|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU
PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG II
Các Vị Giáo Chủ Hoằng Đạo Sau
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn
Hầu.
I. ÔNG ĐẠO ĐÈN
hay ĐỨC PHẬT TRÙM (?-1875)
A. Thân Thế
Ngài tên thật là chi và sanh năm nào chưa t́m ra được.
Quê ở sóc Lương Phi, núi Tà Lơn (núi này trong vùng Thất Sơn,
ở góc núi Dài, về phía núi Tô, gần kinh tám ngàn), thuộc quận
Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc.
Nghe Ngài xưng là Trùm của Phật sai xuống cứu đời, người ta
gọi Ngài là Đức Phật Trùm; lại thấy Ngài trị bịnh hay dùng cây
đèn sáp để đốt cho bịnh nhơn coi và ngửi mà hết bịnh, người ta
c̣n gọi Ngài là ông Đạo Đèn.
Ngài vốn thật là người Cao Miên, lúc c̣n là thường nhân th́
đầu cạo trọc, ăn mặc theo lối Miên, nhưng khi được sáng tỏ,
Ngài để tóc và ăn mặc theo người Việt. Ngài có vợ và sanh được
bốn người con gái. Hiện nay miêu duệ không thấy c̣n ai.
B. Trường Hợp
Tỏ Ngộ
Năm Mậu Th́n (1868), quanh vùng Tà Lơn nhân dân bị
bịnh dịch mà chết vô số. Khi ấy Ngài cũng mang bịnh rồi chết.
Lúc chết về đêm, gia quyến Ngài định hoàn lại sáng sớm hôm sau
sẽ đem ra hoả táng. Không ngờ trời rạng đông, Ngài tự nhiên
sống lại và đi đứng mạnh giỏi như thường.
Nhiều người Cao Miên thấy vậy xúm lại mừng rỡ hỏi thăm. Ngài
không trả lời bằng tiếng Miên mà chỉ nói tiếng Việt. Ngài c̣n
bảo vợ con từ nay hăy ăn ở nói năng theo phong tục người Việt.
Vài hôm sau, Ngài bắt đầu nói giọng nử hư nử thực. Có ai hỏi
Ngà tại sao thế, th́ Ngài trả lời đại lược rằng:
Tuy là phần xác của Mên,
Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời.
C. Bị Bắt
Từ ấy Ngài bắt đầu trị bịnh.
Ban đầu c̣n cứu người về bịnh dịch tả, sau bịnh này êm rồi th́
người ta đêm đến bịnh chi Ngài cũng trị được. Tiếng đồn vang
dội khắp nơi, thiên hạ đêm nhau đến để quy y cầu đạo mỗi ngày
một đông không xiết kể!
Bởi thế nên có bọn người Cao Mên ở Xà Tón đem ḷng ganh tỵ,
nhứt là họ thấy Ngài thâu nhận nhiều tín đồ người Việt th́ lại
càng ganh ghét thêm. Một hôm nọ, họ đến cáo báo với quân Pháp
ở Châu Đốc, nói rằng hiệp cùng người Việt để mưu cuộc dấy binh
chống Pháp. Liền theo đó Ngài bị bắt về Châu Đốc và không cần
xét hỏi hư thực, người ta đem giam Ngài vào ngục.
Theo lời ông Nguyễn Phước Côn -tục gọi là ông Bảy C̣n, hiện ở
tổng Định Hoà, Long Xuyên- đă nghe kể lại th́ trường hợp nầy
cũng gần giống như trường hợp bị bắt của Đức Phật Thầy Tây An.
Mặc dù Ngài bị giam cầm trong ngục thất, nhiều người vẫn thấy
Ngài thong thả dạo chơi như người vô sự ở ngoài phố chợ. Bởi
vậy, nhà cầm quyền Pháp hết sức nghi nan, họ bắt Ngài bỏ vào
củi sắt rồi đem liệng xuống sông. Thế mà khi khiêng đến bến,
Ngài vẫn điềm nhiên ngồi trong cũi hút thuốc lá như thường.
Nhiều người tín đồ của Ngài giả dạng khách thương buôn để đến
thăm ḍ tin tức; họ thấy Thầy bị hành hạ như vậy th́ đau ḷng
hết sức, định bụng rằng Ngài không tài nào sống được. Nhưng
trái lại, một chặp sau, họ thấy Ngài xả tóc ung dung đi đứng
trên đường.
Người ta hết sức thử thách mà không chết, có lần họ đem Ngài
bỏ vào vạc dầu sôi, Ngài an nhiên không chút sợ sệt, và khi
đem ra, Ngài không bị một vết phỏng nào.
D. Bị Đi Đày
Thấy như vậy, người Pháp tuy có mến phục tài
năng, nhưng thâm tâm c̣n sợ nỗi nếu thả Ngài ra th́ quần chúng
c̣n càng tin tưởng thêm, mà chính cái tin tưởng ấy sẽ gây cho
Ngài một thế lực mạnh mẽ, v́ thế nên họ cho đày Ngài ra hải
ngoại.
Trong lúc ở hải ngoại, người ta bắt Ngài đi làm việc và chăn
heo như những tội nhân thường phạm khác. Hễ mỗi sáng sớm, mỗi
người phải lùa lên núi hai con heo cho ăn, rồi chiều đến lại
lùa về. Khác hơn các tù phạm khác, Ngài chỉ kêu hai con heo mà
người ta đă cắt cho Ngài lại mà dặn nó sau khi đi ăn rồi phải
trở về. Thế là hai con heo răm rắp vâng lời, khỏi phải phiền
Ngài đi theo giữ như kẻ khác.
Ở đây một thời gian, Ngài bị nhà chức trách Pháp cho uống nước
cường toan (eau régale) là một chất độc giết người, mà Ngài
vẫn thêm mạnh. Lại xét thấy Ngài hiền lành, không có ǵ đáng
cho là nguy hiểm lắm, họ bèn tha Ngài về.
Trước khi xuống tàu về xứ, có người tù phạm tên là Quăng -bấy
lâu cũng bị đày như Ngài- than thở rằng không biết số phận
ḿnh sẽ ra sao, và bao giờ mới được về quê quán. Ngài thấy vậy
bảo Quăng đừng lo ǵ cho nhọc, nội trong bảy ngày nữa cũng sẽ
được thả ra như Ngài vậy. Quả thật đúng y như lời Ngài nói,
một tuần sau Quăng được đưa về.
E. Trở Về Tà
Lơn
Sau lúc được trả tự do, Ngài được
người Pháp phát cho một cây súng hai ḷng để
đi săn chơi, song
họ buộc Ngài mỗi một tuần lễ, cứ lệ ngày thứ hai th́ phải có
mặt để tŕnh diện. Ngài tuy theo lệnh nhưng vẫn c̣n có th́ giờ
trở về sóc Tà Lơn mà cứu độ bệnh nhân và nhắc nhở cho
người đời sớm lo tu tỉnh.
Nơi đây Ngài thường lên núi lấy sáp đem về để xe đèn trị bịnh.
Người ta không biết sáp ở đâu mà hễ cứ mỗi lần Ngài đi lấy th́
những người đi theo không tài nào gánh hết được.
Cũng nơi vùng Thất Sơn có một lần Ngài sắp đặt một cuộc cúng
tế có đông đủ tín đồ. Người nhà than rằng không thể nào lo
được chén bát để dọn ăn cho đủ. Ngài bảo rằng không hề chi,
trên non không thiếu ǵ những vật ấy.
Thế rồi hôm sau, Ngài cho ít người môn đệ đem gióng gánh theo
chân Ngài lên núi để mượn đồ. Ngài dẫn đến một nơi nọ có hầm
sâu, cây cối chung quanh sầm uất, rồi chỉ cho họ lấy, và dặn
muốn lấy bao nhiêu tùy ư, nhưng hăy đếm để về sau ḥng trả lại
cho đủ.
Khi xong đám, mấy người tín đồ quảy gánh chén bát lên núi để
trả lại chỗ cũ, nhưng có điều rất lạ là họ cố t́m mà không gặp
được chỗ hầm đă lấy, họ đành phải gánh trở về. Sau phải nhờ
Ngài dẫn lên chỉ chỗ mới trả được.
Cứ nhiều lần như vậy, nên trong tín đồ của Ngài có người đưa ư
kiến chặt cây và cột gút cỏ lại để làm dấu, rồi đợi khi vắng
Ngài, họ lén lên để t́m coi. Nhưng họ cũng thất vọng, những
dấu họ làm bửa trước không sao kiếm được, mặc dầu họ là đám
người rất quen thuộc đường rừng.
Để cho phân biệt được tín đồ của Ngài và của các tôn phái
khác, Ngài phát cho mỗi người đệ tử một bâu áo có hai khuy
hai nút, c̣n những thân chủ đến trị bịnh th́ ngài chỉ cho
một khuy một nút mà thôi.
G. Trường Hợp
Tịch Diệt
Ngài ra đời giáo đạo được bảy năm
th́ tịch diệt nhằm ngày 21 tháng Muời Một năm Ất Hợi (1875).
Ngài c̣n lưu lại cho đời một bổ "Sám Giảng" khuyên đời tu niệm
và tiên đoán việc thời cơ.
Lúc Ngài tịch, có xảy ra một việc rất lạ, tưởng không thể bỏ
sót được.
Một hôm, trước ngày tịch diệt, Ngài cho vợ con và tin đồ biết
trước rằng Ngài sẽ về cơi Phật. Thế rồi Ngài bỏ nhà lên
núi mà không trở về.
Sau mấy hôm quá ngày tŕnh diện mà không thấy Ngài đến, quân
Pháp cho lính vào tận sóc Lương Phi để t́m kiếm, và sau khi
nghe nói Ngài đă tịch rồi, họ nhứt định cho là nói dối,
bèn bắt hết cả vợ con của Ngài giải về Châu Đốc, buộc phải có
mặt Ngài th́ họ mới thả vợ con ra.
Trước t́nh trạng rắc rối ấy, có người tín đồ trung thành của
Ngài tên là ông Việm, hết ḷng nguyện vái rồi lặn lội lên vùng
Thất Sơn để t́m Ngài mà cầu xin giải cứu.
Sau mấy hôm t́m kiếm hết sức vất vả, ông
Việm mới gặp được
Ngài đang ngồi trong hang đá, cùng nói chuyện với những bậc dị
nhân.
Thấy ông Việm, chưa đợi ông này tường thuật, Ngài tự nhiên đă
hiểu rồi. Ngài bảo ông Việm hăy về trước rồi Ngài sẽ theo sau,
và dặn rằng Ngài chỉ rán độ cho một phen này, sau th́ tự lo
liệu lấy.
Khi đến nhà, Ngài bảo tín đồ đóng cho một cái ḥm, rồi tự ḿnh
trải vào một cái khăn bằng vải rất rộng. Xong, Ngài vào nằm
trong đó, sai người đậy nắp lại cẩn thận rồi đi báo cho Pháp
hay. Được tin đă kiếm được xác Ngài, quân Pháp kéo vào xem
xét, th́ quả nhiên, nhưng họ chưa tin rằng chết thiệt, bảo cứ
gác thẻ dưới nắp ḥm rồi để đó, hễ vài ba ngày th́ họ vào một
lần để dở ra khám nghiệm.
Sau khi đă khám nghiệm đủ cách mà không thấy Ngài c̣n có chút
ǵ là người sống -mặc dầu xác Ngài vẫn không hôi thối- nhà cầm
quyền Pháp thả hết vợ con Ngài ra, rồi hạ lệnh đem chôn Ngài,
trước mặt cho họ trông thấy.
Từ ấy về sau, Ngài không có trở về nhà nữa. Nhưng thỉnh thoảng
Ngài có cho người ta xem thấy Ngài c̣n lảng vảng trong vùng
Thất Sơn.
Hiện giờ nghe đâu Ngài c̣n có một người nữ tín đồ ở tại sóc
Tức (1), tục gọi là bà Bảy, sống hơn một trăm tuổi mà vẫn c̣n
khoẻ mạnh, lại cứ một ngày một trẻ dần, đọ với con bà người ta
thấy bà trẻ hơn nhiều. Nghe nói bà có xin phép "Ơn Trên" để đi
vào viếng cảnh trong ruột núi Cấm, nhưng chưa được lịnh, chẳng
biết có quả thật như vậy không!
Trong khi đi sưu tầm tài liệu cho quyển sách nầy, v́ t́nh thế
khó khăn không cho phép, nên chúng tôi chưa đến gặp tận mặt bà
được. Xin chờ lại một dịp sau.
GS Nguyễn Văn
Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) Ngả ba ông Cấm đi Ba Chúc, đi rẻ về phía Tịnh Biên lối một
ngàn thước th́ đến nhà bà Bảy.
|