|
VUA KANISHKA
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO
Trần
Trúc-Lâm
Các chữ
viết tắt:
PG: Phật Giáo. TTL: Trước tây lịch. TK: Thế kỷ. SKT: Sách kể
trên. GCTG: Ghi chú của tác giả.
Khởi Nhập:
Trong bài lược
khảo về “Khung cảnh lịch sử quanh bộ kinh Malindapanha”
người viết có nhắc đến sự xuất hiện
vào thế kỷ thứ 3 TTL
của các sắc
dân Scythian và
Kushan ở vùng tây bắc lục địa Ấn, bao gồm Afghanistan và
Pakistan, đă làm thay đổi sâu sắc lịch sử trong vùng cho đến
ngày nay. Vào
đầu thiên niên kỷ thứ nhất, có một
vị vua nổi bậc mang tên
Kanishka
(Hán-Việt âm là Ca
Nị Sắc vương, Ca Nị Sắc Ca, Kế Nị Ca vương, Đàn Kế Nị vương,
Cát Ni Thi Cát vương, Ca Nị Sắt Tra vương – GCTG)
của đế quốc Kushan, hậu duệ của
những sắc dân ấy đă đóng một vai tṛ thiết yếu cho sự phát
triển của Đại thừa Phật giáo (viết tắt PG) và rồi truyền bá
sang Trung quốc. Ông đă được kinh sách PG tán tụng không kém
ǵ vua Asoka của đế quốc Maurya ở Ấn vào 3 thế kỷ trước, vua
Menander của xứ Ấn-Hy vào giữa TK 2 TTL, các vua triều đại
Gupta ở TK thứ 5 TL và vua Hashavardhana ở TK thứ 6 TL.
Nguồn gốc của dân Sakas (Scythians) Và Yuezhi
(Kushans):
Suốt lịch sử Trung quốc từ
thời cổ đại cho đến cận đại, nước Tàu luôn bị các giống dân
du mục ở phía tây mà sử Tàu có khi gọi là rợ Hồ, hay có khi
gọi chung là Hung nô luôn kéo quân sang cướp phá uy hiếp.
Ngay cả dưới thời nhà Hán, nhiều khi triều đinh c̣n phải
cống phẩm vật để cầu ḥa, và c̣n gă cả phụ nữ hoàng gia cho
các vua Hung (gọi là thiền-vu) như chuyện “Chiêu
Quân cống Hồ”; hay chuyện một vị quan tên Tô Vũ triều Hán Vũ
đế bị Hung Nô bắt, phải đi chăn dê ở gần hồ Balkan, Tây vực
suốt 19 năm; có khi sử Tàu c̣n ghi việc tướng
Pan-Chao (Ban
Siêu, đời Hán Minh đế) chống lại quân Kushan ở
Khotan (Hán ngữ
hay ghi là Khuất
Đan, Vu Điền, Vu Điện, Vu Độn, Khê Đan) vào năm
90 TL.
Áp lực của rợ ở tây vực vẫn
c̣n nặng nề măi về sau
cho đến thời Ngũ
đại sau khi nhà Tống bị sụp đổ, rồi nhà Nguyên, nhà Thanh
đều là gốc man di vv..
Ở Trung quốc, vào
khỏang đầu thế kỷ thứ 3 TTL, Tần Thỉ Ḥang sau khi thống
nhất đất nước vào năm 221 TTL đă tạm đuổi được rợ Hung Nô
(Xiongnu, Hiung-nu: Huns) ra xa bờ cơi. Khi
thua trận quân Hung
di dân sang phía tây đánh đuổi những bộ tộc Yuezhi (Nguyệt
Chi hay Nhục Chi) sinh sống ở lưu vực Tarim (Xinjiang và
Kansu ngày nay) đến vùng sông Ili vào khỏang 175 TTL. Đến
lược họ, người Nhục Chi, lại đẩy các bộ lạc Sakas (mà tiếng
Hy-lạp gọi là Scythians, và tiếng Hán là "Sai"
塞),
có nguồn gốc Mông cổ, về phía tây nam vào các xứ Parthia
(vùng đất bị tách ra từ đế quốc Seleucid vào năm 281 TTL, xứ
c̣n lại là Syria – GCTG) khỏang 138-124 TTL.
Đến khỏang giữa TK 2 TTL,
các bộ lạc Sakas và Yuezhi liên kết nổi dậy giết được các
vua
Phraates II và
Artabanus I của
xứ Parthia, nhưng rồi bị vua
Mithridates II
(kh. 123-87 TTL) đánh bại vào khoảng năm 100 TTL.
Dân Yuezhi liền kéo vào xứ
Bactria, vốn đă được độc lập khỏi Seleucid từ năm 205 TTL.
Bấy giờ vùng này được cai trị bởi những triều vua Hy-Ấn
(Indo-Greek), hậu duệ từ các cuộc xâm lăng của người Hy-lạp
do đại đế Alexander khởi xuất vào khoảng 326 TTL. Vùng đất
họ định cư ở Bactria được gọi là
Tokharistan, và
dân
Yuezhi được người
Hy gọi là
Tocharians. Các
giống dân mới, sau khi định cư dần đồng hóa với nền văn hóa
Hy.
Trong khi ấy
th́ dân Sakas tái
địinh cư ở phía nam xứ
Afghanistan ngày
nay, được gọi là Sakistan, và sống lẫn lộn với các giống
Pahlavas và
Kambojas. Từ đó
họ dần bành trướng vào phía bắc của lục địa Ấn sau khi Maues
chiếm được vùng
Gandhara và
Taxila khoảng năm
80 TTL.
Năm 78
TTL
dân Sakas chiếm được Ujjain
và năm 60 TTL chiếm
Mathura ở phía đông
và
Surastrene (Gujarat)
ở phía tây
nam của
Ấn;
rồi đặt quan thái thú hay tiểu vương cai trị.
Nhưng vương quốc này sớm tan ră sau khi vua Maues qua đời.
Các vua Hy-Ấn
Apollodotus II
(80-65 TTL) và
Hippostratos
(65-55 TTL) chiếm
lại
Gandhara
và vua
Vikrama
ở Ấn tái chiếm Ujjain vào năm 58 TTL.
Ba năm sau, vua
Azes I
của dân Sakas phản công chiếm lại toàn vùng tây bắc lục địa
Ấn sau khi đánh bại vua
Hippostratos
lập nên vương quốc Indo-Scythians.

Đồng tiền có h́nh của vua Azes II
Đến triều vua
Azes II (90-12 TTL), ông đă diệt hết các tiểu vương quốc
Hy-Ấn. Nhưng sau khi vua Aze II mất th́ vương quốc
Indo-Scythian bị giống Kushan, vốn là một bộ phận của rợ
Yuezhi, xâm chiếm lập nên Đế quốc Kushan (nên sử Tàu hay gọi
lẫn lộn là xứ Khuất Chi hay Nhục Chi) kéo dài vài thế kỷ,
chỉ bị tạm dứt khỏang một thế kỷ khi bị dân Parthians xâm
lăng từ 20 TL đến 75 TL, rồi phục hồi trở lại.
Ban đầu dân của 5 bộ lạc
Yuezhi được vua Kujula
Kadphises I kết hợp lại, tiến về phía đông chiếm và định cư
tại vùng
Hindu Kush rồi
các vị vua kết iếp dần bành trướng khắp phía bắc Ấn.
Đế quốc
Kushan tồn tại từ TK thứ I đến TK 3 TL, trăi dài từ
Tajikistan
đến biển Caspian và Afghanistan, cho măi đến thung lũng sông
Ganges. Trong nhiều thế kỷ, đế quốc này là trung tâm giao
dịch giữa các xứ đông và tây phương. Các triều đại huy ḥang
nhất là từ 100 đến 250 TL có Kanishka I (127-151 TL),
Huvishka (156-184 TL), Vasudeva I (188-222 TL), Kanishka II
(222-241 TL) và Vashishka (241- 256 TL.)
Phổ hệ của các vương triều
Kushan:
Bia kư Rabatak đă
ghi rơ phổ hệ của các vương triều
Kushan, cho thấy
Kanishka kế vị
vua
Vima Kadphises và
kẻ kế vị
ông là
Huvishka mà chi
tiết các việc lên ngôi không được lưu lại rơ ràng. [Nicholas
Sims-Williams (1998): "Further notes on the Bactrian
inscription of Rabatak, with an Appendix on the names of
Kujula Kadphises and Vima Taktu in Chinese." Proceedings of
the Third European Conference of Iranian Studies Part 1: Old
and Middle Iranian Studies. Edited by Nicholas
Sims-Williams.
Wiesbaden. 1998, pp.
79-93.]
|
|
Tên
Vua |
Thời
gian trị v́ |
Năm
trị v́ t́m thấy trên bia kư |
|
|
Kajula
Kadphises |
Ít nhất
23 năm |
103-136
(?) |
|
|
Vima
Takpiso |
Ít nhất
20 năm |
279-299
(?) |
|
|
Vima
Kadphises |
|
184(?) |
|
|
Kanishka I |
23-27
năm |
1-23
(Đây không phải là năm theo tây lịch mà là năm đầu của
lịch triều Kanishka);
127 - 151
TL. |
|
|
Huvishka |
32-40
năm |
28-60
kể từ triều Kanishka; 156-184 TL. |
|
|
Vasudeva |
34-40
năm |
64-98;
188-222 TL. |
|
|
Kanishka II |
Khoảng
19 năm |
222-241 TL. |
|
|
Vasishka |
8 - 20
năm |
241-256
TL (?) |
|
|
Kanishka III |
Không
rơ |
Không
rơ |
|
|
Vasudeva II |
Không
rơ |
170
(297 ?i) |
|
|
Shaka |
Không
rơ |
|
Có vẻ như Kanishka không
trực thuộc gịng của tiên vương Kadphises. Nhiều ư kiến cho
rằng ông từ một gịng khác như Khiết Đan từ Tân cương tranh
được ngôi vua, hoặc là thủ lănh từ một tiểu vương Ấn cướp
ngôi thành công.
Ḥang
Đế Kanishka I (127
-
151 TL):
|
 |
|
Tiền vàng có h́nh vua Kanishka I (khoảng 130
TL). Kanishka đứng thẳng trong bộ chiến phục Kushan,
ủng cao, ngọn lửa phát ra từ hai vai, tay trái cầm uy
trượng, đang dâng cúng vật trước bàn thờ. Ghi chú bằng
chữ Hy-Bactrian viết "Shaonanoshao Kanishki Koshano":
có nghĩa "Vua của các vua, Kanishka dân Kushan". |
Tuy Kanishka được
biết như là một ông vua lừng danh của đế quốc Kushan; và đă
được kinh sách Đại thừa PG ca tụng như một Hộ pháp vương vĩ
đại; thế mà v́ những nghiên cứu sử học ở vùng thung lũng tây
bắc Ấn cho đến nay chưa được khảo sát tường tận nên chưa có
một sự đồng thuận về
thời gian trị v́ của ông. Có thuyết cho là từ 78 TL đến 103
TL, có người bảo là từ 78 đến 144 TL, kẻ khác lại cho là từ
100-164 TL hoặc từ 128 đến
151 TL.
|
 |
|
Hoàng Đế
Kanishka |
Cho đến nay đă có
3 cuộc hội nghị chuyên đề tại Luân đôn để giải quyết việc
này vẫn chưa đem lại kết quả cụ thể. Gần đây những bàn luận
đă tập chú vào thời kỳ từ năm 100 đến 140 TL. Nhưng
vào năm 2004, nhờ vào một
khám phá trong việc nghiên cứu của Harry Falk thấy rằng thời
trị v́ của Kanishka đă được dân Kushan xưa dùng làm niên đại
đầu của lịch mới trong suốt một thế kỷ cho đến khi đế quốc
bị tan ră, nên nhiều người thấy năm đăng quang của Kanishka
là 127 TL có vẻ khả tín hơn. [Falk, Harry (2001): “The yuga
of Sphujiddhvaja and the era of the Kuṣâṇas.”
Silk Road Art and Archaeology VII, pp. 121-136.]

Bức tượng bằng đá bị hư hỏng của vua Kanishka, tương tự h́nh
được khắc trên đồng tiền, được trưng bày ở Viện bảo tàng
Mathura.
Những chứng cớ về cuộc đời
của vua Kanishka đă được gom góp lại từ những di tích khảo
cổ và trong văn học PG. Khi ông lên ngôi th́ đế quốc Kushan
đă hùng cường; tuy vậy ông lại bành trướng thêm dựa vào sự
lấn chiếm các nước nhỏ quanh vùng, đặc biệt là về phía đông.
Sự bành trướng này nhằm 2 mục đích: 1) Giữ vững sự kiểm soát
“con đường tơ lụa”; con đường kinh tế huyết mạch của thế
giới thời bấy giờ. 2) Truyền bá PG qua Trung hoa.
Dưới thời Kanishka, kinh đô
của đế quốc Kushan là Purushapura, bây giờ là
Peshawar
ở
Pakistan, nằm ở vùng
thượng lưu của các sông Indus và Ganges.
Đế quốc Kushan
thời này rất rộng. Nó trăi dài từ
Uzbekistan và Tajikistan,
vùng Trung
Á, trên
đồng bằng Oxus ở
phía tây bắc Ấn đến Varanasi ở phía đông; từ Kashmir ở phía
bắc đến Mathura và Gujarat ở phía đông nam bao gồm xứ Malwa.
Có lúc c̣n lan đến vùng
Kashgar,
Khotan và
Yarkand, là các
chư hầu của Trung quốc ở lưu vực sông
Tarim, Tân Cương
ngày nay. Nhiều đồng tiền có h́nh vua Kanishka đă đào được ở
đây. Để cai trị hiệu quả một đế quốc rộng lớn, hoàng đế bổ
nhiệm các quan satraps (thái thú), meridareks (huyện
trưởng), và strategoi (quân khu trưởng) phụ trách các miền.
V́ kiểm soát được con đường
tơ lụa và đánh thuế cao trên những lái buôn ngoại quốc đi
qua các quan ăi của lănh thổ đế quốc Kushan nên nền kinh tế
trong vùng rất sung túc với các thành phố lớn, nhiều đền đài
cung điện huy hoàng, thương măi sầm uất và nhiều nghiệp đoàn
nghệ nhân tụ hội từ các xứ tây và đông phương. Nhờ vậy mà
nền văn hóa và học thuật cũng phát triễn cao độ khi tiếp có
sự giao lưu giữa các nền văn minh lớn từ La Mă
(trong thời của các ḥang đế
Trajan và Hadrian: 98-138 TL) và Trung quốc
(dưới triều nhà Hán).
Sự dung ḥa các nền văn hóa:
Trong sự phát triển và lớn
mạnh của đế quốc Kushan đă có sự tiếp thu và dung ḥa nhuần
nhuyển các nền văn hóa địa phương; rơ nét nhất là dưới triều
vua Kanishka. Điều này được biết đến qua các đồng tiền thời
ông đă đào được trong các cuộc khảo cỗ
ở vùng
Kashmir.
Trong đó
đồng tiền thời vua Kanishka có mang nhiều dấu vết đa thần từ
Ấn giáo, PG, Hy-lạp, Persian và ngay cả thần của xứ
Sumerian-Elamite trong
Zoroastrian (Bái hoả giáo).
Nó cho thấy có sự
thay đổi chuyển tiếp trong ảnh hưởng của các nền văn hóa, và
nổi bậc là PG.
Tương tự như các nhà cai
trị quân chủ khác, Kanishka cũng cho ḿnh có “thiên mệnh”.
Ông mang nhiều danh vị đă được khắc trên các đồng tiền dưới
thời
ông như “Vua của các vua”, “Đại vương”, “Thiên tử”, và
“Hoàng Đế”. Sau khi băng hà cũng được thần dân thánh hóa và
xây điện thờ.

Mặt sau của đồng tiền vàng có h́nh của nữ thần Hy-lạp
Helios. (kh. 130 TL).
Một vài đồng tiền ở những
năm đầu trị v́ của Kanishka đào được cho thấy dân Kushan
chịu nhiều ảnh hưởng Hy-lạp với ghi chú bằng chữ Hy trên
đồng tiền, ví dụ ΗΛΙΟΣ (Nhựt thần
Helios), ΗΦΑΗΣΤΟΣ
(Hỏa thần
Hephaistos),
ΣΑΛΗΝΗ (Nguyệt thần
Selene), ΑΝΗΜΟΣ
(Phong thần
Anemos).
Về sau dân Kushan dần chịu
thêm ảnh hưởng của Iran và Ấn, ví dụ như dấu triện mang h́nh
thần Iran tên Adsho đang cởi ngựa. Sau giai đoạn chuyển tiếp
ở Bactria, nhiêù h́nh

thần Persian thấy xuất hiện
trên đồng tiền dưới chữ Hy-lạp như ΜΑΟ (Nuyệt thần
Mao),

Vua Kanishka và Nguyệt thần Mao
ΟΑΔΟ (Phong thần
Oado), ΜΙΘΡΟ
("Mitro",
Mithra), vv..

và một số thần Ấn giáo cũng
được đúc theo như ΟΗϷΟ
"Oesho",
hóa thân của thần
Shiva.
Ông c̣n khuyến
khích sự dung ḥa giữa các trường phái nghệ thuật PG-Hy và
Mathura của Ấn
giáo, cùng với nền
học thuật
Gandhara của PG.
Dưới triều ông nền
văn hóa Gandhara được phát triển mạnh mẽ và đạt đến tuyệt
đỉnh cao độ với nhiều học giả, cao tăng, luận gia qui tụ.
Vua Kanishkan và sự hưng thịnh của phái Đại
thừa PG:
Các tiên vương
trước thời Kanishka đều tôn thờ đa thần giáo, nhưng đến thời
ông th́ trở nên một Phật tử thuần thành. Thời bấy giờ
phái Nhất thiết hữu bộ
(Sarvastivādins) của Đại chúng bộ đă bén rễ vững chắc ở vùng
Kashmir và Gandhara. PG đă được truyền bá đến vùng này nhờ
vào đoàn truyền giáo thứ 2 do đại sư Majjhantika cầm đầu
theo lệnh vua Asoka, và lời đề nghị của cao tăng
Moggaliputta Tissa sau kỳ kêt tập kinh điển lần thứ ba tại
Pàtaliputra vào khoảng năm 256 trước TTL.
Được sự hộ tŕ của vua
Kanishka,
phái Nhất thiết hữu
bộ càng được phát triễn mạnh mẽ và cao điểm là nhà vua đă
bảo trợ cho lần kết tập kinh điển mà trong Phật sử đại thừa
gọi là lần thứ tư, vào năm Phật lịch 618, tức khỏang đầu TK
thứ 2 TL, tại Jālandhar Kashmīrthat, Kashmir, gồm 500 vị
tỷ-kheo dưới sự chủ tọa của đại sư Vasumitra (Thế Hữu, dịch
âm là Bà-tu Mật-đa).
Mục đích của kỳ kết tập này là để soạn ra các bộ luận: Kinh
Sớ, Luật Sớ và Luận Sớ. Đại hội này chính là khởi điểm cho
sự phát triển của Đại thừa (Mahayana) về sau; và cũng nhờ
vua
Kanishka mà PG đă được truyền sang Trung quốc vào khoảng thế
kỷ thứ 2 TL.
Lần kết tập
này đă ghi lại tam tạng kinh bằng tiếng Sanscrit, và được
khắc lên rất nhiều tấm đồng, đặt rong những ḥm đá và để
thờ trong các tháp; thế nhưng ngày nay nội dung những bản
kinh này chỉ c̣n lưu truyền qua các bản dịch Hán tự.
Cũng trong
thời kỳ huy ḥang này có sự xuất hiện của những đại luận gia
PG như Nagarjuna (Long Thọ), Vasumitra (Bà-tu Mật-đa: Thế
Hữu) và Asvaghosha (Mă Minh). Tương truyền Asvaghosha c̣n
giữ vai cố vấn tôn giáo cho nhà vua.
Vào giữa thê kỷ thứ 2, tăng
đoàn ở
Gandhara đóng vai
tṛ quan trọng trong việc truyền bá PG về phương bắc và đông
Á châu. Một cao tăng người Vu-điền, tên
Lokaksema
(Chi-Lâu-Ca-Sấm, kh.
178 TL), đă đến
hoằng hóa tại kinh đô Lạc-dương (Lo-yang) trở thành người
đầu tiên dịch các kinh Đại thừa ra Hán ngữ. Từ
đó con đường truyền bá PG sang Trung quốc đă thiết lập vững
vàng.
Chính dưới thời
Kanishka đă làm cho PG thay đổi triệt để để thích nghi với
thời đại mới. Nhiều học giả đề ra giả thuyết cho rằng với đế
quốc rộng lớn kiểm soát con đường tơ lụa nối từ châu Âu đến
châu Á làm dung ḥa nhiều tư tưởng tôn giáo đông tây và bản
địa, đă xúc tác cho việc phát triển tư tưởng Đại thừa, chủ
yếu ở phia bắc Ấn (nên Phật sử hay gọi là “bắc truyền”).
Người ta cũng cho rằng v́ thế mà làm cho cốt lỏi PG bị biến
đổi nên suy yếu tại quê hương ḿnh; và Ấn giáo có cơ phục
hồi một khi đế quốc Kushan của ông bị tan ră. Nhưng người
khác lại cho rằng sự di cư ồ ạt của những bộ tộc du mục ở
nội lục địa Á châu vào vùng tây bắc Ấn dươi thời thịnh trị
của Kanishka, hoặc tràn sang châu Âu đă tàn phá những nền
văn minh và học thuật của địa phương trong đó có La-Mă và
PG, và đă đưa châu Âu vào thời kỷ Trung cổ tối tăm. Những ư
kiến này cần phải được t́m hiểu cặn kẻ thêm trước khi có một
kết luận chính xác.
Vua Kanishka c̣n
cho xây một đại tháp hùng vỹ tại thành
Kanishkapur
(mang tên ông) ở
Peshawar không xa
đèo
Baramula là bao
để thờ phụng xa-lị Phật trong một chiếc hộp bằng vàng. Ngày
nay đại cổ tháp chỉ c̣n trơ lại cái nền cao năm tầng.
Vào các năm
1908-1909, các
nhà khảo cổ đă xác định được rằng nền tháp có đường kính là
286 bộ (feet), và chiều cao th́ kư sự của đại sư Trung quốc
chiêm bái Huyền Trang (Xuan
Zang)
đă ghi là từ 600
đến 700 bộ Tàu, tức khoảng
180-210 metres hay 591-689
feet; cao khoảng 13 tầng nhà theo tiêu chuẩn ngày nay, bằng
gỗ chạm trổ tinh vi được chống đở bởi hàng cột bằng sắt mà
bên trên cột toả ra với bệ đở bằng đồng mạ vàng.
Rơ ràng nó là một kỳ quan của nhân loại vào thời bấy giờ.

Hộp chứa xá-lị (s. sarira) của đức Phật Thích Ca do vua
Kanishka dựng, cho thấy có đúc tượng Phật đang ngồi thiền
định và bao quanh bởi
Brahma và
Indra. Kanishka đứng
phí dưới bên trái. Một mẫu sao được lưu giữ
ở
British Museum.
Hộp xá-lị chính của đức
Phật Thích Ca tương truyền có chứa ba mảnh xá-lị (xương
Phật) vốn được tôn thờ trong đại tháp tại Shah-Ji-Ki-Dheri,
ngoại ô
Peshawar đă được
an trí ở Mandalay, Miến Điện vào năm 1910; c̣n hộp th́ được
lưu giữ ở Viện Bảo tàng Peshawar.
Hộp chứa xá-lị có khắc
gịng chữ
Kharoshthi:
"(*mahara) jasa kanishkasa kanishka-pure nagare aya
gadha-karae deya-dharme sarva-satvana hita-suhartha bhavatu
mahasenasa sagharaki dasa agisala nava-karmi ana*kanishkasa
vihare mahasenasa sangharame" “Thần tử Agisalaos (gôc
Hy-lạp), quản đốc mọi công việc tại đền Kanishka trong tu
viện Mahasena.”
Chung quanh có điêu khắc
hai h́nh đức Phật ngồi trên ṭa sen được hoàng gia hầu kính,
và h́nh các thần Persian như Nhật thần và Nguyệt thần. Một
tràng hoa trang trí chạy ṿng quanh hộp.
Hiện nay đang có sự bàn căi
về vị vua nào là người cho làm chiếc hộp dựa vào h́nh vua
trên hộp không có râu rậm như h́nh thường thấy về vua
Kanishka. Có người cho là đó là h́nh của vua kế vị là
Huvishka.

Vua Kanishka trong truyền
thống PG thường được mô tả như một bạo quân vô đạo trước khi
qui y PG như trong kinh Sri-dharma-pitaka-nidana sutra:
"Bấy giờ vua xứ Ngan-si (Pahlava) rất ngu xuẩn và tâm tánh
cuồng bạo. Một vị A-la-hán nh́n thấy những việc ác mà nhà
vua đă làm liền muốn làm nhà vua hồi tâm nên đă dùng thần
thông cho nhà vua thấy cảnh sẽ bị tra tấn ở địa ngục. Nhờ
thế nhà vua kinh hăi và hồi tâm.” [theo Kumar, Baldev.
1973. The Early Kuṣāṇas.
Trang 95 New Delhi, Sterling Publishers].
Ngoài ra việc xuất hiện của
vua Kanishka và việc xây dựng đại tháp vốn đă được đức Phật
báo trước. Trong Vinaya sutra kể: “... đức Phật chỉ vào
đứa bé đang ngồi chơi xxây tháp với đất sét .. [phán rằng]
chính trên chỗ này, Kanishka sẽ xây một bảo tháp mang tên
ông ấy.” [trang 91; SKT].
Câu chuyện tương tự đă được
ghi lại trong một cuộn kinh tiếng Khiết Đan t́m thấy ở Đôn
Hoàng (Dunhuang),
báo trước việc vua Kanishka sẽ xuất hiện 400 năm sau khi đức
Phật nhập Niết bàn và xây một đại tháp. [trang 89; SKT]
Đại sư Huyền Trang khi đi
chiêm bái qua Ấn vào khoảng năm 630 cũng ghi lại câu chuyện
này. [trang 93, SKT]
Các đồng tiền được đúc vào
thời vua Kanishka có h́nh đức Phật Thích Ca và Di Lặc đào
được chỉ chiếm khoảng 1%. Mặt kia có h́nh nhà vua như đă
thấy ở trên. H́nh ảnh trên các đồng tiền thời khắc chưa được
khéo, không chi tiết và thiếu cân đối.


Mặt sau của đồng tiền vàng có h́nh của đức Phật (kh. 130 TL)
với gịng chữ Hy-lạp
ΒΟΔΔΟ ("Boddo", đức Phật), hay
ϷΑΚΑΜΑΝΟ
ΒΟΔΔΟ ("Shakamano Boddho", đức Phật Thích Ca, hay Ο ΒΟΔΔΟ
("Metrago Boddo", đức Phật Di Lặc).
Dưới
đây là 6 mẫu tiêu biểu được vẽ lại.

Tượng Phật mặc áo tu sĩ theo kiểu Hy-lạp, gồm
antaravasaka,
uttarasanga, và áo
khoác ngoài
sanghati.

H́nh Phật Thích Ca trên
tiền bằng đồng cho thấy h́nh vẽ áo cà sa rất mỏng, có lẻ là
lớp áo lót
antaravasaka và
uttarasanga. Tay
trái khoác dăi
uttariya.
Các mẫu khắc trên đồng tiền
vàng về đức Phật đă được biểu tượng hóa khá xa với dáng tự
nhiên của các điêu khắc kiểu Hy-lạp ban đầu ở Gandhara.


H́nh đức Phật Di Lặc dược kkhắc trên đồng tiền Kanishka,
mang gịng chữ "Maitreya"
(ΜΕΤΡΑΓΟ ΒΟΔΔΟ "Metrago Boddo") đang ngồi kiết già và tay
trái làm địa ấn (Abhaya mudra).

Tượng đồng Phật đứng đúc ở
Gandhara, khoảng TK 3
hay 4.
Sự suy vong của Đế quốc Kushan:
Đến TK thứ 3
TL th́ đế quốc Kushan bắt đầu tan ră. Sau khi vua Vasudeva I
chết th́ đế quốc Kushan bị phân làm 2 xứ đông và tây. Đến
khoảng năm 290 TL Các triều đại Kushan bị Shapur I cầm đầu
dân Sassanides lật đổ, rồi lên làm vua. Shapur I cũng đă
đánh bại quân La-mă và bành trướng rất mạnh trong vùng. Các
triều đại Sassanides cai trị vùng này từ 290 đến 651 TL.
Dưới thời
Sassanides Bái Hỏa giáo lại trở thành quốc giáo, nhưng cũng
rất dung ḥa với những tôn giáo khác, nên PG vẫn có cơ hội
phát triển mạnh. Chính vào thời kỳ này hai bức tượng Phật đồ
sộ lớn nhất ṭan cầu đứng cao 177 bộ đă dược tạc vào núi đá
ở Bamiyan, Afghanistan vào năm 554, mà gần đây đă bị bọn
cuồng tín Hồi giáo Taliban phá hũy vào tháng 3 năm 2001.
Đến TK thứ 5
th́ đế quốc Sassanides bị tan rả bởi sự xâm lăng khác của rợ
Hung nô mới và sau đó là sự lớn mạnh của triều đại Gupta ở
Ấn và sự phục hồi Ấn giáo. Tuy vậy các triều vua về sau của
Gupta lại hổ trợ mạnh mẽ cho PG, trong đó có việc tái dựng
Phật học viện Nalanda vĩ đại hơn, và nâng lên tầm vóc quốc
tế. Nhưng không lâu sau Ấn độ bị các thế lực Hồi giáo xâm
lăng dẫn đến sự tàn lụi dần của PG.
Trần Trúc-Lâm
Seattle, Hè 2007
Từ cuốn “Những Hộ Pháp
Vương Phật Giáo tại Ấn Độ” sắp xuất bản.
Tài
Liệu tham khảo:
1) Wikipedia
and other numerous websites.
2) Falk, Harry (2004): “The
Kaniṣka
era in Gupta records.” Silk Road Art and Archaeology X
(2004), pp. 167-176.
3) Dobbins, K. Walton.
(1971). The Stūpa and Vihāra of Kanishka I. The Asiatic
Society of Bengal
Monograph Series, Vol. XVIII.
Calcutta.
4) H. Hargreaves, H.
(1910-11): "Excavations at Shāh-jī-kī Dhērī"; Archaeological
Survey of India, 1910-11, pp. 25-32.
5) Kumar, Baldev. 1973. The
Early Kuṣāṇas.
Page 95 New Delhi, Sterling Publishers.
6) Nicholas Sims-Williams
(1998): "Further notes on the Bactrian inscription of
Rabatak, with an Appendix on the names of Kujula Kadphises
and Vima Taktu in Chinese." Proceedings of the Third
European Conference of Iranian Studies Part 1: Old and
Middle Iranian Studies. Edited by Nicholas Sims-Williams.
Wiesbaden. 1998, pp. 79-93.
|