|
Tầu Cộng:
"Mở Rộng Không Gian Sinh Sống"
Phần 1: Một giống di dân mới đang hình thành.
•
Dịch và nhận định: Hùng Nguyễn
"Người Tầu của chúng ta khôn ngoan hơn người Đức bởi
vì, một cách cơ bản, chủng tộc của chúng ta siêu
việt hơn chủng tộc của họ. Thành ra, chúng ta có một
lịch sử lâu dài hơn, nhiều người hơn, diện tích đất
đai lớn hơn. Trên nền tảng này, tổ tiên chúng ta để
lại cho chúng ta hai di sản chính yếu, đó là thuyết vô
thần và sự thống nhất lớn lao. Chính Khổng Tử, người
khai sáng văn hóa nước Tầu chúng ta, người cho chúng
ta di sản kế thừa này. ... Các nước Tây Phương đă
thiết lập các thuộc địa khắp thế giới, thành ra họ
có một lợi thế về ấn đề không gian sinh sống. Để giải
quyết chuyện khó khăn này, chúng ta phải dẫn dắt
người Tầu chúng ta ra khỏi nước Tầu để họ có thể
phát triển bên ngoài nước Tầu."
Trích diễn văn Trì Hạo Điền, bộ trưởng Quốc Phòng
và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Tầu Cộng, tháng
02-04, 2005
Liên hệ lời trích dẫn trên với loạt phân tích dài 3
phần mà người dịch xin thu tóm vào 2 kỳ, mang tựa đề,
"Đợt Sóng Thứ Ba của Tầu - China's Third Wave" của tác
giả Bertil Lintner, lên mạng atimes.com ngày 17-04-2007
vừa qua, tưởng đă đến lúc thế giới cần duyệt lại
quá trình lịch sử để có thể đối phó với các thảm họa
mà Hán tộc có thể gây ra. Trong tinh thần này, người
dịch xin giới thiệu đến quư bạn đọc bản dịch 2 kỳ
của 3 phần trên.
CHIANG MAI, Thailand – Một hàng hỗn loạn các công dân
Tầu Cộng chen lấn nhau để được vào phi cảng thuộc
thành phố Chiang Mai miền bắc Thái lên phi cơ bay về
Bangkok. Họ nói chuyện xì xào, không phải thuần túy
bằng tiếng Tiều-châu (Teochew) được dùng nhiều trong
các vùng phụ cận tỉnh Dung-nan (Yunnan) và rất phổ
thông trong vùng bắc Thái. Thay vào đó, họ nói bằng
tiếng Quan-thoại (Mandarin) của vùng lục địa Tầu
Cộng.
Họ cũng không phải là du
khách: quần áo nhếch nhác, rương đựng đồ rệu rạo và
các điện thoại cầm tay đánh dấu họ như là những
thương gia bay đến Bangkok tìm kiếm giao dịch thương
mại hay việc làm trên bộ. Họ là một số trong luồng
sóng mới của di dân Tầu mà trong thập kỷ vừa qua đă mở
cửa hàng hay nhà hàng trong vùng Chiang Mai và những
thành phố khác thuộc vùng bắc Thái - một cuộc tấn
công từ từ khiến cho một số dân địa phương Thái quan
sát với thái độ thiếu thiện cảm.
Một phụ nữ Thái sinh tại
Bangkok và hiện đang sống tại Chiang Mai phát biểu,
"Là một người Thái, tôi cảm thấy bị tràn ngập. Dĩ
nhiên, người Tầu đă nam di trong nhiều thế kỷ qua. Nhưng
chúng tôi chưa bao giờ thấy có nhiều thương gia và di dân
đến như bây giờ."
Bắc Thái chỉ là một trong
những nơi họ đến. Một số lớn người Tầu cũng đang
đến các vùng bắc Miến-điện, Lào, Cambốt và xa hơn -
gồm có các vùng đảo nam Thái Bình Dương, Úc, Mỹ,
Viễn Đông Nga và Nhật. Gần hơn nữa, Nam Hàn đă trở
thành mục tiêu phổ thông cho các di dân Tầu - cả loại
hợp pháp lẫn bất hợp pháp - vì nơi này dễ đến hơn
Nhật.
Những di dân Tầu mới thuộc
"giống" khác với loại "bộ nhân" trước kia, là những
người thường nói tiếng địa phương và ít cho thấy có
khuynh hướng chủ nghĩa quốc gia, và sống hòa nhập với
dân Tầu nơi họ đến. Thành phần di dân mới chẳng
những nói tiếng Quan-thoại, mà còn có khuynh hướng
thống hợp toàn bộ di dân Tầu vào một khối.
Luồng sóng mới của di dân
Tầu đến Đông Nam Á và xa hơn - là cái mà các chuyên gia
về Tầu gọi là "Luồng sóng thứ ba" của di dân Tầu - nó
chưa từng xảy ra trong lịch sử Tầu chẳng phải vì
những di dân này xuất phát từ các tỉnh phía bắc và
trung tâm Tầu, mà còn vì việc di chuyển trở nên dễ
dàng hơn nhờ các phương tiện di chuyển được nối liền
trong nội địa và ra bên ngoài nước Tầu. Điều này
khiến con số di dân trở thành cao hơn nhiều so với các
đợt di dân trước kia trên toàn cầu.
Andrew Forbes, một chuyên gia
về Tầu tại Chiang Mai đă bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu
quan hệ giữa Tầu với các nước Đông Nam Á cho biết,
"Luồng sóng di dân Tầu mới khác hơn nhiều so với các
luồng sóng trong quá khứ. Họ trưởng thành trong một
nước thống nhất hơn nhiều so với trước kia. Hiện đang
có một cảm nhận khác về việc là một người Tầu:
những người di dân mới yêu nước và trung thành với tổ
quốc của họ."
Nyiri Pal, một chuyên gia về
Tầu người Hungary, đồng ư rằng không giống với các
đợt di dân Tầu trong vùng Đông Nam Á, Mỹ và Úc. Ông
cho rằng những di dân mới này không cảm thấy họ không
còn là một người Tầu nữa. Theo lời Nyiri, họ tự coi
mình không phải là người địa phương, nhưng là một trong
"thành phần đa số toàn cầu - global majority"
với một liên hệ với mà chẳng dính líu ǵ với chủ
nghĩa quốc gia có tính địa dư. Chẳng những Hán là
tộc và nguồn gốc văn hóa của họ, mà còn là nền tảng
của sự thành công về kinh tế của họ - là một nơi mà họ
tiếp tục đầu tư và liên hệ.
Đôi mắt mù của nhà nước
Điều rất có thể là nhà cầm
quyền Tầu Cộng không trực tiếp khuyến khích cuộc di
dân này. Nhưng dường như điều khó nghi ngờ là quan chức
Bắc Kinh cảm nhận ích lợi của việc di dân ở tầm mức
lớn ra khỏi một nước đang bị nhân mãn với số tài
nguyên giới hạn. Trước tiên, việc di dân ra ngoài có
chức năng như một cái van an toàn xă hội vào lúc mà
thất nghiệp th́ cao và có số lượng lớn dân Tầu trẻ đang
sục sạo tìm việc khắp nơi trong nước. Thứ nhì, đồng
lương bằng ngoại tệ kiếm ra thường được gửi về gia
đình là một nguồn lợi tức quốc gia quan trọng. Điều
thứ ba có tính trường kỳ hơn: di dân ra nước ngoài sẽ
củng cố sự có mặt và ảnh hưởng kinh tế của Tầu ở mức
độ toàn cầu.
Để nhấn mạnh đến các ư
kiến chính thức về khuynh hướng này, Nyiri đưa ra một
bài viết trong một tạp chí Tầu có trích dẫn "ư Kiến
của [Hội Đồng Nhà Nước] về Công Cuộc Di Dân Mới Chưa
Được Công Khai Hóa – Opinion on Unfolding New Migrant
Work":
"Từ khi cải cách và mởc ửa, người ta rời khỏi lục
địa để ra hải ngoại (gọi tắt là "di dân mới") với số
lượng ngày càng nhiều. Họ đang chỗi dậy như một lực
lượng quan trọng trong lực lượng Tầu hải ngoại và
các cộng đồng Hán tộc. Trong tương lai, họ sẽ trở
thành lực lượng nòng cốt (xương sống) thân thiện với
chúng ta tại Mỹ và các nước tiên tiến Tây Âu khác.
Củng cố công cuộc di dân có ư nghĩa thực tiễn quan
trọng và sự sâu xa của nó, đặc biệt đáng kể trong
việc quảng bá sự kiến trúc của tân quốc gia của
chúng ta, bành trướng ảnh hưởng của đất nước và
phát triển quan hệ đất nước chúng ta với các nước sở
tại. Một trong những nước ấy chính là nước của
Nyiri: Hungary. Mười lăm năm trước đây, di dân Tầu rất
ít và sống thưa thớt tại Hungary. Nhưng sự sụp đổ của
chủ nghĩa CS tại Đông Âu đă mở ra một thị trường mới
cho các cơ sở kỹ nghệ tư và chặt chẽ mà nói, nhiều trong
số này đến từ nước cộng sản sau cùng trên thế giới:
Tầu."
Được biết hiện có khoảng từ
20,000 đến 40,000 người Tầu tại Hungary, mà hầu hết
đến bằng đường hỏa xa từ Vladivostok vượt biên giới
trong vùng Viễn Đông Nga.
Điều ngày càng hiển nhiên là
sự bừng dậy về kinh tế và chính trị Tầu đă tạo ra đợt
di dân mới vào Hungary, Đông Nam Á và các nơi khác một
niềm tự tin về chủng tộc và sự tự hào. Nhưng chính
niềm tự hào dân tộc của đám di dân mới này cũng là
một yếu tố tạo ra các căng thẳng giữa thế hệ di dân
mới và những người di dân cũ, là những người e ngại
rằng sự công khai bày tỏ chủ nghĩa dân tộc sẽ khơi
mào sự bực tức và do đó sinh ra sự hồ nghi về các cộng
đồng Hán tộc trong đất nước mà họ đang sống.
Đă có một số biến cố về tinh
thần chống Tầu làm phát sinh ra những quan ngại này.
Thí dụ, tháng Năm-1999, 300 "người mới" tập trung bên
ngoài tòa đại sứ Mỹ tại thủ đô Phnom Penh của Cambốt
để biểu tình phản đối việc đánh bom tòa đại sứ Tầu
tại Belgrade, mà lúc đó Mỹ đă xác nhận là một cuộc
đánh bom lầm.
Một nhóm nhỏ hơn người
Cambốt gốc Tầu, đă sống tại đây nhiều thế hệ, liền
tổ chức một cuộc biểu tình phản đối, chống lại nhóm
biểu tình kia, mà một người trong họ nói: "Các
anh không phải là anh em của chúng tôi. Người của các
anh đă tàn sát chúng tôi trong triều Pol Pot."
Tưởng nên nhắc lại, người Tầu đă bị đàn áp thậm tệ
trong suốt thời gian Khmer Đỏ 1975-1979 bởi chế độ Pol
Pot do Bắc Kinh bảo hộ.
Tại thành phố phía bắc
Miến-điện, Mandalay, những di dân Tầu mới đến mua
tiệm buôn, nhà hàng, khách sạn, quán karaoke – và thẻ
giấy tờ hộ tịch. Với số tài sản tương đối cao của
các di dân Tầu so với dân địa phương, nhà cầm quyền
tại Miến đă phải miễn cưỡng củng cố luật di trú. Trên
thực tế, một nhà tiểu thuyết nổi tiếng Miến là Nyi Pu
Lay, ngay từ năm 1990 đă bị bắt – khi nhóm di dân Tầu
đầu tiên bắt đầu tràn vào Mandalay – và bị kết án 10
năm tù về tội viết cuốn truyện mang tựa đề "Con Trăn –
The Python", về việc di dân Tầu tràn vào thành phố và
đẩy dân Miến địa phương ra khỏi nơi cư trú của họ.
Cộng đồng di dân Tầu cũ
tại Miến-điện – hầu hết là người gốc Phú-sĩ (Fuji)
và Canh-tân (Canton) – cảm thấy không thoải mái với sự
gia tăng căng thẳng chủng tộc này; người Miến gốc
Tầu nhớ lại việc các nhóm khác nhau gây bạo động
tại Phố Tầu ở Yangon năm 1967, đốt cháy và tấn công
các tiệm buôn Tầu vào lúc toàn quốc bị lâm vào
khủng hoảng kinh tế.
Một thế tản dân diaspora
[1] trong thời đại mới
Vậy thì điều gì đă thúc
đẩy cuộc di dân Tầu mới này? Chin Ko-lin, mỗt người
Miến gốc Tầu hiện là giáo sư thực thụ trường Luật
Tội Phạm ĐH Rutgers, Mỹ, cho biết luồng di dân bắt
nguồn từ sự thay đổi chính sách tại Tầu sau năm 1978,
khi Washington và Bắc Kinh tái lập bang giao. Để hội đủ
điều kiện cho quy chế tối huệ quốc, Tầu Cộng nới
lỏng sự kiể m soát di trú năm 1979, rồi từ đó luồng
sóng di dân bắt đầu.
Chin giải thích,
"Rồi bắt đầu từ cuối thập niên 1980, một số người
không hội đủ tiêu chuẩn di trú đă quay sang các nhóm
buôn lậu người."
Như vậy, việc di dân Tầu ra khỏi lục địa một phần là
tội phạm, một phần là một thứ nghiệp vụ có nhiều
lợi nhuận. Vào thập niên 1980, cái gọi là chương
trình "cải cách và mở cửa" của Tầu dưới triều Đặng
Tiểu Bình đă mở đường cho người Tầu tìm kiếm cơ hội
tại hải ngoại.
Việc chuyển từ kinh tế nông
nghiệp sang kỹ nghệ, sự sa thải hàng loạt xảy ra
tại các xí nghiệp quốc doanh và sự mau chóng kỹ
nghệ hóa các tỉnh duyên hải đều làm phát sinh sự
rời bỏ nơi cư trú và di dân. Và đám di dân Tầu đă mau
chóng khám phá ra cách thức tinh vi để tránh được
các luật lệ di trú cả trong lục địa lẫn tại hải
ngoại. Nếu biên giới trên bộ và phi cảng được canh giữ
cẩn thận, người di dân sẽ đi thuyền; nếu lực lượng
tuần duyên gia tăng hoạt động, họ đi bằng phi cơ.
Các lối "cửa sau" đă được
khám phá và nhân lên. Một thí dụ: di dân sẽ lén sang
Thái Lan bằng đường bộ, rồi bay từ
Bangkok sang Bucharest, Romania – là nơi có vé phi cơ rẻ
nhất đến Âu châu – rồi chuồn êm vào các nước trong
khối Liên Hiệp Âu Châu quanh đó. Trong tháng này,
Romania, một hội viên Liên Hiệp Âu Châu mới, bắt đầu
cho nhập cảng công nhân Tầu nhằm giải quyết vấn đề
thiếu hụt nhân công trong kỹ nghệ may mặc. Những
người khác bị buôn đến đảo Guam, Virgin Islands, hoặc
Puerto Rico, là những nơi có sự kiể m soát ít nghiêm
ngặt hơn bên trong nội địa Hoa Kỳ .
Trong khi chưa có được con số
chính xác, giới tình báo Tây Phương tin rằng đă có
đến gần 2 triệu người Tầu đă di dân hoặc hợp pháp,
hoặc bất hợp pháp tính từ năm 1978 cho đến nay, và
các cuộc di dân vẫn tiếp tục. Người ta ước tính có
đến từ 30,000 đến 40,000 người Tầu đến Mỹ mỗi năm, và
một con số tương tự đến các nước khác trên thế giới
hàng năm. Chin và các chuyên gia khác về ấn đề di dân
Tầu nói rằng đây là lần thứ ba trong lịch sử Tầu có
diễn ra một cuộc di dân vĩ đại như vậy.
Theo họ, luồng sóng đầu
tiên đến sau khi nhà Minh mất ngôi năm 1644 và bao gồm
hầu hết là người không nói tiếng Quan-thoại ở miền
nam, là những người đă chống lại giống Mãn-châu (nhà
Thanh) vừa chiếm ngôi tại Bắc Kinh. Những di dân này
thành lập các cộng đồng Tầu tại khắp Đông Nam Á, mà
hiện nay đang kiểm soát nhiều thành phần kinh tế và
phương tiện sản xuất trong vùng.
Đợt di dân thứ nhì đến sau
cuộc nổi dậy tại Đại-bình (Taiping) và các cuộc đàn
áp khác trong hậu bán thế kỷ 19 khi nhà Thanh của
Mãn-châu sụp đổ và nội chiến bùng nổ giữa các phe võ
trang khác nhau. Lần này chẳng phải di dân – một lần
nữa từ các tỉnh miền duyên hải – làm gia tăng dân số
các cộng đồng Tầu trong vùng Đông Nam Á, mà nhờ các
tầu thủy mới phát minh, di dân Tầu đă đến cả Bắc Mỹ
và Úc.
Di dân quốc gia
Nay, theo lời Forbes, thì
"Luồng Sóng Thứ Ba" di dân đến từ khắp nước Tầu. Hệ
thống đường bộ phát triển khắp nơi đă tạo ra sự di
chuyển người Tầu liên tục đến các nước Đông Nam Á –
và đường hàng không đă giúp họ dễ dàng đến được bất
kỳ nơi nào trên thế giới. Ông lập luận rằng di dân mới
trên thực tế sẽ có ảnh hưởng về kinh tế và xă hội sâu
xa hơn so với các nhóm di dân Tầu trước kia.
Một thí dụ là tại Nhật, đám
di dân lậu mới đến đây với con số cao hơn nhiều so với
các cộng đồng Tầu nhỏ đă sống nhiều thế hệ tại
Yokohama, Kobe và các thành phố cảng khác. Bọn con buôn
người Tầu, được biết rộng rãi là "bọn đầu rắn –
snakeheads", đang làm giầu nhờ chuyển di dân lậu bằng
đường thủy, hàng không, hoặc trá hình làm "du học
sinh" qua các chương trình trao đổi giáo dục.
Vì luật lao động khắc
nghiệt tại Nhật, nhiều người mới chẳng còn làm sao
hơn ngoại trừ làm tại các quán bar và câu lạc bộ ban
đêm, thường do các tổ chức tội phạm có tổ chức kiểm
soát. Hiện nay, các băng đảng Tầu còn bắt đầu thách
đố cả Yakuza, là một tổ chức tội phạm lớn của Nhật.
Các tranh chấp giữa các băng đảng từ Thượng Hải,
Phú-sĩ và Bắc Kinh đă bùng nổ thành những cuộc chạm
súng trong các thành phố vốn rất an bình của Nhật
như Tokyo và Osaka.
Tinh thần "Hán tộc" cao độ
này của làn sóng di dân mới có thể dẫn đến những
thay đổi theo vùng tại những quốc gia và lãnh thổ mà
họ định cư.
Một di dân tại Mỹ có thể trở
thành một "người Mỹ gốc Tầu" và một người Tầu tại
Úc thành một "người Úc gốc Tầu". Nhưng người Tầu
trong vùng Viễn Đông Nga – là nơi mà ảnh hưởng Tầu
ngày càng gia tăng – khó có thể trở thành một "người
Nga gốc Tầu". Thế có nghĩa là, họ sẽ tiếp tục là
người Tầu, chứ không phải người Nga. Tương tự, người
Tầu định cư tại các nước đảo nhỏ trong Thái Bình
Dương như Tonga và Marshall Islands sẽ tiếp tục là người
Tầu, mà sẽ có rất ít hoặc chẳng có một tí trung
thành nào với nước mà họ sinh sống cả.
Dù sao, đây cũng là một sự
kiện chưa từng xảy ra. Trong thế kỷ thứ 18 và 19, người
Âu châu đă di dân với số lớn đến các lục địa khác, từ
đó hình thành các nước như Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan
và các quốc gia mới khác. Người Tầu tuy không đi
chiếm thuộc địa, nhưng nếu họ bắt đầu chiếm đa số
tại những vùng như Viễn Đông Nga và các đảo Thái
Bình Dương, điều không tránh khỏi là sẽ dẫn đến việc
hình thành những cấu trúc chủng tộc, chính trị và
xă hội hoàn toàn mới tại những vùng này. Và ngay cả
trong trường hợp họ chỉ hình thành một nhóm thiểu số
quyền lực, ảnh hưởng chính trị của họ sẽ đáng kể
và là một thành phần để đối phó.
"Luồng Sóng Thứ Ba" của di
dân Tầu đă và đang giúp củng cố ảnh hưởng của Tầu
Cộng, đặc biệt trong các nước lân bang. Miến và Lào
đă thiết lập quan hệ kinh tế và ngay cả quân sự với
Tầu. Trao đổi thương mại cũng như giao dịch văn hóa và
chính trị giữa Thái và Tầu đang phát triển mạnh. Tầu
là đồng minh gần nhất của Cambốt, cũng là nguồn viện
trợ, mậu dịch và di dân đang gia tăng. Ảnh hưởng của
Tầu trong vùng Thái Bình Dương đang gia tăng làm lu mờ
Mỹ. Dù cố tình hay không, việc di dân hàng loạt đang
củng cố sự xuất hiện của Tầu như một thế lực lớn –
và toàn cầu.
Phần 2: Công cuộc Hán Hóa (Sinicizing) Nam Thái Bình
Dương
CẢNG MORESBY, Papua New
Guinea, và NUKU' ALOFA, Tonga – Chẳng có gì bất thường
về thực phẩm tại nhà hàng Tầu của Ang. Thực ra, món
vịt quay ở đây tuyệt diệu và tờ hướng dẫn Lonely Planer
bảo đảm với bạn rằng món canh chua-và-cay tại nhà
hàng này đặc biệt gợi khẩu. Tuy vậy, sự ngon miệng
này cũng chỉ bù đắp một phần nhỏ cho cái không khí ăn
uống tại đây.
Sân khách sạn được bao quanh
bằng tường cao có rào kẽm gai trên bờ tường và có ống
kính quan sát. Hai người an ninh canh cửa theo dõi lối
ra vào và chỉ mở chiếc cổng trượt nếu người gọi cổng
trông thuần túy là thực khách đến ăn. Qua cổng người
ta sẽ gặp một cánh cửa ra vào bằng sắt có người
canh gác, và họ chẳng những đóng cửa mà còn khóa
chặt sau khi khách vào bên trong khung cửa. Chỉ khi đó
thực khách mới có thể thưởng thức món ăn của Anh
trong một không khí tương đối yên ổn.
Chào mừng quan khách đến
Cảng Moresby, thủ đô của Papua New Guinea – và theo lời
Đơn Vị Tình Báo Kinh Tế Gia, th́ đây là nơi tệ nhất để
sống trong số 130 thủ đô và thành phố lớn của thế giới.
Các khách sạn lớn khuyên khách của họ không nên tản
bộ ra ngoài – ngay cả giữa ban ngày trong khu vực
trung tâm thành phố.
Tỉ lệ thất nghiệp tại đây
lên cao đến mức từ 70% đến 90% và tội phạm đă trở
thành lối sống cho các băng đảng thanh niên trẻ được
sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa mà các sứ
quân, đại gia và bạo động đă mọc rễ quá sâu. Thêm vào
đó là việc quá dễ dàng mua súng đạn trong thành phố,
và điều chẳng đáng lấy làm ngạc nhiên là hầu hết nhà
dân tại Moresby trông giống như các nhà tù được được
canh gác nghiêm mật và rằng khoảng 50,000 người Tây
Phương sống tại đây khi nền độc lập được Úc trao trả
năm 1975 cho đến nay đă giảm xuống chỉ còn vài ngàn.
Thế nhưng, theo như lời xì
xào bàn tán trong nhà hàng Ang, những người mới đến
từ Tầu Cộng đang mau chóng bù vào chỗ trống này với
tư cách là các thương gia, nhà thầu, và nhà xuất nhập
cảng hàng đầu trong cái xứ sở nghèo khó này. Trong
suốt lịch sử, di dân Tầu đă cho thấy sự bằng lòng
chịu đựng một cuộc sống khắc nghiệt để làm giầu
tại quốc gia mới – và người Tầu tại Cảng Moresby
cũng không ngoại lệ.
Ngày nay, di dân Tầu đến
những vùng kiểu Papua New Guinea cũng được chào đón
tại Bắc Kinh, là nơi dường như vội vă nhằm tạo ra sự
hiện diện bằng người cùng với sự bành trướng về ảnh
hưởng thương mại trong vùng giầu tài nguyên này. Trong
một tờ báo địa phương, cựu tổng trưởng quốc phòng
Papua New Guinea gần đây có viết, "Úc
luôn coi Papua New Guinea là sân sau của họ [nhưng] ... từ
năm 2000, Papua New Guinea đă gia tăng quan hệ song phương
với Tầu Cộng trong cách lãnh vựa mậu dịch, đầu tư
và quân sự ... Tầu có mặt tại đây để ởđây."
Theo nhà giảng huấn lão
thành Benjamin Reilly thuộc ĐH Quốc Gia Úc – ANU –
Australian National University, thì viện trợ quân sự của
Tầu Cộng dành cho vài nước đảo vùng Thái Bình Dương
còn duy trì quân đội – gồm Fiji, Vanuatu, Tonga và Papua
New Guinea – cho đến nay vẫn khiêm nhượng, gồm chính
yếu việc huấn luyện và tiếp liệu hơn là vũ khí,
nhưng đă gia tăng mạnh trong vài năm gần đây. Nhưng đầu
tư kinh tế, trái lại, công khai hơn nhiều.
Theo sau đồng tiền
Tháng 10, 2006, Thống Đốc
Toàn Quyền Papua New Guinea, Paulias Matane, gặp gỡ chủ
tịch Tầu Hồ Cẩm Đào và chào đón đầu tư Tầu Cộng
trong các lãnh vực khai thác hầm mỏ, lâm sản và chài
lưới. Tầu đă đầu tư vào việc phát triển một tỉ mỹ
kim vào mỏ kền Ramu nằm trong tỉnh Mandang, là nơi có
điều kiện làm việc khắc nghiệt đến mức nghiệp đoàn
lao động đe dọa sẽ đóng cửa khu hầm mỏ. Với các
đầu tư theo sau bởi một loạt di dân Tầu mà nhiều
người trong số đó hiển nhiên sẽ ở lại lâu dài. Theo ước
tính chính thức, hiện có khoảng 10,000 công dân Tầu
Cộng tại Papua New Guinea – dù vậy một số người tin
rằng con số thực sự còn cao hơn. Nhiều người trong số
này là di dân bất hợp pháp, nhưng passport vào Papua
New Guinea, và từ đó là quyền công dân tại đây không khó
kiếm. Thí dụ, trong năm 2000, một vụ gian lận passport
có liên hệ đến các viên chứ cao cấp Papua New Guinea từ
bộ ngoại giao bị khám phá – mà cho đến khi bị đóng
cửa chính yếu chỉ có lợi cho nhiều di dân Tầu đang
tìm cách trở thành thường trú nhân tại đây.
Trong khi đó, sự gia tăng trợ
giúp tài chính của Tầu Cộng đă làm nhòa đi bất kỳ
quan ngại nào của chính quyền về sự gia tăng di dân
Tầu và hiển nhiên đă làm giảm mức phát triển kinh tế
khi các nước cấp viện truyền thống khác như Úc
chẳng hạn đe dọa cúp viện trợ vì tham nhũng, bè
phái và lạm dụng quyền hành.
Tarcy Eri, một nhân viên
ngoại giao cao cấp, nói nhân dịp kỷ niệm toàn quốc
của Tầu, ngày 1-10-2005,
"Tình trạng chỗi dậy về kinh tế và quân sự của Tầu trở
thành một cột trụ quan trọng cho các nước đang phát
triển như Papua New Guinea." Tiếng nói của Tầu Cộng
tại Liên Hiệp Quốc, theo ông, là "tiếng nói cho thế
giới đang phát triển."
Ngoài vùng Viễn Đông Nga và
các phần liên tiếp trong vùng Đông Nam Á, Nam Thái
Bình Dương nói chung và Papua New Guinea nói riêng đang
trở thành một trong 3 vùng trên thế giới có ảnh hưởng
của Tầu Cộng đang phát triển nhanh chóng đến độ sự
bàng trướng này có thể chẳng bao lâu sẽ dẫn đến sự
khác biệt chẳng những về kinh tế mà còn cả về nhân
chủng một cách đáng kể trong vùng.
Nam Thái Bình Dương rất quan
trọng đối với Bắc Kinh vì một số lư do chiến lược.
Một trong số đó là Đài Loan, hoặc, như tên chính thức,
là Cộng Hòa Tầu, đang cố gắng có được sự công nhận
ngoại giao từ quốc gia đảo nghèo trong vùng Thái Bình
Dương này, mà Bắc Kinh đă cố gắng hết sức để khước từ
hòn đảo mà Bắc Kinh coi là một tỉnh muốn đòi hợp
thức hóa trước quốc tế.
Bắc Kinh cũng tài trợ cho
việc thành lập ngân sách năm các cuộc tranh tài Nam
Thái Bình Dương năm 2004 được tổ chức tại Suva và Fiji.
Và Tầu cũng đă đầu tư rất nhiều vào Papua New Guinea,
là nơi giầu về tài nguyên thiên nhiên nhưng vì tình
trạng luật pháp và trật tự bất ổn nên đă không có sức
thu hút đối với đầu tư Tây Phương. Viện trợ Tầu Cộng
dành cho Papua New Guinea – là nước lớn nhất trong các
đảo Thái Bình Dương – hiện đứng thứ nhì sau tài
khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ của Úc mỗi năm.
Nhưng còn có các mục tiêu
chiến lược quan trọng hơn trong vùng Thái Bình Dương.
Trong khi Mỹ đang tập trung vào các tranh chấp trong
vùng Trung Đông, thì Tầu đang thiết lập các con đường
nhân sự vào nơi đă từ lâu được coi là nằm trong vùng
ảnh hưởng của Mỹ. Nhiều phân tích gia còn cho rằng
vùng Thái Bình Dương trong tương lai có thể trở thành
vùng Chiến Tranh Lạnh mới, là nơi mà Tầu và Mỹ sẽ
cạnh tranh lấy các nước đối tác và lợi thế chiến
lược.
Tầu Cộng hiện đang bành
trướng ảnh hưởng trong vùng Thái Bình Dương, mà theo
lời Railly của ANU, với "mục tiêu dài hạn là thách đố
Mỹ giành làm thế lực chính trong vùng. Hiện nay
người ta không thể tự nhiên coi vùng
Oceania tiếp tục là một 'cái hồ của Mỹ'", mà Tonga là
một trường hợp điển hình cần lưu ý.
Ghi chú của times.com:
Bertil Lintner nguyên là cựu
biên tập viên tờ Viễn Đông Kinh Tế - Far Eastern Economic
Review và hiện là ngòi bút của Asia-Pacific Media
Services. Loạt bài này là một phần trong một tài
liệu nghiên cứu lớn hơn được thực hiện với sự yể m
trợ của cơ quan John D và Catherine T MacArthur
Foundation.
Ghi chú của người dịch:
1. Diaspora: khi viết không
hoa, được dùng để chỉ bất kỳ dân tộc hoặc chủng tộc
nào bị buộc hoặc kích động rời quê hương tản mác ra
khắp nơi trên thế giới, mà vẫn bảo đảm việc duy trì
văn hóa riêng trong vùng đất mới.
Chữ này nguyên thủy được
dùng trong Cựu Ước để chỉ việc dân Do Thái bị lưu
đày từ vùng đất hứa Judea sang Babylon (Iraq ngày nay)
vào năm 586 trước Công Nguyên; và bị người La Mă đem
đày tại nhiều nơi khác nhau vào năm 136 sau Công
Nguyên.
|