|
TRẦN GIA PHỤNG
(Tŕnh Bày Tại Lễ Kỷ Niệm 68 Năm Khai Đạo PGHH,
Toronto, 24-6-07)
1.- BỐI CẢNH ĐỊA LƯ
Phật giáo Ḥa Hảo là tông phái Phật giáo do Đức
Giáo chủ Hùynh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng ngày
18 tháng 5 năm kỷ măo (4-7-1939), tại làng Ḥa
Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An
Giang), gần biên giới Việt Nam – Cambodia. Do đó,
trước khi nói đến Phật giáo Ḥa Hảo, chúng ta nên
t́m hiểu sơ lược nơi xuất phát đạo Ḥa Hảo.
Châu Đốc nguyên đất của Chân Lạp (Cambodia). Vào
năm 1757, tại Chân Lạp xảy ra tranh chấp ngôi
báu. Chúa Nguyễn là Vơ Vương Nguyễn Phúc Khóat
(cai trị Đàng Trong 1738-1765) cử Mạc Thiên Tứ,
tổng trấn Hà Tiên, cầm quân qua Chân Lạp, lập Nặc
Tôn lên ngôi vua tức Outey II (trị v́ 1757-1775).
Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long tặng chúa Nguyễn và
cắt năm phủ Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong
Som), Trực Sâm (miền nam Treang), Sài Mạt (Bentey
Méas) và Linh Quỳnh tặng Mạc Thiên Tứ. Chúa
Nguyễn lấy đất Tầm Phong Long đặt thành đạo Châu
Đốc, nhập vào dinh Long Hồ (vùng Hậu giang ngày
nay), và giao năm phủ cho Mạc Thiên Tứ sáp nhập
vào trấn Hà Tiên.(1) Về sau, vua Tự Đức (trị v́
1848-1883) trả năm phủ nầy lại cho Chân Lạp.(2)
Dưới thời các vua nhà Nguyễn, Châu Đốc thuộc tỉnh
An Giang. Sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ chính thức bị
nhượng cho Pháp bằng ḥa ước 1874, ngày 5-1-1876,
thống đốc Pháp là Duperré kư nghị định cải tổ hành
chánh, chia Nam Kỳ lục tỉnh thành 4 khu vực hành
chánh (circonscription administrative) là Sài G̣n,
Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac. Mỗi khu vực hành chánh
được chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chánh
(arrondissement administratif) . Bassac là vùng
phía nam sông Hậu, được chia thành các tiểu khu:
Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và
Sóc Trăng.(3) Tiểu khu Châu Đốc tức tỉnh Châu Đốc
sau nầy, là nơi có làng Ḥa Hảo quận Tân Châu.
Như thế, có thể nói vùng Ḥa Hảo, Tân Châu, Châu
Đốc là vùng đất nhập Việt tịch trễ nhất trong lịch
sử Việt Nam, vào năm 1757 và chỉ hơn một trăm năm
sau th́ bị Pháp xâm chiếm.
2.- PHẬT GIÁO TỨ ÂN
Người Việt trước đây vốn theo tam giáo Phật, Nho,
Lăo. Trong ba đạo giáo trên, lúc đầu, Phật giáo
phát triển mạnh dưới thời nhà Lư (1010-1225), nhà
Trần (1226-1400). Qua thời nhà Lê (1428-1789), do
ảnh hưởng từ khi Minh thuộc (1407-1428), Nho giáo
càng ngày càng thịnh hành.
Vào thế kỷ 17, nước ta xảy ra nội chiến giữa hai
họ Trịnh Nguyễn. Chúa Trịnh mượn cớ tôn pḥ vua
Lê, hùng cứ đất Bắc. Chúa Nguyễn muốn tách ra tự
lập ở phương Nam, chống lại chúa Trịnh và ở vào
thế chống lại vua Lê.
Trong giai đọan chống lại vua Lê, chúa Nguyễn
không thể nói chuyện “trung quân”, và đề cao Nho
giáo. Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu
thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ. Để tạm thời
thay thế Nho giáo, các chúa Nguyễn phát triển Phật
giáo, dùng Phật giáo làm nền tảng tư tưởng và tinh
thần, để có thể tập hợp quần chúng. Các chúa
Nguyễn cho xây dựng chùa chiền khắp nơi, mời cả
tăng sĩ Trung Hoa sang giảng đạo.
Lúc đó, ở miền Nam, di dân mới bắt đầu khai canh,
khẩn hoang, mở ruộng, lập vườn. Mọi nỗ lực tập
trung vào việc sản xuất nông phẩm, xây dựng nông
nghiệp. Làng mạc mới được tổ chức, chưa có chùa
chiền, chưa có tăng lữ, chưa có thầy dạy chữ.
Trong khi đó, nhu cầu tâm linh của di dân rất khẩn
thiết và rất quan trọng trong cuộc sống mới. Di
dân cần một điểm tựa tinh thần để vững tin trên
bước đường mạo hiểm, khai phá.
Đáp ứng nhu cầu nầy, năm 1851, Đoàn Minh Huyên
(1807-1856) dựa trên nền tảng giáo lư nhà Phật, đă
khai sáng một tông phái Phật giáo mới là Bửu Sơn
Kỳ Hương (Núi quư hương kỳ diệu), c̣n được gọi là
đạo Lành, tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang.
Ông chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, giản dị hóa
nghi thức Phật giáo cho phù hợp với đời sống nông
dân, không có tăng sĩ, không cất chùa mà tổ chức
khẩn hoang, lập trại cho nông dân vừa sản xuất vừa
tu học. Về tu nhân, Đoàn Minh Huyên khuyến khích
dân chúng luôn luôn đền đáp “tứ đại trọng ân” (bốn
ân lớn) là; ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM
BẢO (trong đạo Phật), ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LỌAI.
Điều đáng chú ư là ngoài “tứ đại trọng ân”, đạo
Bửu Sơn Kỳ Hương không có giáo lư ǵ khác được đưa
ra, và căn bản vẫn là cách tu tập theo Phật giáo
cổ truyền.
Lúc bấy giờ, các quan chức địa phương nghi ngờ
Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, nên chuyển
ông về chùa Tây An trên núi Sam (cũng ở An Giang)
để dễ kiểm soát. Có thể v́ vậy, dân chúng gọi ông
là Phật thầy Tây An.(4) Sự nghi ngờ của các quan
chức nhà Nguyễn chứng tỏ Phật thầy Tây An đă được
khá đông quần chúng tin theo, nên các quan chức lo
ngại ông làm loạn.
Thông thường, các tổ chức thế quyền của các tôn
giáo liên kết với các thế lực cầm quyền để phát
triển. Các nhà cầm quyền cũng thích liên kết với
các tổ chức thế quyền của tôn giáo để củng cố và
bảo vệ quyền lực. Ngay như Phật giáo Việt Nam
trước đây, được các triều đại Lư Trần hỗ trợ, và
ngược lại các tăng lữ Phật giáo ủng hộ hai triều
đại Lư, Trần.
Điểm đặc biệt của Phật giáo Tứ Ân là xuất phát từ
dân chúng, chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh và đời
sống của dân chúng, không có hệ thống giáo quyền,
không dựa vào chính quyền, và không phục vụ chính
quyền. Nhu cầu đời sống của dân chúng lúc đó là
tổ chức canh tác, khai khẩn đất hoang, sản xuất
nông nghiệp.
Phật thầy Đoàn Minh Huyên từ trần năm 1856 tại
chùa Tây An. Lúc bấy giờ, tại miền Nam, xuất hiện
nhiều vị sư theo khuynh hướng Bửu Sơn Kỳ Hương như
Phật Trùm mà không ai biết tên, Đức Bổn sư Ngô Văn
Lợi (hành đạo khoảng 1870-1890), Sư Vải Bán Khoai
(hành đạo khỏang 1901-1902) và Nguyễn Đa (gốc B́nh
Định, hành đạo cuối thế kỷ 19).(5)
Phật thầy Tây An có 12 đại đệ tử gọi là Thập nhị
hiền thủ, trong đó nổi tiếng nhất là Trần Văn
Thành và Nguyễn Văn Thới. Trần Văn Thành, thường
được gọi là Cố Quản, giữ chức chánh quản cơ, khởi
nghĩa chống Pháp ở Láng Linh (An Giang) cuối năm
1872, nhưng bị thất bại và mất tích năm 1873.
Nguyễn Văn Thới (1866-1927), thường được gọi là Ba
Thới, tác giả bộ Kim cổ kỳ quan, là một tác phẩm
chú giải và khai triển giáo lư tông phái Bửu Sơn
Kỳ Hương.
Giai đọan Ba Thới và bộ Kim cổ kỳ quan có thể xem
là thời kỳ chuyển tiếp từ Phật giáo Tứ Ân sang một
tông phái mới là Phật giáo Ḥa Hảo.
3.-
PHẬT GIÁO H̉A HẢO
Phật giáo Ḥa Hảo (PGHH) do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ
thành lập tại làng Ḥa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh
Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), ngày 18 tháng 5
năm kỷ măo (4-7-1939). Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920) , là
con trai đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị
Nhậm, một gia đ́nh nông dân trung lưu.
Tiếp nối Phật giáo Tứ Ân, đạo Ḥa Hảo chủ trương
cải cách đạo Phật theo đúng với đời sống thực tế
của nông dân, không thiết lập giai cấp tăng lữ,
không tổ chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản,
không chú trọng đến h́nh thức, không làm chùa nguy
nga, không tạc tượng, đúc chuông, không đốt vàng
mă, khuyến khích các nghi lễ giản dị trong việc
thờ phụng, cưới xin, tang lễ.
Sự nghiệp truyền giáo của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ có
thể chia thành hai giai đọan:
Giai đọan thứ nhất (1939-1942): Từ khi khai đạo,
Đức thầy Huỳnh Phú Sổ vừa thuyết pháp, vừa sáng
tác nhiều kệ giảng, dựa trên giáo lư nhà Phật,
khuyên người gắng sức tu hành để thoát những tai
ương do thời cuộc đưa đến. Những kệ giảng của Đức
thầy thuần túy bằng tiếng Việt, rất giản dị, lại
có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập
lại hằng ngày trong cuộc sống, nên rất dễ phổ
biến. Trong giai đọan nầy Đức thầy đă sáng tác
năm sách kệ giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.
Phật giáo Ḥa Hảo càng ngày càng phát triển, khiến
người Pháp lo ngại. Ngày 18- 5-1940, tức khoảng
một năm sau ngày khai đạo, Pháp giải Đức thầy
Huỳnh Phú Sổ từ làng Ḥa Hảo về Châu Đốc để điều
tra. Sau đó, Pháp đưa ông về Sa Đéc, rồi về làng
Nhơn Nghĩa, rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ, quản thúc từ
ngày 23-5-1940. Nhiều tín đồ Ḥa Hảo được tin,
liền t́m đến thăm. V́ vậy, sau ba tháng ở Cần
Thơ, người Pháp đưa ông lên Sài G̣n, an trí tại
nhà thương điên Chợ Quán.(6) Ngày 5-6-1941, người
Pháp lại dời Huỳnh giáo chủ về Bạc Liêu. Do sự
can thiệp của quân đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được
thả và được đưa về sống ở Sài G̣n từ tháng
10-1942.
Giai đọan thứ hai (1942-1947): Do hoàn cảnh chính
trị, từ năm 1942 Đức thầy Huỳnh Phú Sổ bắt đầu
tiếp xúc với các nhân vật chính trị Nam phần, và
bắt đầu dấn thân vào con đường họat động chính
trị. Năm 1944, Huỳnh Phú Sổ thành lập Bảo An Đoàn
PGHH tại một số tỉnh miền Tây.
Vào đầu năm 1945, về mặt đạo, ông tiến hành thành
lập ban trị sự tỉnh hội PGHH. Đức thầy cho xuất
bản sách Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn
đạo bằng văn xuôi, lưu loát, minh giải về “tứ ân,
tam nghiệp, thập ác, bát chánh” trong đạo Phật, và
giảng về nghi thức thờ phụng, cúng lạy, tang lễ,
hôn nhân…
Cũng trong năm 1945, về phương diện chính trị,
Huỳnh giáo chủ lập Việt Nam Vận Động Hội để tranh
đấu đ̣i độc lập và thống nhất cho xứ sở. Từ đây,
có thể nói Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tham gia tích cực
vào cuộc vận động cho nền tự do dân chủ của đất
nước. Khuynh hướng nầy được Đức thầy bày tỏ trong
bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ thất ngôn
liên hoàn, sáng tác năm 1946 như sau:
“Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,
Đuổi bọn xâm lăng, ǵn đất nước,
Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”(7)
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 24-6-2007)
CHÚ THÍCH
1. Quốc sử quán nhà Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền
biên, quyển X, bản dịch tập 1, Hà Nội: Nxb. Giáo
Dục, 2001, tr. 166.
2. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, quyển hạ,
Houston: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr.
446.
3. Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam,
Saigon: 1906, tr. 338.
4. Hùynh Ngọc Trảng chủ biên, Sổ tay hành hương
Đất phương Nam, Nxb. TpHCM, 2002, tr. 389. Cũng
theo tác giả sách nầy, danh xưng Tây An có thể bắt
nguồn từ sắc chỉ của vua Thiệu Trị ban cho Doăn
Uẩn là “An Tây mưu lược tướng quân”, v́ ông đă có
công b́nh định miền Tây.
5. Các tài liệu viết về Phật thầy Đoàn Minh Huyên
và các vị trong tông phái nầy, dựa trên tài liệu
của:
http://hoahao.
org/default. asp?catid= 21&nid=7530
6. Tại miền Nam, có câu ca dao: “Bao giờ Chợ Lớn
hết vôi / Tàu Tây hết chạy, th́ tôi hết khùng.”
Có thể câu ca dao nầy nhắm chỉ Huỳnh giáo chủ v́
ông đă từng viết quyển Kệ dân của người khùng dài
476 câu, xuất bản lần đầu năm 1939, và nay Đức
Huỳnh giáo chủ bị Pháp (Tây) bắt an trí ở nhà
thương điên Chợ Quán, gần Chợ Lớn.
7. Ngoài địa chỉ Internet trên đây, tài liệu viết
về Đức thầy Huỳnh Phú Sổ c̣n theo sách: Sấm giảng
thi văn ṭan bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, do Ban Trị
sự Trung ương Phật giáo Ḥa Hảo Hải ngọai ấn hành,
Houston: 2004. |