h́nh thức đầu (vă lại, nói Huyền học Ngụy Tấn th́ bản
thân cũng đă chịu ảnh hưởng của Phật giáo). Nếu như nói, bản thể
luận cổ đại của Trung Quốc thể hiện rơ ràng, tư tưởng nhất quán, lư
luận hệ thống th́ đầu tiên phải nói đến Trương Tải. Bản thể luận của
Trương Tải tuyệt không hề giống như kiểu Vương Bật, chỉ dừng lại nơi
một câu "Dĩ vô vi bổn", tư tưởng "Thái hư vô h́nh, khí chi bản thể"
(Không gian vô h́nh, không khí là bản thể của nó) ("Chánh mộng -
Thái Ḥa") của ông đă quán triệt hết các học thuyết của ông, đặc
biệt là lư luận "Thiên địa chi tánh", "Khí chất chi tánh" của ông,
thuyết "Càn khôn phụ mẫu", "Dân bào vật dữ" càng thể hiện Bản thể
luận của ông cụ thể mà có hệ thống hơn.
Ngoài
Trương Tải ra, trong Tống Nho c̣n có các đại Nho gia như Nhị Tŕnh,
Châu Tử, Lục Cửu Uyên, phương pháp tư duy đều mang rơ đặc điểm Bản
thể luận. Chẳng hạn như, thuyết "Thể dụng nhất nguyên, hiển vi vô
gián" ("Dịch Truyện Tựa") của Nhị Tŕnh, thuyết "Thánh nhân dữ thiên
địa đồng thể" ("Trung dung chương cú") của Châu Tử, thuyết "Vũ trụ
tiện thị ngô tâm, ngô tâm tiện thị vũ trụ" ("Tạp thuyết") của Lục
cửu Uyên đều là một kiểu tư duy bản thể luận hoặc là một kiểu chính
trị, luận lư triết học dựa vào bản thể luận. Cho dù các nhà lư học
này trong lúc tuyên truyền chính trị, tư tưởng triết học của ḿnh đă
vận dụng rất nhiều phạm trù, như "Thiên đạo", "Thiên lư", "Tâm tính"
v.v... nhưng "Thiên đao", "Thiên lư" lúc bấy giờ không c̣n "Thiên"
mà truyền thống Nho gia dùng để thiết lập chính trị xă hội, đạo đức
lập pháp nữa mà là kiểu triết học, phạm trù luân lư mang đậm màu sắc
bản thể luận.
Nếu như
nói, trên mối quan hệ "Thiên", "Thiên đạo", và "Nhân tánh", "Tâm
tánh" chủ yếu là từ cái khung "Thiên nhân hợp nhât" mang ra để bàn
"thiên" và làm thế nào để lập pháp "nhân", "nhân tánh" có góc ở
"thiên đạo" như thế nào, con người nên "tu tâm dưỡng tánh" thế nào
để hợp với "thiên dạo". Thế th́ lối tư duy của "Tân Nho học" bèn có
khuynh hướng thể hiện ở "thiên nhân bổn vô nhị, cánh bất tất ngôn
hợp" (Trời người vốn không hai, đâu cần nói hợp một), cũng tức là
"thiên đạo", "tâm tánh" vốn nhất thể, đều là "lư" (hay "tâm"), với
trời th́ nói "thiên lư" với người th́ nói "tâm tánh". Sự khác biệt
trên mặt tư duy của Thiên và Nhân đó là, một là luận điểm "Thiên
nhân hợp nhất", một là "Bản thể luận". Chỗ đứng của luận điểm "thiên
nhân hợp nhất" là "Đạo chi đại nguyên xuất ư thiên", "Nhân đạo" là
phái sanh từ "thiên đạo"; tư tưởng cơ sở của Bản thể luận là
"thiên", "nhân" vốn nhất thể, không kể là "thiên đạo" hay "tâm
tánh", đều là làm "lư" (Tŕnh châu nhất hệ) của bản thể hoặc là thể
hiện của "tâm" (Lục vương nhất hệ), không có vấn đề ai sanh ra ai,
ai phái sanh ra ai. Tuy từ tổng thể mà nói Lư học Tống Minh không
hoàn toàn bỏ đi "Thiên", nhưng "Thiên lư" lúc bấy giờ đă không hoàn
toàn giống với thuyết "Thiên đạo" làm chủ tể của vạn vật và lập pháp
của đạo đức nhân luân của truyền thống Nho học. Nếu từ góc độ phát
triển của lư luận tư duy nhân loại mà nói th́ cái trước gần với "Bản
nguyên luận" hoặc "Vũ trụ sanh thành luận", cái sau th́ thuộc vào
phạm trù "Bản thể luận" mà triết học hiện đại đề cập
Nho gia
phát triển đến thời Vương Dương Minh đời nhà Minh, lại bước thêm một
giai đoạn mới, hoặc nói bước vào một kiểu cảnh giới mới. Đặc điểm
nổi bật của học thuyết họ Vương chính là đem "tâm", "tánh", "lư" và
ngay cả thiên địa vạn vật dung hợp làm nhất thể, mà chữ "thể" này,
lấy cách nói của Vương Dương Minh tức là "lương tri". "Lương tri" là
tên khác của bản thể. Đây là điều mà Vương Dương Minh trong tác phẩm
của ông nhiều lần nhắc đến, như "Lương tri giả, tâm chi bản thể"
(Lương tri là bản thể của tâm)("Đáp lục tỉnh nguyên thư"), "Giá tâm
chi bản thể, nguyên chỉ thị cá lư"(Bản thể của tâm ấy vốn là chỉ cho
cái thiên lư này) ("Truyền tập luc" quyển thượng), "Lương tri tức vị
phát chi trung, tức thị khoách nhiên đại công, tịch nhiên bất động
chi bản thể" (Lương tri tức là bản thể khi chưa thể hiện ra ngoài,
rộng lớn bao trùm, vắng lặng bất động) ("Truyền tập lục")... . Bản
thể mà Vương Dương Minh nói ở đây rất gần với hàm ư "bản thể" của
triết học hiện đại đề cập, chỉ khác ở chỗ, bản thể trong học thuyết
của họ Vương không chỉ là bổn nguyên của vũ trụ vạn vật mà c̣n là
căn bản luân lư đạo đức của con người. Sự sâu sắc tỉ mỉ của học
thuyết họ Vương trong một mức độ nào đó đă bám rễ vào lư luận bản
thể của ông ta
Nếu nói cơ
sở của Tân Nho học Tống Minh, triết học của Luân lư học chủ yếu là
một kiểu tư duy "bản thể luận", hoặc giả ít nhất cũng có thể nói là
khuynh hướng có mang âm hưởng "bản thể luận", thế th́, vấn đề hiện
tại là, kiểu tư duy "bản thể luận" này đă được h́nh thành như thế
nào?.....Nếu một lời có thể bao trùm hết th́ có thể nói lối tư duy
Bản thể luận này ở một mức độ nhất định là kết quả của sự ảnh hưởng
lư luận Phật giáo Tùy Đường. Như đă nói phần trước, Phật giáo chú
trọng bản thể trừu tượng, kiểu bản thể lư luận trừu tượng này vào
thời ḱ sơ khai của Phật giáo, do có sự sai khác với cách dùng thuật
ngữ và phương pháp tư duy truyền thống của Trung Quốc, rất khó được
văn nhân học giả Trung Quốc thời xưa trực tiếp tiếp nhận. Đến đời
Tùy Đường, chịu sự ảnh hưởng của văn hóa tư duy truyền thống của
Trung Quốc, Phật giáo Đông truyền trên nội dung tư duy và cách dùng
thuật ngữ đă có sự biến hóa rất lớn, trong đó nỗi bật nhất là dùng
"nhân tánh", "tâm tánh" truyền thống Trung Quốc để nói Phật tánh.
Nhưng Phật giáo khi nói "nhân tánh", "tâm tánh" không hoàn toàn bỏ
đi lối tư duy vốn có của nó, tức là phương pháp bản thể luận vốn có
của Phật giáo, mà dùng phương pháp bản thể luận để nói "nhân tánh",
"tâm tánh", điều này đă xuất hiện một loại hiện tượng, tức lư luận
Phật tánh thời Tùy Đường đă biến thành một loại lư luận "nhân tánh",
hay lư luận "tâm tánh", nhưng loại "nhân tánh", "tâm tánh" này lại
không giống với "nhân tánh", "tâm tánh" của truyền thống Trung Quốc,
mà chỉ là một loại "nhân tánh", "tâm tánh" mang tính bản thể hóa;
thêm vào đó, thời ḱ Tùy Đường đặc biệt là đời Lư Đường Nhất trên
mặt tư tưởng văn hóa đă dùng chính sách mở cửa, đối với ba tôn giáo
Nho, Thích, Đạo có thái độ dung nạp, điều này tạo điều kiện cho các
hệ tư tưởng văn hóa rất có lợi trong việc ḥa nhập và cùng hấp thụ
nhau để sáng tạo. Phật giáo thời ḱ này không cho rằng hấp thụ tư
tưởng Nho gia, Đạo giáo là điều không hay, Nho gia lại không hoàn
toàn thả lỏng việc công kích Phật giáo vào Đạo giáo, thế nhưng ngầm
ngầm hay thậm chí công khai đă hấp thụ rất nhiều tư tưởng của Phật
giáo, mà điều cơ bản và chủ yếu nhất mà Nho gia cải Phật thành Nho
nhưng người thường không dễ thấy được đó là tự giác hoặc không tự
giác hấp thụ lối tư duy bản thể luận của Phật giáo. Kết quả của sự
không ngừng dung nhiếp lối tư duy bản thể Phật giáo này cuối cùng
khiến cho Nho học Tống Minh sản vật của Tam giáo hợp nhất đă đỗi lư
luận "thiên nhân hợp nhất" của Nho gia truyền thống, thay vào đó là
lối tuy duy bản thể luận.
Thứ
hai: Sự ảnh hưởng lớn nhất của triết học truyền thống đối với Phật
giáo Trung Quốc là nội dung tư tưởng tâm tánh và nhân tánh.
Nếu nói
trên phương diện tư duy triết học truyền thống đă có được nhiều điều
bổ ích từ Phật giáo, từ đó khiến cho tŕnh độ tư biện của tự thân nó
có một bước tiến bộ rất lớn, thế th́, để "hồi đáp" lại, trên mặt nội
dung tư tưởng của triết học truyền thống Trung Quốc cũng đă cho Phật
giáo một sự ảnh hưởng rất lớn.
Ở một mức
độ nhất định tư tưởng lư luận của Phật giáo truyền thống lấy Phật
làm căn bản, giáo lư Phật giáo ân cần hướng dẫn con người không
ngoài mục đích là muốn con người rơ được hết thảy các pháp (trong đó
bao gồm con người) thế gian cho đến xuất đều là sự thể hiện của
Phật, Phật tánh, điều mà con người cần làm đó là nương theo lời Phật
dạy tinh tấn tu hành tiến đến thấy rơ Phật tánh, thành Bồ-tát và làm
Phật. Điểm này thể hiện rơ nhất ở Phật giáo Đại thừa.
Phật giáo
Đại thừa lấy việc thành Bồ-tát làm Phật là mục đích sau cùng, nhân
đó mà lư luận Phật tánh trước sau đều là nội dung cốt lơi của Phật
giáo đại thừa. Lư luận Phật tánh được đề cập, nói đơn giản hơn,
chính là tư tưởng, học thuyết hay lư luận có liên quan đến vấn đề
Phật tánh, các đối tượng nghiên cứu như thế nào là Phật? Bản thể của
Phật là ǵ? Chúng sanh có Phật tánh hay không? Có thể làm Phật được
không? Nếu làm Phật được th́ lấy ǵ để căn cứ? Rồi, nên tu hành làm
sao mới có thể làm Phật? v.v..... Như ở trước chúng ta đă chỉ ra, do
Phật giáo Đại thừa đem bản thể hóa Phật tánh xem đó là bản thể của
hết thảy chúng sanh cho đến các pháp, điều đó khiến cho học thuyết
Phật giáo truyền thống càng chú trọng ở bản thể trừu tượng, lấy đó
làm điểm xuất phát và mục tiêu hướng về của toàn bộ Phật học, mà làm
một chúng sanh hư ảo tạm thời đối với bản thể trừu tượng này th́
thật quá dững dưng. Trên mảnh đất vốn xưa nay luôn xem trọng vào đời
sống hiện thực của con người th́ khuynh hướng tư tưởng này của
truyền thống Phật giáo đại thừa mới khởi đầu đă gặp phải phiền toái,
loại phiền toái này trước hết biểu hiện ở sự mâu thuẩn và xung đột
giữa học thuyết Phật giáo và triết học luân lư cổ đại của Trung
Quốc.
Phật giáo
truyền thống xem đời người thành một giả tướng, ảo ảnh chỉ trong
nháy mắt đă mất đi, th́ tự nhiên không mấy xem trọng giá trị của
hiện thực nhân sanh, chẳng màng đến quan hệ nhân luân hiện thực,
ngược lại, học thuyết Nho gia Trung Quốc thời xưa, luôn luôn lấy con
người làm điểm chú ư, lấy con người làm cốt lỏi của toàn bộ học
thuyết. Sự xem trọng hiện thực nhân sanh, chú trọng sự việc của
người trong đời sống hiện thực, cần mẫn không mỏi mệt đối với việc
t́m ṭi bản thể của con người, mối tương giao giữa người và người
của Nho gia, khiến cho trên một mức độ nhất định Nho học truyền
thống được xem là "nhân học", được xem như là một giá trị hiện thực
chú trọng con người, triết học luân lư nghiên cứu bản thể người và
mối tương quan giữa người với người. Loại triết học này ảnh hưởng
rộng răi, lớn mạnh và ăn vào góc rễ đối với một xă hội cổ đại Trung
Quốc, khiến cho các h́nh thái ư thức trong nền lích sử Trung Quốc
đều đă ư thức hay không ư thức hướng đến gần gủi con người, gần gủi
hiện thực. Cho dù một h́nh thái ư thức nào chăng nữa nếu như có ư đồ
không nh́n nhận nhân luân, xa rời hiện thực th́ sự tồn tại và phát
triển của nó sẽ chịu một sự ảnh hưởng nhất định. Chính v́ thế mà
Phật giáo trong một thời gian dài trong lịch sử truyền vào Trung
Quốc, đă phải đi qua một đoạn đường hết sức gian nan.
Phật giáo
trong thời ḱ đầu truyền vào Trung Quốc, đặc biệt là một vài tông
phái Phật giáo và học thuyết trung thực với Phật giáo chính thống,
tuy là nhờ vào sự hoằng dương lớn lao của các tăng nhân đến từ Ấn Độ
và sự cật lực hộ tŕ của một số hoàng đế, quư tộc cho đến nhờ Phật
giáo vốn đủ lư luận tư biện khá vững vàng đă một thời đi mưa về gió,
thế nhưng, trước thời Tùy Đường Phật giáo vẫn chưa thể có được một
trào lưu tư tưởng độc lập trong xă hội, sự truyền bố của Phật giáo
thường chỉ xuất hiện như là phần phụ thuộc của văn hóa Trung Thổ nào
đó mà thôi, cũng giống như thời Hán Ngụy chạy theo phương thuật
Hoàng Lăo đạo và thần tiên, thời Ngụy Tấn chạy theo Huyền học, Nam
Bắc triều chạy theo "thuyết linh hồn bất diêt" v.v... Nhưng đến hai
đời Tùy, Đường, Phật giáo Trung Quốc đă có sự phát triển lớn, Phật
giáo lúc này không giống như Phật giáo của trước đây cần phải nhờ
vào "cây gậy" của văn hóa bản địa, mà đă phát triển thành một tư
trào xă hội độc lập cùng với hai tôn giáo Nho, Đạo làm thành cái
kiềng ba chân. Thế nên đă xuất hiện một cục diện, không ngoài có khả
năng là hai vấn đề: Thứ nhất là người Trung Quốc thích ứng với đạo
Phật, thứ hai, Phật giáo thích ứng với nhân t́nh Trung Quốc. Từ quan
điểm của lịch sử để nh́n th́ điểm thứ hai càng có khả năng thích hợp
với quy luật phát triển của h́nh thái ư thức xă hội. T́nh huống thực
tế vẫn như vậy, Phật giáo lúc bấy giờ, tuy bên ngoài không dựa vào
bất cứ một loại h́nh văn hóa bản địa nào của Trung Quốc, nhưng trên
thực tế tự thân Phật giáo cũng đă tự thân đang từ từ Trung Quốc
hóa... Phật giáo Tùy Đường thông qua sự dung ḥa, hấp thụ các tư
tưởng có liên quan triết học truyền thống Trung Quốc mà đă khiến tự
bản thân Phật giáo đă có nhiều đặc sắc của Trung Quốc, càng thích
hợp nhân t́nh, nhân đó mà càng được người dân Trung Quốc thời ấy
tiếp nhận.
Thế th́,
Trung Quốc hóa Phật giáo thời Tùy Đường chủ yếu biểu hiện ở phương
diện nào? Nếu chỉ cần một lời có thể sáng tỏ th́ đó là tập trung thể
hiện ở Nho học hóa Phật giáo, hay nói thêm một bước là tập trung thể
hiện ở tâm tánh hóa, nhân tánh hóa của học thuyết Phật giáo. Đối với
điều này, những sự thực của lịch sử Phật giáo Trung Quốc đă cho
chúng ta một sự chứng minh đầy sức thuyết phục. Nếu nói bản thể mà
Phật giáo ở thời ḱ trước Tùy Đường đă chú trọng cho đến thuật ngữ
được dùng đến, mang đầy sắc thái Phật giáo, như gọi là Thực tướng,
Chân như, Phật tánh, Pháp giới v.v... Vậy th́ từ sau tḥi Tùy Đường
do chịu ảnh hưởng của triết học luân lư truyền thống Trung Quốc bản
thể này đă được từ từ chuyển sang phương diện tâm tánh, nhân tánh,
từng bước tâm tánh hóa, nhân tánh hóa.
Từ sau
cuộc thống nhất tông phái Phật giáo lần thứ nhất vào thời Tùy Đường,
không ngại bắt đầu nói từ tông phái Thiên Thai. Tuy trên bề mặt tổng
thể mà nói, học thuyết của Thiên Thai tông vẫn c̣n mang đậm sắc thái
cường điệu bản thể trừu tượng của Phật giáo truyền thống, nhưng đi
sâu vào học thuyết cụ thể th́, người ta có thể thấy được rằng rất
nhiều lư luận của Thiên Thai tông đă có khuynh hướng chú trọng vào
"tâm tánh". Ví dụ như, trong các trước tác của người Thiên Thai tông
tuy họ cũng thường dùng thực tướng trung đạo để nói Phật tánh, nhưng
đă dần dần xuất hiện khuynh hướng đem thực tướng các pháp qui về
nhất tâm (một tâm). Như Huệ Tư đă dùng "giác tâm" để giải thích Phật
tánh cho rằng: "Phật gọi là giác, tánh gọi là tâm" ("Đại thừa chỉ
quán pháp môn" quyển hai), Trí Nghĩ càng lộ liễu hơn đă đem "tâm"
làm chỗ quy về của chư pháp, cho rằng: "Tâm là góc của các pháp, tâm
là tổng thể vậy" ("Pháp hoa huyền nghĩa" phần thượng, quyển thứ
nhất) đồng thời lấy "quán tâm nhất nguyên", "phản quán tâm tánh" làm
phương pháp căn bản nhất để tu hành thành Phật; Đệ tử của Trí Nghĩ
là Quán Đănh cũng nói: "Quán tâm nhất niệm, tức là Như Lai bảo tàng
của trung đạo, tri kiến của Phật thường lạc ngă tịnh" ("Quán tâm
luận sớ" quyển ba). Có thể thấy, học thuyết Phật tánh của Thiên Thai
tông đă xuất hiện khuynh hướng chú trọng duy tâm.
Sánh với
Thiên Thai tông, lư luận Phật tánh của Hoa Nghiêm tông càng đậm sắc
thái duy tâm hơn. Vốn dĩ, Hoa Nghiêm tông là lấy Kinh Hoa Nghiêm làm
bổn tông. Một trong những tư tưởng cơ bản nhất của Kinh Hoa Nghiêm
là trên quan điểm truyền thống "Pháp tánh vốn thanh tịnh" tiến đến
nói rơ các pháp cho đến chúng sanh, chư Phật là b́nh đẳng tương tức,
viên dung vô ngại. Thế nhưng, khi người của Hoa Nghiêm tông lấy các
lư luận "Thập huyền vô ngại", "Lục tướng viên dung", "Lư sự vô ngại"
để giải thích Pháp giới duyên khởi liền chú trọng ở việc đem "các
duy tâm hiện cố" (các pháp do tâm biến hiện) để giải thích sự tương
nhập tương tức của vạn sự vạn vật cho đến chúng sanh, chư Phật, chỉ
ra"Tất cả các pháp đều do tâm hiện, tự thể không khác, nên tùy tâm
hồi chuyển, liền được vô ngại" ("Hoa Nghiêm kinh chỉ quy")Họ cho
rằng, hết thảy vạn pháp cho đến chư Phật "Đều ở trong tâm của chúng
sanh, ĺa chúng sanh không có công đức nào khác của Phật" ("Hoa
Nghiêm kinh tham huyền kí"quyển một) "Tâm tâm làm Phật, chẳng một
tâm nào khác Phật tâm (như trên), ĺa ngoài tâm Phật không có chúng
sanh,... Cho nên hết thảy chúng sanh đều ở trong Phật trí" ("Đáp
thuận tông tông tâm yếu pháp môn"). Tóm lại, tâm phật và chúng sanh
là b́nh đẳng nhất thể, tương tức dung thông. Từ tư tưởng này xuất
phát, Hoa Nghiêm tông xem trọng sự việc từ sự mê ngộ của tâm để nói
sự dị đồng của Phật và chúng sanh, chỉ ra rằng "Do mê ngộ không
giống nhau mà có chúng sanh và Phật" ("Đại Hoa Nghiêm kinh lược
sách")
Ở đây cần
nêu ra một vấn đề, tức là trong kinh luận Phật giáo Ấn Độ cũng có
các cách nói "Tâm Phật và chúng sanh là ba thứ không có sự sai
biệt", "tam giới không có pháp sai biệt, chỉ do một cái tâm tạo
nên", tại sao chúng tôi đem các khuynh hướng duy tâm của Thiên Thai
tông và Hoa Nghiêm tông quy kết vào những khuynh hướng chịu sự ảnh
hưởng của triết học luân lư truyền thống Trung Quốc? Mấu chốt ở đây,
chính là làm sao để nh́n nhận nội hàm của chử "Tâm" mà hai bên đề
xướng. Nói thẳng ra là, do Phật giáo Trung Quốc có nguồn góc từ Ấn
Độ, nội dung tư tưởng cho đến ngôn ngữ được sử dụng trong các trước
tác, phần lớn đều theo Phật giáo Ấn Độ. Nhưng khi đă là Phật giáo
Trung Quốc nó đă được thông qua phương pháp tư duy tập quán tâm lư
của tăng nhân Trung Quốc để lư giải và đón nhận nó, điều này khiến
cho cùng một dụng ngữ lại thường có nội hàm ư nghĩa khác nhau. Luận
lư duy tâm của hai tông phái Thiên Thai, Hoa Nghiêm cũng có những
đặc điểm này. Tuy chữ "tâm" mà Hoa Nghiêm và Thiên Thai đề cập có ư
tương đồng với "chân tâm", "thanh tịnh tâm", của bản thể trừu tượng
trong Phật giáo truyền thống, nhưng cũng không thể phủ nhận trên một
mức độ nhất định đă mang sắc thái của văn hóa truyền thống Trung
Quốc, đặc biệt là đặc điểm "tâm tánh" của triết học luân lư Nho gia
mang tính chủ lưu của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Như "tự
giác", "chúng sanh tâm", "nhất niệm tâm" mà Thiên Thai tông nói, tuy
là bao hàm các yếu tố "thực tướng", "chân tâm" - làm bản thể của các
pháp, nhưng trên mức độ nhất định th́ tương đồng với "tâm tánh" của
Nho gia; cho đến Hoa Nghiêm tông thường lập riêng "tâm" ngoài "sự",
"bổn", "mạt", đồng thời thường dùng "các duy tâm hiện", "tùy tâm hồi
chuyển" để nói sự dung thông vô ngại, tương tức tương ấn của các
pháp, chữ "tâm", và "pháp tánh", "chân tâm" đều có sự sai khác. Cũng
là nói chữ "tâm" mà Hoa Nghiêm nói vừa có ư chỉ "chân tâm" vừa có
hàm ư "cụ thể tâm". Tuy về sau Pháp Tạng đă biết đổi " tùy tâm hồi
chuyển thiện thành môn" trong "Thập huyền môn" thành "chủ bạn viên
minh cụ đức môn", dụng ư ở đây có thể là để tránh sự mâu thuẩn trên
mặt lư luận do khuynh hướng duy tâm tạo thành, nhưng cũng ngay đó
ngược lại đă nói rơ trong tư tưởng Pháp Tạng, khuynh hướng duy tâm
đă đạt đến một mức độ cao.
Khuynh
hướng duy tâm theo cách của Trừng Quán lại tiến xa hơn một bước,
thậm chí Pháp Tạng c̣n dùng "linh tri chi tâm" để giải thích "bản
giác", điều này khiến cho chữ tâm càng có tính chất "tâm tánh" mà
Nho gia đề xướng.
Nếu như
nói hai tông phái Thiên Thai và Hoa Nghiêm cụ thể hóa "tâm" chủ yếu
biểu hiện như là một khuynh hướng, thế th́ đến bài kệ của Thiền tông
"tức tâm tức Phật", đem hết thảy quy hết về tự tâm, tự tánh, Nho gia
hóa, cụ thể hóa chữ tâm thế là đă phát triển tới một giai đoạn mới,
cũng là nói hai tính chất của chữ "tâm" trong Hoa Nghiêm và Thiên
Thai tông chủ yếu biểu hiện ở nội hàm cơ bản của "chân tâm", và sự
ḥa trộn ở khuynh hướng tánh của tâm cụ thể, mà trong học thuyết
Phật tánh của Thiền tông, chữ "tâm" tuy có lúc được sử dụng như là
"chân tâm" bản thể, nhưng từ nội hàm cơ bản của tâm để nói th́ càng
rất gần gủi với "tâm tánh" mà Nho gia đề xướng, điểm này chúng ta có
thể từ một vài trước tác của Thiền tông có thể có được lời giải
thích.
Ai đọc qua
"Đàn kinh" cũng đều có một cảm giác,"Đàn kinh" không sâu xa khó hiểu
giống như các kinh điển Phật giáo truyền thống; mà với những người
nghiên cứu triết học cổ đại Trung Quốc th́ càng thấy rằng rất nhiều
tư tưởng và thuật ngữ trong Đàn Kinh "có vẻ như rất quen thuộc", như
các cách nói trong Đàn Kinh "Bất thiện chi tâm", "hữu sai đẳng chi
tâm", "đố kị tâm", "siểm khúc tâm", "cuồng vọng tâm", "mạn tha tâm",
"tà kiến tâm", "cống cao tâm"... rất khó lư giải bằng thuyết "chân
như" bản thể trừu tượng của Phật giáo truyền thống, mà trên mức độ
nào đó đối với những hiện thực của con người có thiện có ác của
triết học truyền thống Trung Quốc th́ không có ǵ xa lạ. Đương
nhiên, do vấn đề "tâm" trong Phật giáo truyền thống được nói rất
nhiều mà chữ "tâm" của Phật giáo truyền thống với chữ "tâm" của
triết học truyền thống Trung Quốc đề xướng không hoàn toàn khác biệt
rơ ràng, chỉ cần nh́n là nhận ra ngay như vậy, do đó, không kể là
trong giới Phật giáo hay trong giới học thuật đều thường thấy đem cả
hai làm thành một để bàn luận, điều này tạo nên một sự khó khăn cho
việc nhận thức mối tương quan, đặc biệt là vấn đề ảnh hưởng qua lại
của Phật giáo và triết học truyền thống từ góc độ "tâm tánh". Nhưng
trong Phật giáo đă được Trung Quốc hóa, vấn đền "tâm tánh" là một
vấn đề rất quan trọng, chẳng hạn như, người ta thường nói "Lục tổ
cách mạng" (Cuộc cách mạng của Lục Tổ) là cuộc cải cách mang tính
căn bản của Ngài Huệ Năng đối với Phật giáo truyền thống, mang Phật
giáo Ấn Độ biến thành Phật giáo Trung Quốc hóa hoàn toàn, nhưng nếu
có ai hỏi thêm: Căn bản "cách mạng" nhất của "Lục tổ cách mạng" là
ǵ? Người viết cho rằng căn bản "cách mạng" nhất của "Lục tổ cách
mạng" là đem "tâm" bản thể trừu tượng của Phật giáo truyền thống
biến thành "nhân tâm" càng hiện thực và cụ thể hơn, biến thành một
kiểu "tâm tánh" đă được Nho gia hóa. Trên thực tế, chính sự biến đổi
này đă đưa đến một loạt biến hóa trọng đại trong tư tưởng thiền
tông, trong đó nỗi bật nhất là đem một tôn giáo ngoại tại biến thành
một tôn giáo nội tại, đem đối tượng sùng bái là Phật trong Phật giáo
truyền thống biến thành sùng bái "tâm", nói ngắn gọn hơn, là đem
Phật giáo của Phật Thích Ca Mâu Ni biến thành "tôn giáo Tâm" của Huệ
Năng. Ở đây người ta đă thấy được cái lớn lao và sâu sắc của sự ảnh
hưởng "tâm tánh" triết học truyền thống Trung Quốc đối với tư tưởng
Phật giáo.
Ngoài "tâm
tánh" ra, một phương diện ảnh hưởng quan trọng khác của triết học
truyền thống Trung Quốc đối với Phật giáo đó là học thuyết "nhân
tánh". Do vấn đề "nhân tánh" không được đề cập nhiều trong Phật giáo
truyền thống, cho nên sự ảnh hưởng ở phương diện này có thể nh́n là
thấy được. Điều này cũng lấy Huệ Năng và "Đàn Kinh" làm ví dụ. "Nhân
tánh" mà "Đàn Kinh" nói đến nhan nhăn đều là, "nhân tánh bản tịnh",
"thế nhân tánh tự bản tịnh", "Vạn pháp tại chư nhân tánh trung"
v.v..., những điều này trong kinh điển truyền thống không thấy nhiều
mà trong triết học truyền thống Trung Quốc th́ đều là thuật ngữ và
tư tưởng, nên mới xuất hiện trong "Đàn Kinh" là bộ kinh của Thiền
tông, vấn đề này với bản thân Huệ Năng cùng với không khí lịch sử
văn hóa của xă hội đương thời không phải không có liên quan. Ngài
Huệ Năng, chữ không biết bao nhiêu, tŕnh độ văn hóa khá thấp, muốn
ngài từ trong kinh điển Ấn Độ hấp thụ ít nhiều lư luận uyên áo đặc
biệt là sâu hơn một bước là phương thức tư duy của Phật giáo truyền
thống th́ thật là khó, mà quê quán của ngài lại là nơi ùn ùn khí
chất văn hóa truyền thống Trung Quốc lấy Nho gia làm chủ lưu, do
vậy, dù là phương thức tư duy hay là thuật ngữ, Huệ Năng có đủ vẫn
là truyền thống văn hóa Trung Quốc, mà không phải và cũng không thể
là truyền thống Phật giáo Ấn Độ, điều này có thể là một trong những
nguyên nhân quan trọng tạo thành vấn đề lớn "nhân tánh" trong "Đàn
Kinh" đề cập. Từ ư nghĩa đó mà nói, th́ nhân tánh hóa của thiền tông
là kết quả của quá tŕnh ảnh hưởng triết học truyền thống Trung Quốc
là không c̣n nghi ngờ ǵ nữa
Trong lịch
sử phát triển Phật giáo tại Trung Quốc, nhân tánh hóa tâm tánh hóa
của Phật giáo cho đến sự hưng thịnh của Thiền tông đều là một hiện
thực khách quan của lịch sử; một hiện thực lịch sử khách quan khác
đó là sau thời Tùy Đường các tông phái khác của Phật giáo lần lượt
thu nhỏ mà Thiền tông th́ lại một ḿnh nổi bật, rộng răi đến đi
trong thiên hạ, cơ hồ đă thành một đại danh từ của Phật giáo Trung
Quốc. Hai hiện thực lịch sử quấn với nhau, người ta không khó để
thấy rằng tâm tánh hóa, nhân tánh hóa của Phật giáo Trung Quốc đối
với sự truyền bá và phát triển của Phật giáo tại Trung Quốc đă có
một ư nghĩa to lớn như thế nào!
Cũng giống
như sức tác dụng và phản tác dụng của vật lư học cùng hai mặt của
một vấn đề, sự ảnh hưởng qua lại của Phật giáo và nền triết học
truyền thống Trung Quốc xưa nay luôn quấn quưt với nhau. Nếu nói sự
ảnh hưởng trên phương diện tư duy bản thể luận của Phật giáo đối với
triết học truyền thống Trung Quốc có thể lấy học thuyết Phật giáo
thời Đường được tâm tánh hóa làm trung gian, th́, viêc đem tam tánh
hoa, nhân tánh hóa của học thuyết Phật giáo Trung Quốc làm cơ sở
thiết lập choTân Nho học Tống Minh về sau của triết học truyền thống
Trung Quốc. Trên mặt lịch sử Tân Nho học Tống Minh c̣n gọi là "Tâm
tánh nghĩa lư học", chữ "tâm tánh" ở đây trên thực tế là tâm tánh
hóa bản thể Phật giáo, cũng là bản thể hóa tâm tánh của triết học
truyền thống Trung Quốc, là một kiểu tôn giáo, triết học luân lư
h́nh thành từ sự dung hợp giữa lối tư duy bản thể Phật giáo và nội
dung tư tưởng tâm tánh luận của triết học truyền thống Trung Quốc,
từ điểm này mà nói, th́ việc làm rơ sự ảnh hưởng và mối quan hệ qua
lại giữa Phật giáo và triết học truyền thống Trung Quốc chính là vấn
đề chính để nghiên cứu, hiểu rơ và nắm vững những sở tại quan trọng
của lư học Tống Minh.
Thích
Đồng Thọ (chuyển ngữ)
(Tu
Viện Huệ Quang)