Thích Tuệ Sỹ
Kinh:
BẤY GIỜ,
trong thành Tỳ-da-ly có vị trưởng giả tên Duy-ma-cật, đă
từng cúng dường vô lượng chư Phật và trồng sâu gốc rễ
thiện, chứng đắc vô sinh pháp nhẫn, có tài biện thuyết
vô ngại, hiện du hí thần thông, nắm vững các tổng tŕ,
đạt được vô sở úy; khuất phục mọi thù nghịch và quấy
nhiễu của Ma, đă đi vào cửa Pháp sâu thẳm, thiện xảo
trong trí độ, thông suốt các phương tiện, hoàn thành đại
nguyện. Ông biết rơ xu hướng của tâm của chúng sinh, có
thể phân biệt căn tính bén nhạy hay chậm lụt. Đă từ lâu
tâm của ông đă thành thục trong Phật đạo, đă quyết định
nơi Đại thừa. Mọi hành động của ông đều dựa trên tư duy
chân chính. An trú trong oai nghi của Phật, tâm trải
rộng như đại dương. Được chư Phật ca ngợi; Đế Thích,
Phạm thiên, Thế chủ đều kính phục.
V́ để hóa
độ nhiều người, bằng vào phương tiện thiện xảo, ông cư
trú trong thành Tỳ-da-ly.
Bằng gia
sản bất tận của ḿnh, ông bao bọc người cùng khổ. Bằng
giới thanh tịnh, ông bao bọc người hủy phạm cấm giới.
Bằng sự nhu thuận của nhẫn, ông bao bọc người sân hận
hung dữ. Bằng đại tinh tấn, ông bao bọc người biếng
nhác. Bằng nhất tâm, thiền định, tịch tĩnh, ông bao bọc
những kẻ có tâm ư tán loạn. Bằng tuệ quyết định, ông bao
bọc những hạng vô trí.
Tuy là
hàng bạch y ông vẫn tuân hành mọi luật tắc thanh tịnh
của Sa-môn. Tuy là cư sỹ ông vẫn tự tại không vướng mắc
ba cơi. Tuy thị hiện có vợ con ông luôn sống đời tịnh
hạnh. Tuy hiện thân giữa các thuộc hạ, vẫn thường vui
thú viễn ly. Tuy mang ngọc vàng châu báu nhưng trang
điểm thân ḿnh bằng tướng hảo. Dù thụ hưởng các thức ăn
uống nhưng chỉ thưởng thức vị ngon của thiền. Đến phường
cờ bạc để đưa người vượt thoát. Tiếp nhận dị đạo mà
không hủy chính tín. Thông hiểu kinh điển thế gian,
nhưng thường hâm mộ Pháp Phật. Ai gặp ông cũng đều kính
nể, tôn kính vào hàng bậc nhất.
Ông chấp
tŕ luật pháp, duy tŕ trật tự dưới trên. Hợp tác hài
ḥa trong tất cả sự nghiệp buôn bán, tuy cũng gặt hái
những tài lợi thế tục, ông không lấy đó làm mừng. Rong
chơi trên các ngơ đường để giúp ích mọi người. Vào chốn
công đường để bảo vệ kẻ thế cô. Tham gia các luận nghị
để đưa người vào Đại thừa. Đến các trường học để khai
sáng tâm mọi người. Vào nơi kỹ viện để cho thấy tai họa
của dục vọng. Vào trong tửu lâu để khiến mọi người giữ
vững ư chí.
Trong
hàng trưởng giả, ông được các trưởng giả tôn kính để
diễn thuyết những pháp tối thắng. Trong hàng cư sỹ, ông
được cư sỹ tôn kính để dạy họ dứt trừ tham đắm thế tục.
Trong hàng Sát-lị, ông được các Sát-lị tôn kính để dạy
họ biết nhẫn nhục. Trong giới Bà-la-môn, ông được các
Bà-la-môn tôn kính để dạy họ đoạn trừ ngă mạn. Trong các
Đại thần, ông được các Đại thần tôn kính để dạy họ pháp
luật công chính. Trong các Vương tử, ông được các Vương
tử tôn kính để dạy họ đạo trung hiếu. Trong chốn cấm
cung, ông được các nội quan tôn kính để giáo hóa hết
thảy cung nữ đức hạnh.
Vào trong
hạng thứ dân, ông được thứ dân tôn kính để khích lệ họ
vun trồng phước đức. Trong hàng Phạm thiên, ông được các
Phạm thiên tôn kính, hiển hiện cho Phạm thiên huệ tối
thắng. Trong hàng Đế Thích, ông được Đế Thích tôn kính,
chỉ họ thấy rơ tính vô thường. Trong hàng Hộ thế, ông
được các vị Hộ thế tôn kính, khiến họ bảo vệ hết thảy
chúng sinh.
Trưởng
giả Duy-ma-cật đă bằng vô lượng phương tiện như vậy làm
lợi ích cho chúng sinh.
***
Chùa tọa
lạc sát quốc lộ 1. Những chuyến xe đ̣ từ Nam ra Trung,
mỗi khi ngang qua chùa, thường vào khoảng xế trưa. Nắng
xế vàng vơ, cảnh chùa tịch mịch. Có lẽ trong số hành
khách không ít người có cảm giác như vừa đến một nơi
thanh b́nh, mặc dù chỉ có thể là một thứ thanh b́nh giả
trên một vùng đất chiến tranh. Đoạn đường vừa trải qua,
ai cũng biết có quá nhiều nguy hiểm ŕnh rập. Đoạn đường
sắp tới, nếu ai c̣n phải đi tiếp xa hơn nữa, lại c̣n ẩn
tàng nhiều nguy hiểm hơn. Thời chiến là vậy, đạn lửa
không có mắt, không phân biệt ai hiền, ai ngu, không
phân biệt kẻ lành với người dữ.
Cho đến
ngày ḥa b́nh, chùa vẫn vắng vẻ. Dù chiến tranh hay ḥa
b́nh, sự sống vẫn là những đợt sóng thăng trầm giữa đại
dương mộng tưởng. Vẻ khiêm tốn, cô liêu, tĩnh mịch của
nhà chùa vẫn như là những cọng cỏ úa, chứng nhân cho tṛ
đời dâu biển.
Mỗi khi
t́nh cờ trên những chuyến xe Trung-Nam, hay Nam-Trung,
trong thời chiến hay thời b́nh, cảm giác của tôi từ ấn
tượng mong manh của ngôi chùa vẫn như vậy. Chợt cảm
hứng, tôi viết tặng chùa hai câu đối, dù biết rằng nhà
chùa sẽ ngần ngại, không sẵn sàng khắc lên cổng để cho
khách thập phương thưởng thức:
Vượt
Trường sơn ngh́n dặm Bắc Nam,
nh́n nắng
đọng sân chùa,
khách có
biết mấy lần dâu biển?
Ngắm sông
bạc một màu chung thủy,
lắng
chuông ngân đầu cỏ,
người
không hay một thoáng Vô vi.
Đọc lại
thơ của ḿnh, tôi lại chợt nhớ bài thơ thất ngôn, tứ
tuyệt của nhà thơ Lư Thiệp, đời Đường:
终日昏昏醉梦间,
忽闻春尽强登山。
因过竹院逢僧话,
又得浮生半日闲。
Chung
nhật hôn hôn túy mộng gian,
Hốt văn
xuân tận cưỡng đăng sơn.
Nhân quá
trúc viện phùng tăng thoại;
Hựu đắc
phù sinh bán nhật nhàn.
Cảm hứng
của nhà thơ vốn chớm dậy từ đời sống thường nhật, giữa
những bận rộn tất bật; sống ở đó mà cảm giác như chập
chờn trong cơn mộng say. Đến khi hay rằng mùa xuân đă
hết, hay sắp hết, mới vội vă đi t́m một khoảng xanh nào
đó của núi rừng, nghĩa là đi t́m một chút thanh nhàn,
một chút buông xả cho tâm tư để bù đắp cho tháng ngày
miệt mài vật lộn trên trường công danh, phú quư:
Mùi phú
quư nhữ làng xa mă;
Bă vinh
hoa lừa gă công khanh.
Giấc Nam
kha khéo bất b́nh,
Bừng con
mắt dậy thấy ḿnh tay không.
(Cung oán
ngâm khúc)
Nhân đi
qua viện trúc, t́nh cờ gặp nhà sư; ông đứng lại tṛ
chuyện. Tṛ chuyện cho đến một lúc, nhà thơ bất chợt cảm
thấy ḿnh đă có được một nửa ngày nhàn trong suốt cả
cuộc đời ch́m nổi lênh đênh. Có một cơi gọi là phương
ngoại như vậy, nơi mà những đạo sỹ, thiền gia ẩn dật,
sống tiêu dao quên ngày tháng, quên hết những bận rộn
tranh đua giữa trường đời náo nhiệt.
Khoảng
một trăm năm sau, vào đời Tống, lại có một anh học tṛ,
tên hiệu là Mạc Tử Sơn, mà con đường công danh nhiều
khảm kha, nên thường t́m nơi núi rừng thanh vắng để quên
đi nhọc nhằn thế sự. Một hôm, anh gặp một ngôi chùa nhỏ
giữa rừng trúc xinh xinh. Cảnh trí thanh tĩnh, u nhă, dễ
khiến khách trần phiền năo đa đoan cảm thấy tâm tư thư
thới. Khách cùng sư đàm đạo. Nhưng bất hạnh, khách đối
diện với một ông Ḥa thượng quê mùa, thô lỗ, tuy tỏ vẻ
ưa thích đàm luận văn chương. Chuyện tṛ càng lúc càng
trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Bởi vị Ḥa thượng sính văn
thơ, nay may gặp khách làng văn, nên cứ khẩn khoản lưu
khách. Không tiện từ chối đột ngột, thư sinh xoay chuyển
ư nghĩ, bèn mượn bút mực nhà chùa, đề lên vách 4 câu
thơ:
又得浮生半日閒,
忽聞春盡強登山。
因過竹院逢僧話,
終日昏昏醉夢間。
Niêm
luật, cú pháp, kể cả lư tưởng của bài thơ, đều là sao
chép lại của Lư Thiệp; nhưng thứ tự câu đă bị xáo trộn,
làm cho ư nghĩa bài thơ trở thành trào phúng. Nhà thơ,
trong cuộc phù sinh, nay được nửa ngày nhàn. Chợt nghe
mùa xuân đă hết, nhà thơ vội vàng lên núi. Ấy là do nhàn
hạ mà đi thưởng xuân, tuy là xuân đă muộn, chứ không
phải do bận rộn mà khi hay xuân đă muộn bèn vội vă đi
t́m một chút nhàn. Nhân đi ngang qua viện trúc, gặp nhà
sư, cùng tṛ chuyện. Câu chuyện càng trở nên nhạt nhẽo,
khiến cho một nửa ngày nhàn của thư sinh bỗng hóa ra một
ngày đần độn như trong cơn mộng say. Lăo Ḥa thượng sính
văn thơ tất nhiên vui mừng hớn hở, cảm tưởng ḿnh đang
gặp hạnh vận nên nhà chùa lưu được bút tích với một bài
thơ tuyệt hay. Ông không nghĩ rằng chính ḿnh đă khiến
cho khách ban đầu đến chùa với tâm hồn thanh nhă, thư
thái; nhưng sau một buổi nói chuyện với sư, tâm trí trở
thành hôn ám. Trời, thiên nhiên, vẫn vậy, nhưng tính
cách phù phiếm của con người làm cho thiên nhiên bị phơi
ra giữa kịch đời sáo rỗng.
Khổng Tử
một hôm nói với các môn đệ: “Ta không muốn nói ǵ cả.”
Tử Cống nghe thế, liền hỏi: “Nếu Thầy không nói, chúng
con biết truyền thuật cái ǵ?” Không Tử đáp: “Trời có
nói ǵ đâu? Bốn mùa vẫn vận hành. Vạn vật vẫn sinh
trưởng. Nào trời có nói ǵ đâu!”
天何言哉?四时行焉,百物生焉,天何言哉!
Trời
không nói ǵ. Thiên nhiên luôn luôn trầm lặng, tịch
mặc.
Thanh tĩnh, cô
liêu, vẫn thường xuyên là nỗi kinh sợ cho nhiều người,
nên người t́m cách chạy trốn; lánh ḿnh và quên lăng
trong khoảnh khắc gần kề bằng thái độ ngông cuồng “đoạn
tống nhất sinh duy hữu tửu”
斷送一生唯有酒: đưa
tiễn một đoạn đường đời khổ nhọc duy chỉ bằng say và
quên trong chén rượu; hay trong những thú vui tiêu khiển
phù phiếm khác. Một số rất ít t́m thấy lẽ huyền vi của
sự sống ngay giữa ḷng thiên nhiên im lặng, tịch mặc vô
ngôn. Trời đất không nói, ta cũng không nói: đói th́ ăn,
khát th́ uống, mỏi th́ nằm:
居塵樂道且隨緣
飢則飧兮困則眠
家中有寶休尋覓
對境無心莫問禪
Cư trần
lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc
xan hề khốn tắc miên
Gia trung
hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh
vô tâm mạc vấn thiền.
(Trần
Nhân Tông, Cư trần lạc đạo phú)
Ở đời vui
đạo, hăy tùy duyên,
Đói cứ ăn
đi, mệt ngủ liền.
Trong nhà
có báu thôi t́m kiếm.
Đối cảnh
vô tâm, chớ hỏi thiền.
(Lê Mạnh
Thát dịch)
Sống như
thiên nhiên đang vận hành; hè nóng th́ khoác áo mỏng,
đông lạnh th́ đắp chăn bông.
Một thời,
vào một đêm trăng sáng, ngày rằm tháng Ca-đề (Kārttika,
khoảng tháng 10-11 Dương lịch), vua A-xà-thế
(Ajātaśatru) nước Ma-kiệt-đà (Magadha), một bạo chúa
giết cha để soán ngôi, một con người không hề biết dao
động trước hành vi giết cha, bỗng nhiên lại rung động
trước vẻ đẹp huyền hoặc, huyền diệu, của ánh trăng rằm,
khiến ông nghĩ đến tư duy triết học, nghĩ đến vi hành
t́m một triết gia hay đạo sỹ để luận đạo. Được một cận
thần khuyến khích, ông nghiêm chỉnh voi, ngựa, với một
đoàn quân ngự lâm hộ giá, rầm rộ kéo đến vườn xoài của y
sỹ Kỳ-bà, nơi Phật đang trú ngụ cùng với đại chúng gồm
1250 Tỳ kheo. Nhưng khi vừa nhác thấy vườn xoài, nhà vua
trẻ một thời hung tợn này chợt thấy trong ḷng run sợ,
lông tóc dựng đứng. Ông sợ cái ǵ? Ông không sợ binh
hùng tướng mạnh của địch, không hề chùn chân trước rừng
gươm giáo; nhưng sợ hăi trước sự cô liêu, u tịch của khu
vườn: “Tại sao giữa một số đông có đến 1250 người, mà
lại không có một tiếng động, một tiếng tằng hắng, hay
một tiếng ho?”
Như thế
đấy, sự im lặng, tịch mặc vô ngôn, của thiên nhiên có
thể làm run sợ những bạo chúa hay dũng tướng tràn đầy
khí phách anh hùng; nhưng cơi tịch mặc vô ngôn ấy lắm
khi lại là chỗ đáng buồn chán cho những tâm hồn bạc
nhược, hèn yếu.
Cơi vô
ngôn ấy là ǵ, ở đâu?
Đó là
tiếng vọng trên âm vực tuyệt đối cao vút rung lên từ vực
sâu thăm thẳm trong tận cùng đáy sâu của những tâm hồn
thiết tha với sự sống, lẽ sống. Đó là sự im lặng sấm sét
của Tu-bồ-đề, thản nhiên ngồi khâu áo trong hang đá,
trong không gian rực sáng và ngập tràn tiếng hát thiên
thần. Đó là tiếng rống sư tử của bậc Đại trí Văn-thù,
khi khám phá cảnh giới tịch mặc vô ngôn trong căn nhà
trống của Duy-ma-cật. Tiếng vọng ấy không thể nghe được
bằng tai, cũng không thể suy được bằng lư. Cho nên,
Xá-lợi-phất khi mới bước vào căn nhà trống th́ hỏi chỗ
ngồi, trước khi nghe luận đạo th́ hỏi thức ăn. Người
phàm dung thấy đó là chuyện cơm nước ngày thường, mà
cũng là mối ưu tư khốn đốn của một kiếp người, khiến cho
từng thế hệ tiếp nối của nhân sinh đổ từng giọt mồ hôi
trên từng ngọn cỏ, thấm từng giọt máu trong từng hạt
bụi; ngước lên th́ nh́n văn vẻ của ṿm trời, học cho
biết đạo vật lư của vũ trụ; cúi xuống th́ quan sát h́nh
thể nhấp nhô của đất, săn lùng tài nguyên để tích lũy sở
hữu với ước mong nâng cao vị trí của ḿnh trong trời
đất. Nhưng, trời có nói ǵ đâu?
Sao vậy?
Thưa,
Thánh trí vốn vô tri, mà muôn vàn phẩm loại đều được soi
tỏ. Pháp thân vốn vô tướng, nhưng lại ứng hiện theo từng
h́nh tướng đặc thù. Vần điệu chí cao th́ vẫn không lời,
mà thư tịch huyền vi khắp nơi quảng bá. Thiện quyền bí
ẩn th́ không toan tính, mà động tĩnh thảy tương ưng sự
thể. Do vậy mà có thể cứu vớt tổng thể quần sinh, phơi
bày vật để hoàn thành trách vụ. Lợi, được thấy khắp
thiên hạ, với ta th́ vô vi; kẻ mê hoặc trông thấy mà cảm
được ánh chiếu. Nhân đó gọi là Trí. Quán, ứng theo h́nh,
th́ gọi là Thân; liếc nh́n thư tịch huyền vi, bèn bảo đó
là Ngôn. Thấy sự biến động mà bảo đó là Quyền. Thế th́,
chỗ chí cực của Đạo, há có thể bằng H́nh, Ngôn, Quyền,
Trí, mà nói lên được cảnh vực thần diệu của nó sao?
(Tăng
Duệ, Tựa kinh Duy-ma-cật)
何則夫聖智無知而萬品俱照。法身無象而殊形並應。至韻無言而玄籍彌布。冥權無謀而動與事會。故能統濟群方。開物成務。利見天下於我無為。而惑者覩感照。因謂之智。觀應形則謂之身。覿玄籍便謂之言。見變動而謂之權。夫道之極者豈可以形言權智而語其神域哉。
Lẽ
thường, mỗi người tự có một hay những ẩn t́nh sâu kín
không thể bày tỏ thành lời:
Nợ
t́nh chưa trả cho ai,
Khối
t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan.
(Nguyễn Du, Kiều)
Khuất Nguyên, mà
lời thơ của ông được Lư Bạch ca ngợi là cao vời và rực
sáng như mặt trời, mặt trăng
屈平辭賦懸日月;
thất chí v́ không được vua tin dùng, v́ bị bọn gian nịnh
sàm tấu, vu họa, ôm mối u hận cô trung mà bàng hoàng
trong chốn đầm lầy, ngâm hát bên sông suối, nhan sắc
tiều tụy, h́nh dung khô héo. Đời vẩn đục nên không ai
hiểu được tấm ḷng trong sáng của ông. Ông nói: mọi
người đều đục, chỉ một ḿnh ông là trong. Mọi người đều
say, chỉ một ḿnh ông là tỉnh. V́ vậy, ông bị đời hất
hủi.
举世皆浊我独清,众人皆醉我独醒,是以见放!Lăo
ngư phủ nhận ra ông là ai, bèn khuyên: “Thánh nhân không
ngưng trệ nơi vật, mà có thể dời đổi theo đời. Người đời
đều đục, sao không quậy thêm bùn, làm cho nổi sóng? Mọi
người đều say, sao không ăn luôn cả bă hèm, nốc luôn cả
rượu nhạt? Cần ǵ phải nghĩ cho sâu, cư xử cho cao?”
Ông đáp: “… Tôi thà gieo ḿnh trong ḍng sông Tương,
chôn thây trong bụng cá, chứ đâu có thể đem cái thân
trắng sạch làu làu này mà để nhuốm bẩn bụi đời!” Rối sau
đó, ông gieo ḿnh xuống sông Mịch la. Mấy ngh́n năm sau,
người ta vẫn c̣n nghe đồng vọng tiếng hát của lăo ngư
phủ trên sông:
沧浪之水清兮,
可以濯吾缨。
沧浪之水浊兮,
可以濯吾足。
(渔父)
Ḍng
nước Thương lang mà trong chừ,
Ta rửa
dải mũ.
Ḍng
nước Thương lang mà đục chừ,
Ta rửa
bàn chân.
Đó là chân lư mập
mờ trong cơi tịch mặc vô ngôn. Đời vẫn có, từ ngh́n xưa,
những điều không thể nói, mà mang đầy bi kịch. Bi kịch
được tŕnh diễn thành màn kịch câm trên sân khấu huyền
thoại. Đời vẩn đục, không ai hiểu được ḿnh, th́ cất
cánh lên trời cao, không quay đầu nh́n lại.
世混浊而莫余知兮,吾方高驰而不顾。(涉江)
Cỡi con thanh cù
(rồng có sừng), thắng cỗ xe song mă bằng đôi bạch si
(rồng không sừng), cùng dạo chơi trong vườn Dao với vua
Thuấn. Buổi sáng, phát xuất từ đỉnh Cửu nghi sơn, chiều
đă đến Huyện phố trên đỉnh Côn luân, dạo chơi với thần
tiên bên cổng trời Linh tỏa mà quên cả trời chiều; ra
lệnh cho Hy Ḥa, thần Mặt trời, ruổi xe chậm lại. Dưới
sông, ông xuôi ḍng Cửu hà với Hà bá. Trên sườn núi,
thấp thoáng bóng Thần nữ Sơn quỷ.
Trong
truyền thống đạo Nho của Khổng Tử, không nói đến chuyện
(yêu) quái, (bạo) lực, (bạo) loạn, (quỷ) thần 子不說怪力亂神;
nhưng ở đây lại nói đến chuyện ly kỳ, quái dị; những
chuyện ấy chuyển tải cái ǵ?
国无人莫我知兮,又何怀乎故都!
既莫足与为美政兮,吾将从彭咸之所居!
(离骚)
V́ người
trong nước không ai hiểu được tâm sự của ông, tại sao
phải hoài vọng về cố đô? Và ông nghĩ đến việc đi t́m
theo dấu Bành Hàm. Trung thần, không can gián nổi những
hành vi bạo ngược của quân vương, nên tự trầm ḿnh trong
ḍng nước. Thế th́, huyền thoại ở đây không thuần túy là
những câu chuyện các thần, mà đó là ngôn ngữ ẩn dụ để
nói những điều không thể nói.
Những
h́nh ảnh được vận dụng như là ẩn dụ ở đó không đơn giản
là những hư cấu tùy theo trí tưởng tượng của nhà thơ.
Chúng thực sự bắt nguồn từ huyền thoại, hay thần thoại,
chứa đựng những ư tưởng, những tư duy, xúc cảm, tín
ngưỡng tồn tại trong một truyền thống văn hóa.
Huyền
thoại, mà người Hoa và người Nhật gọi là Thần thoại, là
chuyện kể về các Thần linh. Chuyện tạo dựng trời đất;
chuyện quan hệ giữa các Thần với nhau, giữa Thần và
người; những chuyện t́nh yêu, thù hận, ganh tị, hung dữ,
và nhiều điều khác, tốt cũng như xấu, có nơi loài người,
cũng có nơi các Thần linh.
Một ít
điển h́nh:
Trong
thần thoại Hy lạp, người ta kể, Cronus con trai của thần
Uranus (Trời) và bà Gaia (Đất), là vị Thần nhân cách hóa
của Thời gian, và cũng là thời vụ. Ông được mẹ cho lưỡi
hái, để rồi ông thiến cha là Uranus, mà những ḍng máu
chảy tuôn ra thành các tạo vật khổng lồ, người Gigantes,
được nói là tổ tiên của người khổng lồ Goliath trong Cựu
Ước. Sau đó, Cronus lấy em gái ḿnh là Rhea làm vợ, rồi
cai trị những người Titans. Ông nuốt tươi các con mới
sinh của ḿnh, đề pḥng có thể có đứa sẽ lật đổ ông. Qua
ư nghĩa thần thoại, người ta có thể t́m lại ấn tích tư
duy, quan niệm của người cổ Hy lạp về thời gian, thời
vụ, sự sinh trưởng và hủy diệt của các tạo vật. Tất
nhiên, người Hy lạp cổ thời bấy giờ, trong một giới hạn
ư nghĩa nào đó, tin tưởng những điều được kể là sự thực.
Các nhà cổ sử học, bằng phương pháp phân tích thần thoại
học, có thể lần ra dấu vết của một thời lịch sử cổ.
Mỗi dân
tộc thường có chuyện kể về các Thần, kể về nguồn gốc của
bộ tộc hay huyết thống của ḿnh, mà cũng là nguồn gốc
của cả thế giới. Nét chung là các Thần này có năng lực
siêu nhiên, quyền năng siêu việt sức mạnh không thể
tưởng tượng, làm những điều mà loài người không thể làm
được. Tuy dù các Thần có năng lực hay quyền lực siêu
việt hay tuyệt đối được hiểu theo bất cứ ư nghĩa nào,
th́ tất cả những điều ấy cũng chỉ giới hạn trong những
sự việc mà trí tưởng của con người có thể nghĩ ra được.
Những câu
chuyện như thế thường bắt nguồn từ kư ức tăm tối về một
thời kỳ quá khứ mà khả năng tư duy không cụ thể hóa
thành ngôn ngữ thường nhật được. Núi Tu-di trong kho
truyện truyền kỳ Phật giáo có thể là kư ức từ một nền
văn minh xa xưa đă mất, đó là văn minh Sumer trên vùng
Lưỡng hà (Mesopotamia), phía nam Irak ngày nay, trước
Tây lịch khoảng bốn ngh́n năm. Thiên đế Thích (Śakro
devānam Indra) xuất hiện trong kư ức Thần thoại có thể
là h́nh ảnh biểu trưng của các vua của người Sumeria cai
trị vùng đất cần nhiều công tác thủy lợi. Cho nên Kinh
điển thường đề cập đến tiền thân của Thiên đế Thích là
người đă từng thực hiện nhiều công tŕnh xây dựng cầu
đ̣; do công đức này mà được sinh làm Thiên đế Thích.
Truyền kỳ
kể rằng trên cơi trời Tam thập tam (Tāvatiṃsa) có nhiều
công viên, trong đó nổi tiếng là vườn Nanda, mà trong
nhiều bản dịch Hán gọi là vương Nan-đà, hay vương Hoan
hỷ. Danh từ này khiến liên hệ đến từ Eden trong Thánh
kinh Do thái, hiểu nghĩa theo tiếng Hebrew.
Kinh điển
cũng thường đề cập đến một vùng đất phương Bắc nào đó,
gọi là Bắc Câu-lô châu. Đời sống dân chúng được mô tả
trong đó khiến liên hệ đến những dân di mục thời tiền
sử. Có lẽ là kư ức huyền thoại của tổ tiên người Aryan
sau khi từ bỏ khu vực Lưỡng hà, hay sau khi nền văn minh
Sumer sụp đổ, họ tiến dần về phía nam, rồi vượt qua dăy
Thông lĩnh (Pamir) để định cư trên lưu vực Ngũ hà.
Những
chuyện truyền kỳ hay huyền thoại được kể khá nhiều trong
Kinh điển Phật giáo cũng khiến người ta liên hệ đến các
truyện Thần thoại Hy lạp. Những trận chiến giữa Thiên Đế
Thích với thủ lĩnh A-tu-la để giành lănh địa trên đỉnh
Tu-di, trong một phạm vi nào đó, cũng mang nhiều nét
tương đồng với cuộc tranh giành quyền lực cai trị Titan
giữa Uranus và Kronos. Điểm tương đồng nổi bật nhất là
giữa Thiên đế Śakra ngự trị trên đỉnh Tu-di và Zeus,
chúa tể các thiên thần ngự trị trên đỉnh Olimpia.
Huyền
thoại hay Thần thoại như vậy là những truyện kư – không
hẳn là truyền kỳ – được kể bằng ngôn ngữ mà đối với
nhiều người thật là huyễn hoặc, hoang đường. Nhưng với
các nhà Thần thoại học, chúng một phần, hay đại bộ phận,
là những kư ức lịch sử bị bao trùm trong lớp bụi mù hay
sương khói của thời gian.Trong nhiều trường hợp, chính
kư ức thần thoại hay huyền thoại ấy phản chiếu trung
thực hơn những cái mà ngày nay ta thường nghĩ là sự thực
lịch sử; phản chiếu quan niệm, đồng thời cũng là hiện
thực, về huyết thống, về chủng tộc, về những ràng buộc
gia đ́nh, bố mẹ và con cái, anh chị em, về mặt xă hội
cũng như về mặt di truyền. Trong kho truyện cổ Viêt Nam,
ta có truyện trăm trứng, truyện Âu Cơ và Lạc Long Quân,
mà vua Tự Đức bút phê trong Khâm định Việt sử là hoang
đường, không thể tin. Tuy nhiên, khó có thể t́m thấy câu
truyện kể nào phản ánh trung thực hơn quan niệm của tổ
tiên người Việt về mối quan hệ huyết thống, chủng tộc
của các cư dân trong cùng một không gian địa lư.
Phải
chăng, những điều được nói trên đây là ư tưởng dẫn đạo
để chúng ta gọi những điều kể về Duy-ma-cật là “Huyền
thoại Duy-ma-cật”, những tường thuật về ngôn ngữ và hành
vi đại bộ phận mang dấu ấn siêu nhiên. Kinh có tên là
Duy-ma-cật sở thuyết, những điều được thuyết bởi
Duy-ma-cật, cũng c̣n có tên là Bất tư nghị giải thoát,
v́ ngôn ngữ và hành vi của Duy-ma-cật được ghi chép
trong đó là những điều không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ
luận lư, cũng không thể tư duy, nhận thức, bằng tập quán
tư duy của người thường. Từ một con người mà đời sống
thường nhật không có ǵ khác với mọi người đương thời
hay trong tất cả thời đại, cùng chịu chi phối bởi quy
luật biến thiên, sinh thành và hủy diệt của thiên nhiên,
tạo vật như tất cả mọi sinh vật trên đời; nhưng, từ con
người ấy lại xuất phát những hành vi không thể phán đoán
trên căn bản hiện thực. Trong một khoảng không gian chật
hẹp, dọc ngang chỉ chừng mười bộ, lại có thể dung chứa
ba ngh́n khách, đến tham quan từ khắp mười phương thế
giới. Làm sao ta có thể chứng minh và xác định một cách
hiện thực rằng có vô số thế giới trong đó có vô số sinh
vật tồn tại ngoài không gian vũ trụ? H́nh ảnh này có thể
là thực tế, mà cũng có thể chỉ là ẩn dụ. Dù hiện thực
hay ẩn dụ, với những ai mà tâm trí và h́nh hài không c̣n
bị buộc chặt vào tập quán thường nhật của đói lạnh, của
áo cơm; bị khuất phục với những định chế xă hội, quan hệ
nhân sinh; bị khống chế bởi quy luật tồn tại; không bị
hạn chế bởi không gian và thời gian hữu hạn; với những
người ấy, đi, đứng, nằm ngồi, đều là thể hiện của giải
thoát bất tư nghị, phát khởi từ thần thông du hư tam
muội. Đời sống, và tồn tại, trong từng sát na và trong
từng nguyên tử nhỏ bé, thường trực là cảnh giới huyền
vi, bất tư nghị, mà với tâm tư hữu hạn, bị ràng buộc lẩn
quẩn trong nói năng và suy nghĩ theo ước lệ của luận lư,
của lư tính, th́ đấy tất nhiên là những sự huyễn hoặc,
những thần thoại hoang đường.
Khi một
nhà thơ nghe tấu nhạc, nghe chuỗi âm thanh đuổi nhau qua
những ngón tay lướt nhanh trên phím đàn, ông chợt cảm
giác cả một không gian đang rạn vỡ. Cả một ṿm mái bằng
thủy tinh chợt vỡ vụn rơi xuống, tạo thành chùm âm thanh
rạn vỡ. H́nh ảnh ấy h́nh như vẫn chưa phản ánh trung
thực âm thanh mà ông nghe được từ một giai điệu gần như
tuyệt đối không lời, v́ không thể có lời ǵ đủ để diễn
tả. Nhà thơ cảm giác như ḿnh đang nghe tiếng ngọc rạn
vỡ, tiếng phượng hoàng kêu (hay hót) trên đỉnh Côn luân
cao ngất; âm thanh tṛn như những giọt sương rơi trên
cánh hoa phù dung mong manh, như âm thanh từ tiếng cười
nụ của đóa lan thơm ngát. Âm hưởng lạnh buốt như hơi
lạnh đang tan loăng trong ánh sáng trước mười hai cổng
thành. Hai mươi ba sợi tơ đàn không hầu làm rung động cả
đức Tử hoàng, đức Thượng đế ngự trên khung trên trời tím
cao tột cùng và bao la vô tận. Rồi ông cảm thấy, trong
khoảng không gian bao la kia, trong suốt như một ṿm tủy
tinh xanh biếc, vô hạn, vô cùng tận, mà thần thoại về
tạo thiên lập địa nói rằng có nhiều chỗ nguyên thủy bị
thủng nay đă được bà Nữ Oa luyện đá ngũ sắc để vá lại;
trong khoảng không gian mà bà Nữ Oa luyện đá vá Trời ấy,
đá vỡ, trời kinh, đọng mưa thu:
崑山玉碎鳳凰叫,芙蓉泣露香蘭笑。
十二門前融冷光,二十三絲動紫皇。
女媧煉石補天處,石破天驚逗秋雨。
(李賀,李憑箜篌引)
Cô sơn
ngọc toái phượng hoàng khiếu;
Phù dung
khấp lộ, hương lan tiếu;
Thập nhị
môn tiền dung lănh quang,
Nhị thập
tam ty động Tử Hoàng.
Nữ Oa
luyện thạch bổ thiên xứ,
Thạch phá
thiên kinh, đậu tu vũ.
(Lư Hạ,
Lư Bằng không hầu dẫn)
Đó rơ
ràng là một thứ ngôn ngữ huyền thoại. Song le, không c̣n
có ngôn ngữ nào sinh động hơn đủ để diễn tả những rung
động từ thâm sâu của tâm tư nhà thơ đang nghe tấu nhạc.
Vị Bồ tát
ấy, sống giữa mọi người, cũng gánh chịu thân phận như
mọi sinh vật; cũng lăn lóc trong trường đời để phấn đấu
cho sự sống và lẽ sống, trên sân khấu kịch đời nhộn
nhịp; người ta có thể bắt gặp ông trong chốn quan trường
nơi mà tầng lớp thống trị thường trực đấu tranh quyền
lực với nhau bằng bạo lực và bằng gian dối; gặp ông
trong các giảng đường, học đường nơi mà các thế hệ trao
truyền cho nhau và đón nhận kiến thức tích lũy, có cái
thiện mà cũng có nhiều cái bất thiện; người ta cũng gặp
ông trong chỗ hang cùng, ngơ hẻm, trong chỗ bùn śnh,
lầy lội, dưới đáy của xă hội, nơi mà nhiều lớp người
đang sống vật vờ trong cảnh tối tăm, cùng khốn. Ông đến
những chỗ đó, bằng phép lạ nào đó, mà những bạo chúa trở
thành hiền minh, những kẻ khốn cùng trở thành gia chủ
hạnh phúc. Đấy là những sự nghiệp được thực hiện bằng
thần thông du hư tam muội, mà trong con mắt phàm phu th́
chẳng có ǵ là vĩ đại. Nhưng trong cách nh́n của bậc
trí, đó là thần thông diệu dụng c̣n ly kỳ hơn cả việc
nhét nguyên ḥn núi Tu-di vào một hạt cải; rót tất cả
khối nước từ bốn đại dương vào một lỗ rốn; ôm cả một thế
giới Ngân hà chu du khắp vũ trụ.
Vậy th́,
Huyền thoại Duy-ma-cật không phải là truyện thần kỳ sáng
thế, không phải là kư ức mập mờ mộng tưởng về quá khứ
nhân loại, hay là sự thăng hoa từ những ức chế trong đời
thường. Huyền thoại Duy-ma-cật là chuyện thường ngày của
mọi sinh linh và tự biết đang đổi thay trong từng khoảnh
khắc, nh́n thấy vô biên trong hạt cát.
Haṃsādiccapathe yanti,
ākāse
yanti iddhiyā;
nīyanti
dhīrā lokamhā,
jetvā
māraṃ savāhiniṃ.
Dhp. 175
Thiên nga
bay theo đường mặt trời,
Người có
thần thông bay trong hư không;
Bậc trí
dẫn ra khỏi thế gian,
Sau khi
chiến thắng Ma quân.
T.S. |