Trích một đoạn trong phần thảo
luận về văn hóa Việt: Con đường sống của dân tộc (Nhân
Đạo), xây dựng nền văn minh nhân bản; đó cũng là xu hướng
tất yếu của loài người đang tiến tới.
T.V.Minh: Minh định cuộc thảo luận đứng trên lập trường
dân tộc và nhân bản mà các anh đă bỏ ra hơn ba tuần thảo
luận về Khổng Mạnh. Phung phí thời gian như thế là quá
đáng. Trên thế giới, ngoài Trung Cộng ra, có bao nhiêu
triệu người thờ ông Khổng Tử. Riêng ở Việt Nam, nhóm An
Việt với triết lư “An Vi” của triết gia Lương Kim Định,
nhiều lắm là năm ngàn người khoa bảng, trí thức và những
người học đ̣i theo khoa bảng, tất cả khoảng một triệu
người tin thờ Khổng Tử như một ông Thánh bất khả xâm phạm.
Tại sao chúng ta không xem họ như là những người theo đạo
Phật, Tin Lành, Ki Tô Giáo La Mă, Hồi Giáo, Cao Đài
v.v...trong ḷng dân tộc Việt Nam?
Làm sao thuyết phục người Tin Lành tôn thờ Bà Maria như
người Ki Tô giáo La Mă, hoặc một Phật tử tôn thờ Jesus và
ngược lại...Đừng bao giờ thuyết phục người khác tin theo
điều ḿnh tin. Ông cha ta đă dạy: Trống làng nào làng ấy
đánh. Thánh làng nào, làng ấy thờ.
T.N.Hưng: Lịch sử ghi chép rơ ràng, tại họ không muốn thấy
thôi. Về nguồn phục vụ cuộc sống, chứ không t́m kiếm tri
thức hay tranh căi phải trái. Về nguồn không phải là cất
công t́m kiếm ḍng suối đă khô cạn, nhưng là khai thác
nguồn nước sẵn có để sinh hoạt xă hội Việt Nam mỗi ngày
thêm tươi mát phồn vinh, con người Viet Nam sạch đẹp và
khỏe mạnh (Đông Phong – Bản Sắc Dân Tộc, NXB Đường Việt,
Năm 2000, Trang 15).
Xin anh T.V.B́nh tŕnh bày ngắn ngọn một lần cuối cùng,
rồi chúng ta cho qua, đừng phí thời giờ vô ích về vấn đề
người Việt có cần phải tôn thờ Khổng Tử như một ông thánh
bất khả xâm phạm không ?
T.V.B́nh: Nhà Tây Chu, thuộc bộ lạc du mục Tây Di. Sâu khi
cấu kết với tộc Khương (tổ Tây Tạng) đă diệt nhà Thương.
Tinh thần độc hữu du mục đă được thực hiện triệt để đến
nỗi nhà Thương suưt bị xóa tên khỏi lịch sử Tàu (đốt hết
văn khố của nhà Thương). Với vũ khí văn hóa vô song là chữ
viết tượng h́nh, tượng ư, cũng như các định chế xă hội
thâu hóa được từ nền văn minh nông nghiệp nhưng lấy văn
hóa du mục làm chủ đạo. Nhà Chu đă trở thành mẫu mức định
hướng cho các triều đại kế tục. Tục thờ mặt trời của dân
nông nghiệp, dần dần được thay thế bởi ông Trời trừu tượng
toàn năng (Thiên) của nhà Chu để phù hợp với thuyết thiên
mệnh của họ.
Chế độ nội thị (hoạn quan) theo truyền thống của tộc
Proto-Tucuckec đă được du nhập vào triều đ́nh Tàu lần đầu
tiên. Nhà Chu c̣n thiết lập chế độ phong kiến, phong đất
cho thân thích và công thần, mỗi người làm chư hầu một nơi
để trấn áp các dân tộc chưa thần phục nhà Chu.
Sự h́nh thành nước Trung Quốc gắn liền với tính hiếu chiến
và chủ nghĩa bánh trướng. Quốc gia mà ngày nay chúng ta
gọi là Trung Quốc được tạo dựng lên ở mạn trung lưu Hoang
Hà, với ranh giới khoảng ba tỉnh: Sơn Tây (quê hương Đế
Nghiêu), Hà Nam (quê hương Hạ Vũ, kinh đô nhà Ân), Thiểm
Tây với núi Ḱ, sông Vị (quê hương nhà Chu).
Thời đó b́nh nguyên Hoàng Hà được mệnh danh là Trung
Nguyên, bao quanh tứ phía của trung tâm văn hóa độc tôn
đó, tức nhiên phải là các bộ tộc mà người Tàu ngoại là
“man di mọi rợ”: Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di, Nam Man.
Thời Xuân Thu, phái Quản Trọng phối hợp quân sự với văn
hóa, chủ trương “b́nh thiên hạ”, tức đàn áp chiếm đất đai
của các sắc dân không phải là Hán, trong đó có Bách Việt
để Tề Hoàn Công xưng bá.
Năm 671 TTL, Chu Huệ Vương ra lệnh cho Sở Thành Vương trấn
dẹp loạn Di Việt ở phương nam, không cho họ xâm lược Trung
Nguyên.
Thời Chiến Quốc, các chư hầu bao quanh nhà Chu thuộc các
sắc tộc Tàu ngoại là Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di, Nam Man
(Bách Việt) vùng dậy để thoát khỏi ách thống trị của nhà
Chu.
Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, ông bôn ba khắp nơi để
thuyết phục các chư hầu phải theo văn hóa Chu, văn hóa gốc
du mục (có thâu hóa được một ít tinh hoa từ nền văn minh
nông nghiệp nhưng lấy văn hóa du mục làm chủ đạo).
Nếu có ông Thánh nào đó thuyết phục Hai Bà Trưng hoặc Ngô
Quyền và người dân Việt không nên vùng dậy chống nhà Hán
mà hăy ở dưới “cây dù” của nhà Hán, theo văn hóa Hán.
Chúng ta nghĩ thế nào ?
Khổng Tử suốt đời ấp ủ hoài bảo phục hoạt chế độ nhà Chu
do Chu Công thiết lập “dựa trên quan niệm thiên tử, luật
h́nh, hoạn quan, đàn áp đàn bà, khinh miệt dân chúng (gọi
lê dân = dân đầu đen), chuyển tài sản từ làng xă sang tay
nhà vua, Chu Nho là văn hóa du mục (sđd, trang 199). Ông
muốn thuyết phục chư hầu (đa số thuộc tộc Bách Việt theo
thể chế và sống theo văn hóa Chu. Ông bảo: như có người
dùng ta, th́ ta sẽ làm cho Đông Chu thịnh lên chăng? (Như
hữu dụng ngă, Ngô kỳ vi Đông Chu hồ? Hương Hóa) Khổng Tử
tự nhận đêm ngủ thường vẫn mộng tưởng Chu Công. Sau thời
gian chu du các nước, biết giấc mộng không thành, ông trở
về nước Lỗ dạy học. Suốt đời Khổng Tử chỉ mong nối được sự
nghiệp của Chu Công. Ông ước ao điều đó lắm, đến nỗi nó ám
ảnh ông, khiến ông nằm mộng thấy Chu Công. Ta theo Chu
(Ngô ṭng Chu - thiên Bách dật, bài 14). Một hôm tự than
rằng quá lắm vậy! Ta suy nhược rồi! Từ lâu, ta chẳng mộng
thấy Chu Công (Luận Ngữ - thiên thuật nhi).(Cửu hĩ ngô bất
phục mộng kiến Chu công)
Một trong những trí giả gốc du mục sớm nhận thức được hiểm
họa văn hóa du mục bị thuần hóa bởi văn hóa Bách Việt có
lẽ là Khổng Tử. Ông ta t́m mọi cách phục sinh trật tự thế
chế nhà Chu, một thể chế mang tính du mục cho nên ông ta
hoàn toàn thất bại v́ chủ truơng của ông ta phục hoạt thể
chế nhà Chu: Không nước nào chấp nhận để cho nhà Chu thống
trị, nhất là các nước thuộc Bách Việt.
Nhưng hai trăm năm trước đó Quản Trọng phối hợp văn hóa và
quân sự đă thành công trong việc đàn áp, dẹp yên dân Bách
Việt (b́nh thiên hạ) xây dựng nghiệp bá cho Tề Hoàn Công.
Chính v́ thế mà Khổng Tử đă khen Quản Trọng hết lời: Cho
đến nay dân chúng c̣n được hưởng ân đức của ông ấy. Không
có Quản Trọng th́ chúng ta phải giốc tóc (bện) và cài áo
bên trái (tả nhậm) như người mọi rợ (Luận Ngữ - chương
hiến vấn). Nói khác đi là đă bị Bách Việt hóa. Rỏ ràng là
kỳ văn hóa: chủ trường hưng Hoa Diệt Di dấu kín trong ḷng
đă phát ra lời nói và hành động. Thế mà một số trí thức
Việt Nam với thân Việt, óc Tàu t́m mọi cách để bào chửa,
chạy tội cho Khổng Tử. Giới trẻ Việt Nam sẻ không chấp
nhận làm nô lệ như họ, chúng ta không cần phải bận tâm. Có
thể họ học hỏi một vài điều hay của Không Tử nhưng họ
không tôn thờ Không Tử như một ông thánh bất khả xâm phạm.
Như vậy, “thuật nhi bất tác, tính nhi hiếu cổ" (không sáng
tác kinh điển mà chỉ san định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa)
thực chất là cố uốn nắn khéo léo cái ưu điểm của văn hóa
Bách Việt để che giấu hoài bảo phục sinh thể chế nhà Chu,
trong sách lược hưng Hoa diệt Di của Khổng Tử.
Tham vọng bành trướng (hưng Hoa diệt Di)và tư tưởng bá
quyền là những biểu hiện của tinh thần phi dân chủ. Ngoài
(nước ngoài) th́ coi thường nước khác dân tộc khác, đối
lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) th́ coi thường
dân chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử (cai
trị) với kẻ tiểu nhân (dân chúng). Khổng tử nói tới dân
chúng ở nhiều chỗ với một gịọng rất miệt thị, coi thường:
dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ
hiểu được (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều lần tỏ ra khinh
bỉ dân chúng một cách rơ rệt: Sở dĩ người quân tử không
muốn ở chung với đám hạ lưu v́ bao tội ác trong thiên hạ
dồn cả về đó (Luận Ngữ, Tử Trương 20). Nói đến phụ nữ ông
bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần th́ họ
nhờn, xa th́ họ oán (Luận Ngữ Duơng Hóa 25) –Trần Ngọc
Thêm- T́m về bản sắc văn minh Việt Nam, nxb tpHCM năm
2001, trang 482-483.
Tóm lại, Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, hưng Hoa diệt Di
(Bách Việt) kỳ thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi
Bách Việt là mọi rợ), miệt thị dân chúng, khinh bỉ đàn
bà... Như vậy thuật nhi bất tác chỉ là lối nhân nghĩa và
đạo đức giả của Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng
các giống dân Tứ Di, tức Bách Việt mà theo triết gia Đông
Lan, “sắc dân Bách Việt đă vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày
nay trước khi có một dân tộc thực sự là Tàu xuất hiện”
(sđd, trang 186, ḍng 6-8).
Với chủ trương dùng nhân nghĩa - thuật nhi bất tác- ở đầu
môi chót lưỡi, tức lời nói khác với hoài bảo của ḿnh-
hưng Hoa diệt Di - để thay cho việc binh đao.
Cái đạo đức chuyên lấy của người - thuật nhi bất tác- khéo
léo uốn nắn theo ư đồ của ḿnh đánh lừa thiên hạ với dă
tâm đồng hoá các giống dân khác thành người Tàu. Đó là
sách lược lùi không đánh, giả bộ lấy đạo đức của người để
đồng hóa người thành Tàu. Ḥa nhi bất đồng của văn minh
Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, ḥa để mà
hóa của người thành của ḿnh. Cho nên “ḥa” theo kiểu du
mục khác hẳn với “ḥa cả làng” của văn minh sông Hồng,
phát xuất từ nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (Văn
hóa Ḥa B́nh).
Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Do đó Mặc
Tử đề xướng thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại
lối giả nhân giả nghĩa của Khổng Tử. C̣n Lăo Tử chủ trưong
b́nh đẳng, tự do, sống hài ḥa với thiên nhiên, trở về với
sự chất phác, thuần lương là những giá trị đi ngược lại
với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền,
phụ quyền và nam quyền.
Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự
h́nh thành nước Trung Quốc với bệnh hoạn HỘI CHỨNG ĐẠI
HÁN, từ triều đại này qua triều đại khác, quyết tâm xóa
sạch văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ Quản
Trọng, Khổng Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch,
Mao Trạch Đông và kéo dài đến ngày nay.
Thế hệ của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào bây giờ cũng
không đi ra ngoài sự chỉ giáo thâm độc của Khổng Tử: Phải
hành động như Quản Trọng - phối hợp quân sự và văn hóa- để
đồng hóa đến người Bách Việt cuối cùng (tộc Lạc Việt tiền
thân của dân tộc Việt Nam) thành người Tàu.
Tôi tháy như thế này là quá đủ rồi.
M.V.Giang: Hăy tôn trọng tự do của mỗi người. Tổ tiên đă
dạy rằng “Thánh làng nào làng ấy thờ” về niềm tin thuộc
loại tín ngưỡng, ư thức hệ, không nên thuyết phục người
khác tin theo điều ḿnh tin. Hăy thể hiện điều ḿnh tin
qua ư nghĩ, lời nói và việc làm.
Điều cần thiết là làm sáng tỏ nguồn gốc cốt lơi tư tưởng
Việt, chứ không phải là thuyết phục tranh luận. Trở về với
đa số, 95% người Việt Nam, nhất là giới trẻ; họ sẽ tiếp
nối trao truyền qua cuộc sống cái gia tài quí báu của tổ
tiên - t́nh người (t́nh thương), bao dung, hài ḥa v.v...-
cho giới trẻ thuộc hai, ba thập niên tới.
Một học giả Pháp đă viết cuốn La Revolution ni Marx ni
Jésus. Trong tương lai con người sẽ thực hiện cuộc cách
mạng tâm linh mà không kêu cầu Marx, Jésus,Thách Ca, Khổng
Tử v.v...cho nên ông J . Kishnamurti đă phát biểu: cái
Phật gọi là Niết Bàn, Jésus gọi là Thiên Đàng, tôi gọi là
cuộc sống.
Với ngôn ngữ tin học, giới trẻ sẽ vượt thoát mọi ràng buộc
của những khuôn mẫu khô cứng, những ư thức hệ, giáo điều
v.v..., vứt bỏ những tư tưởng lạc hậu, những tập quán lỗi
thời. Nói tóm lại, giới trẻ thay đổi cái nh́n (phá chấp)
dễ dàng hơn chúng ta.
Môi trường sống, cách sống, lối làm ăn, bắt buộc họ phải
sống thực, sống trọn vẹn mới tồn tại. Mà sống thực th́ mới
ư thức tự chủ và sáng tạo. Họ cần sự hài ḥa trong cuộc
sống, t́nh thương hồn nhiên trong sáng với mọi người, trí
tuệ vượt thoát tư dục để bao dung vị tha và thượng tôn
luật pháp để chung sống xây dựng một nền văn hóa mới.
Cần phải có một cuộc cách mạng, chắc chắn là thế. Điều tôi
(Đức Đạt Lai Lạt Ma) đề xướng là một cuộc cách mạng tâm
linh.
Tại sao chúng ta bỏ quá nhiều thời giờ để thảo luận về Tứ
Thư, Ngũ Kinh. Một hệ thống tư tưởng có quá nhiều khe hở
để nhóm thống trị lúc nào cũng lợi dụng được khiến người
dân Tàu sống dưới chế độ độc tài chuyên chế hơn hai ngàn
năm qua. Hiện nay, tập đoàn Hồ Cẩm Đào đang phục hồi tư
tưởng Khổng Tử để dân Tàu vui vẻ nghe theo lời dạy của
Khổng Tử, ngoan ngoản sống dưới chế độ Cộng sản độc tài,
độc đảng.
Trên 60 năm từ 1929 - 1968, ông Krishnamurti kêu gọi phải
tuyệt dối khẩn thiết phát động một cuộc cách mạng triệt để
trong tâm thức con người, một cuộc chuyển hóa thật sự về
toàn bộ cơ cấu tâm lư con người.
Ông Osho nhằm khai mở nguồn suối tâm linh đưa con người
đến ánh sáng giác ngộ.
Hiện nay Đạc Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi một cuộc cách mạng tâm
linh và cố gắng t́m một con đường phục vụ toàn nhân loại
mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng tôn giáo.
Như vậy, với ư thức tự chủ và sáng tạo con người vận dụng
t́nh thương vào cuộc sống trên nền tảng của trí tuệ và hài
ḥa qua lăng kính thượng tôn luật pháp để giải phóng chính
ḿnh.
T.T Nam: Theo lịch tŕnh, tuần sau mới đến lượt anh
T.N.Anh phát biểu ư kiến. Nhưng cuối tuần này anh Anh phải
đi xa, giải quyết việc nhà cho các cháu của anh. Hôm nay,
anh C.H.Lê phát biểu ngắn gọn để tất cả thời gian c̣n lại
cho anh Anh.
C.H.Lê: Có những người đọc sách rất nhiều mà không tiêu
hóa được; cho nên thường mắc phải chứng bệnh chỉ biết và
chỉ tin những điều sách nói thôi.
Những ǵ họ nói, hay viết, đều được dẫn chứng rất đầy đủ,
rằng họ đă lấy từ sách nào và của những ai đă nói ra những
tư tưởng như thế.
Cách học của các vị này thật là công phu. Nếu họ đi thi
th́ thế nào cũng đậu được những bằng cấp thật cao như Thạc
sĩ, Tiến sĩ v...v....
Đại đa số quần chúng, có học hay không có học, đều rất
kính trọng họ, v́ họ là những người khoa bảng, những tinh
hoa của một dân tộc.
Thế nhưng cứ nghe những ǵ họ nói, đọc những ǵ họ viết,
th́ người ta sẽ có cảm tưởng rằng đó chỉ là sách của họ
nói chứ không phải họ nói!
Tây nó gọi những người như thế là loại “Thông minh sách
vở” (intelligence livresque), c̣n những nhà trí thức đích
thực th́ lại gọi họ là những con ḅ bệnh, bỡi v́ những con
ḅ bệnh ăn cỏ nhưng không tiêu hóa được nên lại “ỉa” ra
cỏ.
Ấy là chưa kể những điều các ông Thánh, ông Hiền trong
sách của họ nhiều lúc cũng chưa nói lên được chân lư. Có
khi lại c̣n bóp méo những chân lư cho thành một thứ ngụy
chân lư để phục vụ một ư đồ nào đó.
Ngoài ra sách vở c̣n có thể đưa ra những điều không phải
là sai nhưng chỉ chưa “tới bến”, mà lại không cập nhật, v́
những điều đó đă bị những khám phá mới vượt qua rồi.
Cứ đọc một đoạn ngắn của một tác giả sau đây ta cũng thấy
chưa có ǵ là “sâu” là “sát” mà nhất là nó lại chưa “tới”
nữa!
“Chúng ta cũng không thể phủ nhận chính trong những ràng
buộc khởi đi từ tinh thần Nho Giáo, đă nảy sinh ra t́nh
người, t́nh gia đ́nh, t́nh xóm giềng mà đến ngày hôm nay,
dù đă qua đến đầu thế kỷ 21, làng xă Việt Nam ở nông thôn
vẫn tiếp tục duy tŕ các truyền thống từ đạo Nho”
Như thế, phải chăng dân tộc ta chỉ có t́nh người, t́nh gia
đ́nh và t́nh xóm giềng kể từ ngày tổ tiên chúng ta tiếp
xúc với văn hóa Tàu trong 1000 năm nô lệ phương Bắc?
Trước đó th́ dân tộc ta đă sinh sống như thế nào mà các
Vua Hùng của chúng ta lại đă thành lập cho chúng ta một
nước Văn Lang nhỉ? Không lẽ dân tộc ta lại sinh sống như
một bầy thú hoang dă, không hề có Văn Hóa ǵ cả sao? Bỡi
v́ chỉ có loài cầm thú mới không có văn hóa thôi.
Tại sao chúng ta lại không thể về nguồn xa hơn một chút,
bắt đầu từ Văn Hóa Ḥa B́nh mà cả thế giới đều hay biết?
Nền Văn Hóa Ḥa B́nh là một nền văn hóa nông nghiệp “Trồng
Lúa Nước”; rồi từ đó loài người có thể định canh và định
cư, từ đó phát sinh ra t́nh người, t́nh gia đ́nh, t́nh xóm
giềng. Điều đó đă có từ trước khi có Nho giáo hàng ngàn
năm!
Những điều mà tổ tiên của dân tộc ta đă có rồi (có từ lâu
rồi) th́ đâu cần phải nhờ một thứ văn hóa ngoại lai nào
khác mới có được?
Tôi xin kể một câu chuyện:
Một Đại tộc ở một làng quê trù phú của nước ta; từ nhiều
thế hệ đă có truyền thống thổi một nồi cơm gạo Tám, một
thứ gạo thơm ngon, trân quí nhất mà chỉ có Đại tộc này sản
xuất được, dâng lên bàn thờ, cúng tổ trong ngày giỗ tổ của
gịng họ, hằng năm sau mỗi mùa gặt mới.
Năm đó, một người con lớn đă thành danh đỗ đạt, đi làm
việc quan ở trên tỉnh, trước khi về giỗ tổ đă ghé vào một
tiệm cơm Tàu mua cơm thố và thịt quay đem về góp giỗ.
Đó là một việc lạ lùng đối với người dân nông thôn, chưa
bao giờ xảy ra.
Từ đó người ta truyền miệng nhau khen người con đó là có
hiếu v́ đă dâng lên bàn thờ tổ thố cơm Tàu.
Vài chục hay vài trăm năm sau chuyện biến thành: “chính
nhờ những thố cơm Tàu mà đại gia tộc đó mới biết và có
truyền thống dâng cơm lên cúng tổ!”
Xin cứ suy ngẫm xem sự thật của việc cúng tổ bằng nồi “cơm
mới” sau khi thu hoạch vụ lúa mùa nó như thế nào đây?
T.T.Nam: Xin lỗi, anh Lê tạm ngưng ở đây, tuần sau sẽ tiếp
theo. Xin mời anh T.N.Anh.
T.N.Anh: Cám ơn các anh. Trước hết, xin tŕnh bày những
điểm mà tôi đồng thuận với các anh đă phát biểu trong ba
tháng qua. Tôi xin chia xẻ rất nhiều ư kiến trong cuộc
thảo luận. Nhưng hôm nay, chỉ nêu lên những điểm chính yếu
mà tôi đă ghi nhận được trên giấy trắng mực đen.
Bận việc nhà, không đến họp mặt được, anh Thành nhờ tôi
đọc lời kết luận của đề tài mà anh ấy đă tŕnh bày trong
tuần vừa qua.
Cần thể hiện tinh thần khai phóng trong ư thức chuyển hóa
tâm thức, đem sinh lực của con người vun bồi vào sinh khí
dân tộc, đồng thời hội nhập vào ḍng sinh động của trào
lưu khoa học, tin học ngày nay; tư tưởng cũng phải được
trân quí trong tự do, như là không khí cần cho sự hô hấp
mà con người dùng để khai phóng và sáng tạo, chứ không lập
một khuôn mẫu nào cả.
Cứ tự nguyện lăo hóa tri thức của ḿnh, đưa hai tay với
tất cả con tim và khối óc dậm chân tại chỗ chống đỡ sức đè
nén của cái cùm tư tưởng được gia tăng sự cằn cỗi và sức
năng theo thời gian đến nỗi chính ḍng người truyền thừa
nhau, cuối mặt nh́n xuống để không thấy khoảng trời bao la
đầy hoa gấm để phong phú hóa cuộc sống nối tiếp nhau bừng
sống dưới ánh sáng mặt trời và các tinh tú.
H́nh ảnh trung thực nhất của giới nho sĩ Việt Nam khi nh́n
vào văn miếu ở Hà Nội, con rùa nho sĩ bị đè nặng trên lưng
khối đá tư tưởng tù đọng nằm chịu trận với thời gian.
Tôi xin tŕnh bày điểm thứ nhất:
* Dân tộc nào để cho văn hóa ngoại lai ngự trị th́ không
thể có độc lập thực sự, v́ văn hóa là linh hồn của một dân
tộc (Nguyễn An Ninh - Lư Tưởng Của Thanh Niên Việt Nam).
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê, ư thức hệ, tôn giáo và ”khuôn
vàng thước ngọc” của Khổng Mạnh, tất cả đều là văn hóa
ngoại nhập. Chúng ta chỉ có thể thâu hóa, du nhập, tiếp
nhận những điều tốt mà phù hợp với tâm t́nh của người Việt
Nam để làm giàu, phong phú cho văn hóa dân tộc.
Chúng ta đă đồng thuận, trước khi tam giáo (Nho - Lăo -
Phật) du nhập vào Việt Nam (200 năm trước Tây lịch) th́
Việt Nam không có tôn giáo; ông cha ta chỉ chú trọng đến
việc phát triển tâm linh. Tâm linh đồng nghĩa với t́nh
thương, bao dung, hài ḥa , v...v...Tâm linh không có giáo
điều, giáo chủ, v.,.v,,,Trong giao lưu “văn hóa”, ông cha
ta coi những yếu tố ngoại nhập, như rế, như “giày” “dép”:
Có rế th́ đỡ nóng tay
Có dép, có giày th́ đỡ nóng chân
Hoặc
Ăn sung th́ nằm gốc sung
Lấy anh th́ lấy, năm chung không nằm.
Giày, dép, rế (Nho - Lăo - Phật) không phải là bản sắc của
dân tộc Việt Nam
Điểm Thứ hai: Tôi đồng ư về nguồn một cách sâu sắc và rốt
ráo th́ không thể ngừng ở Tam Giáo (Nho - Lăo - Phật). Về
nguồn không phải là trở về với văn hóa Đồng Sơn với trống
đồng Ngọc Lũ, thời đại tam giáo chưa du nhập vào Việt Nam.
Về nguồn cũng không phải trở về với những đặc tính của văn
hóa Phùng Nguyên, thời đại các vua Hùng dựng nước. Thời
đại mà ông Khổng Tử, thái tử Tất Đạt Đa, chúa Jesus chưa
có mặt trên trái đất này.
Vượt xa hơn nữa, vượt qua văn hóa Bắc Sơn, với cái ŕu Bắc
Sơn nổi tiếng trên thế giới, đến tận văn hóa Ḥa B́nh. Nơi
xảy ra cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước; ơ đâu có
nông nghiệp ở đó khởi đâu văn minh nhân loại; “nơi” có nếp
sống định canh định cư; định cư đồng nghĩa với tương
nhượng, hài ḥa;
Ai nhất th́ tôi thứ nh́,
Ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba
Hoặc
Chín bỏ làm mười
“H̉A CẢ LÀNG”
Nói cách khác, “nơi” có nếp sống tương nhượng hài ḥa
trong xóm làng (ḥa cà làng): “Văn hóa Việt Nam là văn hóa
xóm làng”. Từ những tính chất đặc biệt (đặc tính) nền văn
hóa trồng lúa nước - tương nhượng, thích nghi, hài ḥa,
tinh thần nhân bản mang tính tương trợ, tương thân, tương
ái với tập quán “Có việc th́ đến, hết việc th́ đi”, đầy
tính người, v...v...bước vào ngôi nhà tâm linh Việt, cảm
nhận Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (Thiên Nhiên), nơi
chứa đựng tinh hoa/tinh ṛng/ hằng số của nền văn hóa
Việt, chứ không phải Tứ Thư Ngũ Kinh của ông Tàu Khổng Tử,
gốc du mục với chủ trương Hưng Hoa diệt Di và ṭng Chu.
Một học giả Mỹ, không có tâm Việt, hồn Việt, chỉ với đầu
óc khách quan, không bị điều kiện hóa bỡi tam giáo vẫn
nhận ra được đặc thù của văn hóa Việt. Khi luận bàn về Văn
hóa Việt Nam ông ví Việt Nam như “một cây gậy nh́n bề
ngoài thấy phủ một lớp sơn Tây mỏng; cạo lớp sơn ấy đi,
vẫn thấy phủ một lớp sơn tàu có phần dày hơn; song cạo
tiếp lớp sơn tàu ấy nữa , th́ lộ ra cốt lơi gậy tre Việt
Nam.
C̣n một lớp sơn Ấn Độ (Phật Giáo) khá dày mà học giả quên
không nói tới.
Tiến sĩ H.R. Ferrage cho rằng nét đặc sắc của văn hóa Việt
Nam là tính chất “không từ chối” của nó: tự ḿnh, nước
biết “gạn đục khơi trong” như là người Việt Nam. Ư ông
muốn nói người Việt Nam tự ḿnh gạn đục khơi trong như
nước.
Thực ra, nó chỉ có một chối từ; sự đồng hóa cưỡng bức, c̣n
lại, nó t́m cách dung hóa và hội nhập mọi sở đắc văn hóa
của Hoa, của Ấn, của Nam Đảo, của Tây Âu,... cả ngôn từ và
kỷ thuật, cả tôn giáo và nghệ thuật.. (Trần Quốc Vượng sđd
trang 44).Tiếp nhận, hội nhập có đăi lọc, nên luôn luôn
duy ŕ được bản sắc riêng, vẫn giử được phong thái Việt
Nam.
Điểm thứ ba: Văn chương bác học Việt Nam từ xưa đến nay
“vàng thau lẫn lộn”, vừa dân tộc vừa phi dân tộc. Tư tưởng
phi dân tộc, vọng ngoại, mất gốc này tuy thiểu số, nhưng
lại có uy thế vũ lực và quyền lực to lớn hơn đại đa số
người dân có tư tưởng dân tộc.
Hơn nữa, xu hướng thân Tàu của Hà Nội - nô lệ tư tưởng Tàu
- lại được đa số khoa bảng Việt Nam ở trong nước và hải
ngoại tiếp tay tích cực phổ biến văn học, tư tưởng, triết
học, danh nhân Trung Quốc; đồng thời hùa theo tập đoàn Hồ
Cẩm Đào phục hồi tư tưởng của Khổng Tử, với ư đồ dùng
“khuôn mẫu tư tưởng luân lư của Khổng Tử” củng cố chế độ
độc tài chuyên chế như các triều đại từ Hán, Đường, Tống,
Nguyên, Minh, Thanh đă vận dụng tư tưởng Khổng Mạnh và môn
sinh của ông để giữ ngai vàng; dùng người Tàu kể cả dân
Bách Việt bị Tàu hóa làm phương tiện thực hiện tham vọng
bành trướng và tư tưởng bá quyền, thể hiện năo trạng du
mục, hội chứng Đại Hán.
Ông Bá Dương, một học giả Trung Quốc đă viết: Trung Quốc
có lịch sử 5.000 năm. Trong 5.000 năm ấy, lực lượng phong
liến chà đạp lên phẩm giá, nhân tính con người không phải
ngày càng giảm thiểu mà ngày một gia tăng (Bá Dương, sđd,
trang 85).
Người có tâm Việt, hồn Việt sẽ nhận ra được Khổng Tử là
người đi khắp nơi thuyết phục các chư hầu đa số thuộc tộc
Bách Việt - phục ṭng chế độ nhà Chu và văn hóa Chu, văn
hóa gốc du mục, với chủ trương củng cố và phát triển chế
độ nô lệ. Về chính trị, Khổng Tử chủ trương hưng Hoa diệt
Di, kỳ thị chủng tộc.
Khổng Tử là một trong những trí giả gốc du mục, nhận thức
được hiểm họa văn hóa du mục bị thuần hóa bỡi văn hóa
trồng lúa nước. Khổng Tử đă cố uốn nắn các ưu điểm của văn
hóa phương Nam, với ư đồ phục vụ thể chế du mục nhà Chu.
Quản Trọng là ông tướng tài giỏi; đă phối hợp văn hóa và
quân sự dẹp yên các chư hầu, đa số thuộc tộc bách Việt,
sống ở vùng châu thổ sông Hoàng Hà (B́nh thiên hạ) để Tề
Hoàn Công xưng Bá thời Xuân Thu. Với chủ trương “Hưng Hoa
diệt Di” Khổng Tử đă khen Quản Trọng hết lời : “Quản Trọng
đă làm ơn cho hậu thế, v́ nếu không nhờ ông th́ chúng ta
(Tàu) đă trở thành mọi rợ (Bách Việt), gióc tóc ngắn, mặc
áo, gài nút bên trái.
Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, hưng Hoa diệt Di (Bách Việt)
kỳ thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi Bách Việt
là mọi rợ), miệt thị dân chúng, khinh bỉ đàn bà...Như vậy
thuật nhi bất tác chỉ là lối nhân nghĩa và đạo đức giả của
Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng các giống dân
Tứ Di, tức Bách Việt.
Thuật nhi bất tác, tính nhi hiếu cổ (không sáng tác kinh
điển mà chỉ sang định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa) chỉ là cố
uốn nắn khéo léo cái ưu điểm của văn hóa Bách Việt để che
giấu hoài băo phục hồi thể chế nhà Chu, trong sách lược
hưng Hoa diệt Di).
Ngoài (nước ngoài) th́ coi thường nước khác, dân tộc khác,
đối lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) th́ coi
thường dân chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử
(cai trị) với kẻ tiểu nhân (dân chúng). Khổng Tử nói tới
dân chúng ở nhiều chỗ với một giọng rất miệt thị, coi
thường ; “dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể
giảng cho họ hiểu được” (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều
lần tỏ ra khinh bỉ dân chúng một cách rơ rệt: “sở dĩ người
quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu v́ bao tội ác
trong thiên hạ dồn cả về đó “ (Luận Ngữ, Tử Trương 20).
Nói đến phụ nữ ông bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là
khó dạy. Gần th́ họ nhờn, xa th́ họ oán (Luận Ngữ, Dương
Hóa 25) - Trần Ngọn Thêm - T́m về bản sắc văn minh Việt
Nam, nxb thành phố hcm năm 2001, trang 482 - 483.
Với chủ trương dùng nhân nghĩa - thuật nhi bất tác - ở đầu
môi chót lưỡi, tức lời nói khác với hoài băo của ḿnh để
thay cho việc binh đao.
Cái đạo đức chuyên lấy của người - thuật nhi bất tác -
khéo léo uốn nắng theo nhu cầu của ḿnh, đánh lừa thiên hạ
với dă tâm đồng hóa các giống dân khác thành người Tàu. Đó
là sách lược lùi không đánh, giả bộ lấy đạo đức của người
và đồng hóa họ làm dân ḿnh. Ḥa nhi bất đồng của văn minh
Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, ḥa để mà
hóa của người thành của ḿnh. Cho nên “ḥa” gốc du mục
khác hẳn với “ḥa cả làng” của văn minh sông Hồng, phát
xuất từ nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (Văn hóa
Ḥa B́nh).
Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Dó đó Mặc
Tử đề xướng thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại
lối giả nhân nghĩa của Khổng Tử. C̣n Lăo Tử chủ trương
b́nh đẳng, tư do, sống hài ḥa với thiên nhiên, trở về với
sự chất phát, thuần lương là những gái trị đi ngược lại
với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền,
phụ quyền và nam quyền.
Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự
h́nh thành nước Trung Hoa với bệnh hội chứng Đại Hán, từ
triều đại này qua triều đại khác, quyết tâm xóa sạch Văn
hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ Quản Trọng, Khổng
Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông
và kéo dài đến ngày nay.
Điểm thứ tư: tôi cũng chia xe với các anh là đa số người
ngoại quốc Anh, Úc, Mỹ, Pháp nhận ra được văn hóa Việt Nam
là văn hóa xóm làng, họ đă và đang đến nông thôn Việt Nam
(cái nôi của văn hóa Việt) để nghiêng cứu t́m hiểu những
nét đặc thù của văn hóa Việt. Không thể t́m triết lư sống
cũng như cốt lơi của tư tưởng Việt, đạo sống Việt trong
sách vở của Tàu mà ở tại chính trong bản thân thực nghiệm
của dân tộc c̣n đang tiếp diễn sinh động trong đời sống
của dân tộc Việt Nam nơi xóm làng.
Người ngoại quốc cũng nắm bắt được văn hóa Việt Nam là văn
hóa truyền miệng (văn hóa dân gian) nên có một số đă và
đang học tiếng Việt để đọc khối lượng ca dao tục ngữ vô
cùng phong phú, có một không hai trên thế giới. Họ nhận ra
được ca dao tục ngữ là tiếng nói tâm thức của dân tộc Việt
Nam. Hiện nay cô Martha Lackritz, người Mỹ, đă dịch 500
câu ca dao, cô dự định xuất bản ở Mỹ 1000 câu ca dao. Dân
Việt sống nơi làng mạc đă lớn lên qua lời ru đầy t́nh
người, đầy t́nh tự dân tộc thấm sâu vào ḷng người Việt từ
thuở nằm nôi. Trên 90 phần trăm dân Việt lớn lên cùng ca
dao, tục ngữ mà qua đó họ nắm bắt được các yếu tính của
đạo sống Việt, giúp họ biết được bổn phận cũng như cách
ứng xử cho hợp đạo, hợp lư, hợp t́nh đối với cá nhân, gia
đ́nh, làng xóm cho đến đất nước. Trong quá khứ, mặc dù rất
nhiều người Việt không đến trường học, nhưng họ chỉ cần
trang bị những kiến thức truyền khẩu đó mà vẫn biết sống
để trở nên trai hiền dâu thảo, yêu nước, thương ṇi...
Một số khác, ư thức văn hóa Việt Nam là văn hóa ch́m, văn
hóa tâm linh, nên họ lắng ḷng bước vào ngôi nhà tâm linh
Việt: các huyền thoại Việt Nam. Nếu ca dao, tục ngữ giúp
chúng ta có được những kiến thức vỡ ḷng về đạo sống Việt,
th́ các huyền thoại được mă hóa qua những biểu tượng ẩn dụ
đă chất chứa các nguyên lư thiết yếu và sâu xa của đạo
sống Việt, triết lư sống hài ḥa. Ở một cấp độ cao hơn
trong việc bảo vệ và phát triển cấu trúc gia đ́nh, làng
xă, cộng đồng và đất nước. Huyền thoại là tiếng nói tâm
thức của dân tộc, mất bộ huyền thoại là mất mạch nối vào
nguồn quá khứ tổ tiên và mất luôn căn bản trong việc xây
dựng tiền đồ dân tộc (Wallace Cliff)
Ca dao, tục ngữ, huyền thoại... đều là sản phẩm của tập
thể dân tộc, là tim óc của cả lớp người có kiến thức văn
tự lẫn lớp người có kiến thức thực nghiệm của cuộc sống.
Trải qua nhiều đời, ta bị nhào nặn, tô điểm, thêm bớt, bị
sơn phết lên trên nhiều lớp sơn văn hóa, tín ngưỡng đă
giao lưu với nền văn hóa Việt qua thời gian.
Cái khó của người muốn t́m hiểu các thông điệp đích thực
của tiền nhân là ngoài việc giải mă các ẩn dụ, biểu tượng
trong các huyền thoại, cũng như ư nghĩa của ca dao, tục
ngữ, họ c̣n phải cạo bỏ các lớp sơn giao lưu văn hóa (như
chữ trời trong ca dao chẳng hạn) để tiến đến cốt lơi của
đạo sống Việt, triết lư sống Việt...
Điểm thứ năm: Chúng ta đă đồng ư làm sáng tỏ ư nghĩa lời
phát biểu của Hồ Hữu Tường một cách cụ thể và thiết thực:
“Tôi muốn cất tiếng kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng
nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để
ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép.
Thật đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin... để
cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa
cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt (Tương Lai Văn Hóa
Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài G̣n 1965).
“Cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu” là cái gỉ?
Phải chăng đó là minh triết đời sống, được thể hiện qua
nếp sống thực trên nền tảng của tinh thần nhân bản và nhân
chủ đích thực, với đạo lư thương người như thể thương
thân.
Hiện nay, loài người chỉ nói đến nhân bản, nhân chủ mà
chưa bước vào con đường nhân bản, nhân chủ đích thực, qua
nếp sống, mà thực tại là tiêu chuẩn của chân lư.
Những học thuyết, hệ thống triết học, những cuộc thảo
luận, sách vở kinh điển nói về nhân bản nhân chủ, không
phải là nhân bản nhân chủ đích thực. Lời nói, chữ nghĩa
không phải là “sự thật”, không phải là “thực tại” (cái
đang diễn ra trước mắt). Chữ nghĩa chỉ nói về sự thật, chứ
không phải là sự thật.
Chắc chắn con đường nhân bản (lấy con người làm gốc) và
nhân chủ là xu hướng tất yếu của loài người trong những
thập niên tới; sẽ bùng vỡ ra để con người trở về với con
người và cuộc sống, ngơ hầu thể hiện giá trị nhân bản đích
thực của nó trong đời sống đang sinh động.
Điều thiết yếu là nhân bản, v́ không có con người th́
không có ǵ cả.., không có nhân chủ.
Không nên đặt cái cày (nhân chủ) trước con trâu (nhân
bản). Rễ sâu gốc vững (nhân bản) th́ cành, ngọn, lá mới
xanh tươi (nhân chủ).
Trên b́nh diện tâm lư và xă hội, nhân chủ là tinh thần cao
độ của một tập thể con người, lấy con người làm gốc trong
mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất ton trọng sự sống
(nhân bản), chấp nhận dị biệt, hài ḥa với chính ḿnh, làm
chủ bản thân, hài ḥa với tha nhân và với thiên nhiên: ḥa
cùng vũ trụ.
Chỉ có tập thể con người “biết sống thực”, sống trọn vẹn
với thực tại (cái đang diễn biến trước mắt) th́ mới ư thức
tự chủ và sáng tạo.
Chỉ có tập thể con người “sống thực”, không bị điều kiện
hóa bỡi những khuôn mẫu, ư thức hệ, giáo điều, những mảnh
vụn của chân lư mới cùng nhau kiến lập một nền văn hóa
mới, thích hợp với những khám phá của khoa học kỷ thuật
hiện đại trong những thập niên tới. Đó là nền văn hóa ḥa
b́nh, nhân bản và dân tộc, mang tính khai phóng và dung
hóa trong giao lưu qua lăng kính dân chủ, dung hợp được tự
do và công bằng.
Ông cha ta đă dạy:
Trăm nghe không bằng một thấy
Trăm thấy, không bằng một lần trải qua.
Ngày xưa, tổ tiên chúng ta đă trải qua một thời gian khá
dài với nếp sống nhân bản nhân chủ; rồi sau đó dần dần bị
văn hóa ngoại nhập làm lu mờ đi, nhất là thời kỳ giao lưu
văn hóa với Tàu.
Tinh thần nhân bản nhân chủ trong nền văn hóa Việt - văn
hóa trồng lúa nước - không phải từ trên trời rơi xuống,
hay do một người đắc đạo nào đó hoặc do một hệ thống triết
học chỉ dạy cho dân tộc Việt Nam; mà do t́nh gia đ́nh
(t́nh mẹ con, cha con, ḷng hiếu thảo), môi trường sống
(khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đồng bằng phù sa trù
phú), cách làm ăn (trồng lúa nước) với nếp sống tương
nhượng quần cư hài ḥa trong xóm làng (xă thôn tự trị) đă
tôi luyệïn hun đúc nên.
Sống với nghề trồng lúa nước ổn định lâu đời, ông cha ta
sớm ư thức vai tṛ của con người vô cùng quan trọng chẳng
những v́ nhu cầu điều hợp qua sự vận dụng trí thức thực
nghiệm mà c̣n v́ sự đóng góp công sức lao động trong tiến
tŕnh canh tác phức tạp của nghề trồng lúa nước.
Thực tế cho thấy dù đất đai mầu mỡ, dù mưa thuận gió ḥa
rất thích hợp cho việc cày bừa, gieo trồng nhưng không có
con người th́ việc trồng trọt, cày cấy không thể thực hiện
được.
Tất cả quy về người, rồi từ người mà ra mọi việc, mọi sự,
mọi hoạt động, mọi suy nghĩ và v... v....
Mặt khác, muốn thu hoạch được kết quả tốt đẹp trong việc
trồng lúa nước, nông dân phải chủ động quan sát các hiện
tượng thiên nhiên. Nói gọn một câu:
Trông cơ trời đất liệu thời làm ăn.
Nghĩa là quan sát hiện tượng thiên nhiên thời tiết (trông
trời trông đất...) để quyết định công việc trồng trọt.
Nếu mưa to, gió lớn, giông băo nổi lên nông dân không dại
ǵ mà cày bừa, gieo mạ, cấy lúa trong những trường hợp đó.
Nếu trời trong biển lặng, nông dân mới yên tâm làm mùa
màng. Điều trên chứng tỏ rằng quyết định làm hay chưa làm
là do con người. Nói cách khác, con người chủ động mọi
sinh hoạt của con người.
Như vậy, con người tự ḿnh quyết định những công việc phải
làm, chứ không phải đó là do ư muốn của thần linh hay bất
cứ yếu tố nào ở bên ngoài con người. Con người tự ḿnh làm
chủ chính ḿnh. triết học gọi đó là tinh thần nhân chủ.
Dù trài qua hơn 1000 năm bị Bắc thuộc, với chính sách đồng
hóa vô cùng thâm độc và hơn 10 thế kỷ giao lưu văn hóa,
(từ năm 939 cho đến ngày nay) đa số nho sĩ, khoa bảng, trí
thức, một số dân chúng sống trong các đô thị chịu ảnh
hưởng sâu đậm sách vở văn hóa Tàu, nhưng làng xă ở nông
thôn vẫn tiếp tục duy tŕ truyền thống nhân bản qua ca
dao, tục ngữ trong quá tŕnh học ăn, học nói, học gói, học
mở (giáo dục nhân bản tâm linh) của nền văn hóa Việt.
T́nh người c̣n được thể hiện qua ḷng thương dân của các
vua dưới thời Lư, Trần, thời kỳ phục hồi được phần nào
tinh hoa của văn hóa Việt.
Vua Lư Nhân Tông, vị Hoàng đế độc nhất trong lịch sử nhân
loại, với di chiếu cho hoàng tộc và quần thần không được
xây lăng. Ḷng thương người thể hiện qua ḷng thương dân
như thế vô cùng vĩ đại.
Vào mùa đông năm 1052, vua Lư Thánh Tông nói với đ́nh
thần: Trẫm ở trong cung sưởi than xương thú, mặc áo lông
chồn c̣n rét thế này, nghỉ đến người tù bị giam trong ngục
khổ sở về gông cùm, chưa rơ ngay gian, ăn không no bụng,
mặc không kín thân, khốn khổ v́ gió rét, hoặc có kẻ chết
không đáng tội, Trẫm rất thương xót. Vây lệnh cho hữu ty
phát chăn chiếu, cấp cơm ăn ngày hai bữa (ĐVSKTT 1 trang
271)
Sự việc trên cho thấy vua coi người bị giam là vô tội cho
tới khi có bằng chứng ngược lại và được đối xử nhân đạo.
Lề lối tư duy pháp lư của vua không khác với nguyên tắc
của luật nhân quyền hiện đại về sự phỏng đoán vô tội cho
tới khi bị kết tội trong một phiên ṭa xét xử. Đây là niềm
tự hào của dân tộc trong lịch sử nhân quyền tại Việt Nam.
Trong lịch sử nhân loại, không có ông vua nào so sánh
“thân ḿnh” với thân của người tù đang bị giam trong ngục.
Đó là một viên ngọc quí trong nền văn hóa Việt.
Năm 1126, vua Lư Nhân Tông ra chiếu chỉ “cấm dân chúng mùa
xuân không được chặt cây” (Đạo Việt Sử Kư Toàn Thư, trang
294)
Nh́n lộc non vừa nhú lên trong mùa xuân đầy nhựa sống với
biết bao niềm vui. Chặt cây cối trong mùa xuân là diệt mầm
sống, là phá hoại thiên nhiên, tức ḿnh tự hủy diệt đời
sống của ḿnh. Chỉ có những con người trưởng thành trong
nền văn hóa đặt nền tảng trên sự cảm nhận Thiên Thư Vô
Ngôn của Trời Đất (thiên nhiên) mới có lề lối cảm xúc với
cỏ cây cùng vạn vật muôn loài.
Năm 1371, vua Trần Nghệ Tông xuống chiếu rằng xây dựng
cung thất cốt sao cho giản dị, mộc mạc chỉ lấy các tản dân
tôn thất phục dịch, không phiền nhiễu đến dân (Đạo Việt Sử
Kư Toàn Thư II, trang 240)
T́nh người được thể hiện qua ḷng thương dân của vua đến
thế là cùng.
Truyền Thống Nhân Bản: đă được kế thừa và phát huy rực rỡ
nhất với bộ luật Hồng Đức năm 1843 dưới đời vua Lê Thánh
Tôn. Hầu hết các luật gia trên thế giớ đều đánh giá cao
tính chất nhân bản trong bộ Luật Hồng Đức.
Chính tinh thần nhân bản với ḷng thương người sâu sắc như
thế, cùng với nhân sinh quan coi mọi người như anh em ruột
thịt cùng một mẹ sinh ra qua cách xưng hô (chú, bác, cô ,
d́...) giải thích lư do tại sao Việt Nam không có chế độ
nô lệ trong suốt chiều dài lịch sử.
Nỡ ḷng nào thiết lập chế độ nô lệ với chú, bác, cô, d́,
anh, chị em ḿnh như Tây phương và Trung Quốc hoặc phân
chia đẳng cấp khắc nghiệt như Ấn Độ và Nhật.
Như đă tŕnh bày ở trên, t́nh người bắt đầu từ tinh thần
nhân bản trong nền văn hóa trồng lúa nước được thể hiện
đậm nét trong việc cứu giúp nạn nhân băo lụt một cách nồng
ấm qua hai cơn băo Katrina và Rita vừa qua của cộng đồng
Việt Nam tại Houston (năm 2005) đă được báo chí Mỹ đánh
giá cao.
Mặt khát, nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông/ 4 thể hiện nhân
sinh quan của dân Việt:
May ta ở chốn b́nh yên,
Thấy người hoạn nạn, nỡ quên sao đành.
Chiều hôm trước, chuẩn bị nếp, đậu, đường, dừa v...v... bà
mẹ đă để hết tâm tư t́nh cảm vào hành động ḿnh; sáng hôm
sau, dậy sớm nấu nồi xôi với t́nh người...Tất cả hành động
đầy t́nh người đó khiến người trong gia đ́nh học được bài
học về t́nh thương một cách cụ thể thiết thực, không qua
sách vở kinh điển.
Thấy người hoạn nạn th́ thương,
Thấy người đói khát th́ nhường miếng ăn.
Thương người, bớt miệng mà cho
Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 nhắc nhở lời dạy của tổ
tiên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.”
“Lá lành đùm lá rách”
“Một miếng khi đói bằng một gói khi no”
Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 là biểu tượng của văn minh
nhân loại. Văn minh là t́nh người, là ḷng tương trợ, là
chia xẻ, là chấp nhận dị biệt, là chung sống hài ḥa, chứ
không phải vũ khí bom đạn đủ loại, không phải là bạo lực,
chiến tranh khắp nơi, giành giật nhau từ vật chất đến linh
hồn.
Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 là h́nh ảnh nói lên người
Việt cần phải đem t́nh người gieo rắc khắp nơi trên hành
tinh đầy mâu thuẫn này.
Đạo lư của người Việt Nam là thương người như thể thương
thân.
N.V.An: Xin anh cho biết ư kiến về sự liên quan giữa thiên
nhiên, con người và thần linh?
T.N.Anh: Từ ngàn xưa, ông cha ta đă hóa giải được mâu
thuẫn giữa con người, thiên nhiên và thần linh. Đó là vấn
đề mà người Tây phương hiện nay vẫn c̣n tranh cải quyệt
liệt đến tàn sát lẫn nhau.
Tư tưởng Việt từ ngàn xưa đă khẳng định:
Thiên nhiên: Thời tiết bốn mùa, mưa, nắng, nóng, lạnh
v.v...là hiện tượng luôn luôn biến động, theo qui luật của
thiên nhiên, ngoài khả năng chi phối và hiểu biết tận cùng
của con người. Con người thích nghi, hài ḥa với thiên
nhiên đề tồn tại và phát triển, ḥa cúng vũ trụ.
Đất, nước, núi, sông, rừng, biển là phương tiện tạo dựng
nên cuộc sống, lẽ sống, cách sống, đời sống của con người.
Khí thiêng sông núi, tinh hoa đất nước, khí hậu địa phương
ḥa hợp với lối sống, cách sống với cuốc sống chung đúc
tạo nên bản chất và phong hóa ảnh hưởng đến phong cách
sống và lẽ sống của đời người.
- Con người: Lấy sự sống làm căn bản cho suy tư, tư tưởng.
Thực tại là tiêu chuẩn của chân lư con người nhỏ bé trước
thiên nhiên bao la, giông tố, nóng lạnh, băo lụt v.v...
V́ sự sống c̣n, con người cần hợp quần (quần cư hài ḥa
trong xóm làng) đổi công/vần công, có việc th́ đến hết
việc th́ đi, tương trợ nhau để xây dựng cuộc sống và bảo
vệ trường tồn đời sống.
Thực tế cho thấy những vấn nạn của con người chỉ có con
người tự giải quyết. Đời sống con người vui tươi hay đau
khổ, ḥa b́nh hay chiến tranh đều do con người tự quyết
định và tạo lập lấy. Tất cả sự sống, lẽ sống, cách sống
tiềm ẩn trong cuộc đời đều bắt nguồn từ con người và cho
con người.
Không có con người th́ không có ǵ cả, không có kinh tế,
chính trị, đạo đức, tôn giáo v.v...Không có con người, vũ
trụ có đó nhưng có cũng như không, không có ư nghĩa ǵ cả,
sống thực chứ không phải sách vở kinh điển. Sống thực,
sống trọn vẹn với thực tại mới ư thức tự chủ và sáng tạo.
Sự sống luôn luôn sinh động, cho nên ông cha chúng ta
không bao giờ giáo lư hóa (tôn giáo hóa) hay hệ thống hóa
“cái biết” mà chỉ sống trọn vẹn với cái biết để luôn luôn
cảm nhận với cuộc sống, với con người nói riêng và với
Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (Thiên nhiên) nói chung.
Điều đó giải thích lư do tại sao trong nền văn hóa Việt
“Không có khuôn mẫu”, không có công thức hóa, không có “Tử
viết”, không có sách vở về triết học, mà chỉ có triết lư
sống (triết lư sống Tiên Rồng, tức triết lư sống hài ḥa -
ḥa cả làng) và chỉ có tiếng nói tâm thức của dân tộc qua
ca dao, tục ngữ, huyền thoại...Văn hóa Việt là văn hóa
truyền miệng, văn hóa xóm làng.
Như trên đă nói, chỉ có sống thực mới ư thức tự chủ và
sáng tạo; sáng tạo mới cảm nhận với con người và sự sống
trên nền tảng thực tại là tiêu chuẩn của chân lư và tiếp
tục sáng tạo theo nhịp của đời sống.
Cảm nhận thiên nhiên (Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất) và
đời sống để học. Học để biết. Biết để làm. Làm để sống.
Rồi vừa làm vừa học, làm đến đâu học đến đó. Biết đến đâu
làm và sống đến đó. Sống và làm để cảm nhận. Cảm nhận để
biết. Biết rồi “bảo nhau” cùng biết để thăng tiến con
người.
Thăng tiến con người đồng nghĩa với thăng tiến xă hội, và
ngược lại. Sống thực như thế mới ư thức được cuộc sống
hiện tại, báo đáp được công đức của tổ tiên đồng thời định
hướng cho con người trong tương lai.
V́ sống phải làm, mà làm th́ tặng sự hiểu biết. Sống - Làm
- Biết và ngược lại Biết - Làm - Sống. Chính sự hiểu
nghiệm (sự hiểu biết được chứng nghiệm bỡi kinh nghiệm
sống), cái tri thức thực nghiệm trong đời sống nông nghiệp
trồng lúa nước ổn định lâu đời, đă xây dựng triết lư sống
Việt: Đạo sống Việt, minh triết đời sống
Thần linh: Con người lúc sống phục vụ lợi ích cho mọi
người, cho xóm làng, cho dân, cho nước, nói chung là cho
mọi người, chết trở thành thần linh trong ḷng kính trọng
và biết ơn của con người. Triết lư sống đó lâu dần trở
thành tín ngưỡng nhân thần của dân tộc Việt và h́nh thành
hướng phát triển tâm linh với biểu tượng thăng hoa như
Tiên Rồng. Người thờ người, thờ nhân tính th́ không có ǵ
nhân bản hơn.
Thần linh đối với dân tộc Việt là “nhân thần” Đức Thánh
Trần, Hai bà Trưng v.v...) do khí thiêng sông núi và địa
linh sản sinh nhân kiệt.
Thần là con người, lúc sống có công ơn cụ thể, thiết thực
với con người, chết được người dân tôn vinh là nhân thần .
Thật là nhân bản, văn minh nhân loại. Phải chăng điều này
giải thích lư do tại sao thờ Quốc Tổ Hùng Vương mà không
thờ vua cha là Kinh Dương Vương? Thờ là thờ cái công đức
của vua Hùng trong việc thực hiện cuộc cách mạng văn hóa
và phát triển đất nước.
Chính v́ thế mà Trần Hưng Đạo được người dân tôn vinh là
Thánh, mà vua Trần th́ không được phong Thánh.
Xưa nay dân Việt vinh danh nhân thần đều không có sự tranh
căi đến gây chiến tranh như Tây phương. Hiện nay mâu thuẫn
về tôn giáo vẫn c̣n xảy ra ở Anh Quốc, ở Trung Đông, ở
khắp trời Tây.
Tóm lại, theo tư tưởng Việt coi thiên nhiên, con người và
thần linh là ba yếu tố phối hợp hài ḥa trong triết lư
sống thái ḥa: đó là “minh triết đời sống” (minh triết đời
sống, chứ không phải minh triết kinh điển hay minh triết
“Tử viết, sách vở...)
Ư thức Trời - Người - Đất (đầu đội trời chân đạp đất) cùng
một thể , từ đó manh nha đặt cơ sở cho ư thức phát triển
tâm linh, vốn đă nhen nhúm trong sự gắn bó của con người
với thiên nhiên và thần linh (nhân thần) cũng như mối liên
hệ thiêng liêng nối liền các thế hệ qua tục thờ cúng tổ
tiên.
Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiệm sống của sự
ḥa điệu Trời - Người - Đất trong đó sức cần lao cũng như
tri thức thực nghiệm của con người được ứng dụng và điều
hợp một cách sáng tạo sao cho ḥa nhịp và kết hợp với thời
tiết (Trời) và đất đai để cho lúa được tốt tươi. Mối liên
hệ giữa Trời - Người - Đất thật gần gũi, đồng cảm và đồng
đẳng. Từ đó manh nha và lâu dần h́nh thành tinh thần nhân
bản và nhân chủ.
Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiệm cụ thể của
triết lư Trời - Người- Đất cùng một thể
Hiếm thấy và chưa có một nền đạo học nào trên thế giới
diễn đạt được nhân sinh quan “Trời - Người - Đất” cùng một
thể, một cách ngắn gọn mà đầy đủ ư nghĩa như triết lư sống
của nền văn hóa trồng lúa nước qua bài thơ của ông Trần
Cao Vân:
Trời Đất sinh Ta có ư không,
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong.
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh,
Trời Đất in Ta một chữ đồng.
Đất nứt Ta ra Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che Đất chở Ta thong thả,
Trời Đất Ta đây đủ hóa công.
T.V B́nh: Anh nghĩ thế nào về tôn giáo ở Việt Nam?
T.N. Anh: Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng “loài người có thể
sống khá tốt đẹp mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng” ...
“Một người có đức tin tôn giáo hay không cũng không quan
rọng cho lắm. Điều quan trọng hơn nữa chính họ phải là
người thiện lành” ( Đạt Lai Lạt Ma, Đạo Lư Cho Thiên Kỷ
Mới, NXB Văn Nghệ, Linh Thụy chuyển ngữ, tr 34).
Emile Durkheim, một nhà xă hội học Pháp trong cuốn The
Elementaryforms of the Religions Life đă tiên đoán sự tàn
lụi của tôn giáo trong tương lai: Tôn giáo sẽ được thay
thế bỡi tinh thần dân tộc v́ không những nó có các yếu tố
có tính hợp nhất thu hút của tôn giáo mà lại c̣n là một hệ
thống tín ngưỡng đi trực tiếp vào tâm hồn người dân, không
cần qua trung gian một tôn giáo nào.
Trong tương lai, biên giới quốc gia và chủng tộc sẽ bị xóa
mờ v́ không c̣n dân tộc nào thuần chủng mà chỉ c̣n những
nét đặc thù của mỗi dân tộc. Trong xu hướng này ông cha ta
sớm ư thức nên không nói con cháu Bách Việt mà tự xưng là
con Hồng cháu Lạc hay con Rồng cháu Tiên.
Theo như lời tiên đoán của nhà xă hội học nói trên, tôn
giáo nói chung, đạo Phật nói riêng sẽ tàn lụi. Có thể
đúng, nhưng “Phật Đạo” “Lư duyên khởi” “vô thường” “không”
vẫn tồn tại v́ đó là những nguyên lư thường hằng của vũ
trụ. Có Đức Phật hay không có, những nguyên lư đó vẫn thế
. Đó là lời tiên đoán trong tương lai: có thể đúng, có thể
sai. Nhưng sự việc đang xảy ra th́ Đức Đạt Lai Lạt Ma cho
rằng “không có tôn giáo nào có thể thơa măn được toàn thể
nhân loại (sđd, tr 34).
Trong một nước cũng vậy, không một tôn giáo nào có thể
thơa măn được toàn thể người dân. Trong hiện t́nh, phải có
nhiều tôn giáo trong một nước. Đó là lẽ đương nhiên. Vậy
phải chấp nhận dị biệt, tôn trọng lẫn nhau mà tồn tại
trong ḥa b́nh để hoàn thành tốt dẹp vai tṛ và nhiệm vụ
cao đẹp của tôn giáo đối với nhân loại. Ông cha ta đă dạy:
Trống làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ
Chủ trương tự do hành đạo, nhưng không nên truyền giáo.
Người nào truyền giáo th́ chính người đó đang xâm phạm tự
do tín ngưỡng của người khác. Khi có mâu thuẫn th́ chủ
trương “đối thoại” để tránh bạo lực và chiến tranh tôn
giáo.
Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời. Đâu cần thiết phải
quá tích cực trong việc truyền rao giáo hệ (truyền giáo)
v́ “loài người có thể sống khá tốt đẹp mà không cần kêu
cầu đến tín ngưỡng tôn giáo (sđd, tr 34).
Chúng ta có thể ném bỏ hết tất cả các thứ khác: tôn giáo,
lư tưởng, tất cả trí thức thọ nhận, nhưng chúng ta không
thể tránh khỏi sự cần thiết của t́nh thương.
Trong ư nghĩa đó, không c̣n cần đến chùa chiền hoặc giáo
đường, điện thờ hay ṭa thánh, cũng không cần các triết
lư, giáo lư hoặc chủ thuyết phức tạp. Tự tâm ta, tự thức
ta chính là đền thờ. Chủ thuyết là t́nh thương (sđd, trang
279).
Thực tế cho thấy các tôn giáo du nhập vào Việt Nam đă và
đang kiến lập những ốc đảo trong ḷng dân tộc, tạo điều
kiện cho người dân có quá nhiều cái thấy khác nhau. Chính
sự xung đột về cái thấy mà gây ra mâu thuẫn, xung đột
v.v..., khiến cho t́nh tự gia đ́nh, t́nh tự dân tộc bị sức
mẻ; t́nh người bị ngăn cách v́ ai cũng cho tôn giáo ḿnh
nắm bắt được chân lư. Từ cơ sở đó, không thành thật trong
tương giao, giao tiếp.
Tôn giáo đă là cái ách vô h́nh làm sao con người tháo gỡ
được; và qua tôn giáo, không ít th́ nhiều, con người (một
thiểu số) đă t́m được b́nh an. Có thể họ sống trong b́nh
an giả tạo, nhưng dù là gỉa tạo, c̣n hơn không bờ bến
nương tựa, cho những người chưa trưởng thành.
L.V.Hà: Xin cho tôi đặt một câu hỏi ngắn, không đi ra
ngoài vấn đề anh Anh đang tŕnh bày. Thế nào là con người
trưởng thành?
N.V.Nam: Trong nền văn hóa Việt, con người trưởng thành có
nhiều khía cạnh. Hôm nay, tôi xin chỉ nói về con người
trưởng thành ở góc độ tôn giáo
Tôn giáo, thật sự đă làm thui chột sinh lực con người, tập
cho con người ỷ lại, rồi trở thành kẻ nô lệ. Nô lệ cho
thượng đế hay cho ông Phật bên ngoài cái tâm hoặc nô lệ
cho tên nô lệ hay bất cứ ai, tinh thần nô lệ không khác
chỉ khi nào con người thật sự thênh thang trong mọi kích
thước, chỉ khi nào con người có thể ư thức được thể mệnh
và tính mệnh của ḿnh, con người đó mới đúng ư nghĩa là
người trưởng thành đích thực.
Tôi xin trở lại ư kiến của tôi về tôn giáo. Các tôn giáo ở
Việt Nam hăy tự phá vơ ốc đảo của ḿnh trở về với tinh
thần khai phóng, bao dung, hài ḥa của dân tộc Việt. Trên
b́nh diện tôn giáo, không nên thuyết phục người khác tin
theo điều ḿnh tin mà thể hiện điều ḿnh tin qua ư nghĩ,
lời nói và việc làm để hạt giống t́nh thương trong nội tâm
nẩy nở và phát triển. Một khi t́nh thương phát triển hồn
nhiên trong sáng th́ chúng ta sẽ biết phải làm ǵ cho
chính ḿnh, cho gia đ́nh, cho tha nhân, dân tộc và nhân
loại. Mọi mâu thuẫn, mọi nghịch lư, mọi cái nh́n khác nhau
sẽ sụp đổ cùng lúc với t́nh thương phát triển hồn nhiên
trong sáng: Thương nhau củ ấu cũng tṛn.
Tôi (Đức Đạt Lai lạt Ma) quan tâm đến việc cố gắng t́m ra
một con đường phục vụ toàn nhân loại mà không cần kêu cầu
đến tín ngưỡng (sđd, tr 35)
Ông J. Krishmamurti đă nói “ cái mà Phật gọi là Niết Bàn;
Jesus gọi là Thiên Đàng, tôi gọi là cuộc sống”.
Cho nên “cần phải có một cuộc cách mạng, chắc chắn là thế.
Điều tôi đề xướng là cuộc cách mạng tâm linh (sđd, tr 31).
Tôi tin rằng có một sự phân biệt rơ rệt giữa tôn giáo và
tâm linh.
Một sự trùng hợp kỳ lạ, như đă tŕnh bày ở phần trên,
triết lư sống Việt chú trọng đến việc phát triển tâm linh,
chứ không quan tâm đến việc xây dựng một triết thuyết (để
có Tử viết) hay một ư thức hệ hoặc một hệ thống giáo lư.
Ông cha ta quan tâm đến việc xây dựng nếp sống, sống trọn
vẹn với cái biết để luôn luôn cảm nhận với “cuộc sống”,
với con người nói riêng và với Thiên Thư Vô Ngôn của Trời
Đất (thiên nhiên) nói chung.
T.T. Nam: Xin nhắc anh Anh, chỉ c̣n 15 phút nữa là chấm
dứt buổi hợp.
T.N. Anh: Xin lỗi các anh, sở dĩ trên đây tôi phải dài
ḍng tŕnh bày chỉ nhằm mục đích minh xác một điều là tôi
chia xẻ với các anh rất nhiều điểm, nhưng không đồng ư
việc các anh đă bỏ quá nhiều th́ giờ để thảo luận về học
thuyết này, tư tưởng nọ, trích dẫn Tứ Thư Ngũ Kinh, kinh
điển Phật giáo, các triết gia Tây phương v. v...rồi triết
học Đông phương, Tây phương v.v..Sư Viên Minh trong “Vi
Tiếu” đă định nghĩa “triết học chỉ là một hệ thống ngôn
ngữ phức tạp nói về những điều rất giản đơn”. Chúng ta
đừng để kẹt nơi rừng văn tự, chữ nghĩa, chỉ có sống thực,
sống trọn vẹn với thực tại mới ư thức tự chủ sáng tạo và
mới cảm nhận được cuộc sống, chứ không phải xông xáo trong
rừng văn tự chữ nghĩa.
Chúng ta hăy b́nh tâm nh́n lại chính ḿnh có phải chúng ta
cần sự hài ḥa không? Hài ḥa giữa thân và tâm để tâm hồn
yên ổn, thân thể khỏe mạnh. Hài ḥa với mọi người trong
gia đ́nh để có một gia đ́nh yên vui hạnh phúc, thuận vợ
thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Hài ḥa giữa mọi
người, ḥa mục trong xóm làng (ḥa cả làng) đến sự thái
ḥa của đất nước; hài ḥa giữa các dân tộc để chung sống
yên vui trong thanh b́nh, cùng nhau kiến lập một nền văn
hóa mới: nền văn hóa ḥa b́nh, nhân bản và dân tộc, mang
tính khai phóng và dung hóa trong giao lưu qua lăng kính
nhân chủ và dân chủ, dung hợp được tự do và công bằng.
Điều thứ hai chúng ta cần là t́nh thương hồn nhiên trong
sáng. T́nh thương sẽ hóa giải mọi mâu thuẫn, nghịch lư ở
nội tâm, trong gia đ́nh và ngoài xă hội: thương nhau củ ấu
cũng tṛn.
Điều thứ ba là “trí tuệ” (khôn cũng chết, dại cũng chết,
biết th́ sống); thứ tư là “thượng tôn luật pháp”; luật
pháp mang tính nhân bản, phục vụ con người.
L.M. Hoàng: Tôi xin đặt một câu hỏi với anh Anh: bắt đầu
từ đâu?
T.N. Anh: Nói th́ các anh sẽ phiền. Mà không nói thật ḷng
ḿnh cảm thấy áy náy, khó chịu. Như vậy, ba tháng nay
chúng ta đă thảo luận vô ích sao? Hóa ra là hợp nhau lại
để phô bày kiến thức, tỏ ra chúng ta là những người thông
kim bác cổ...
Đa số chúng ta thường đề cao Đạo Sống Việt, Việt Nho, Việt
giáo, Việt đạo v.v... vượt qua giai đoạn “bái vật” tiến
đến giai đoạn “nhân chủ”, vượt hẳn triết lư Tây phương
v.v...ca ngợi văn hóa Việt đến tận mây xanh trong các buổi
hợp hoặc viết báo, viết sách. Nhưng trong cuộc sống, chúng
ta không sống thực với điều chúng ta nói hay viết. Chúng
ta sống với đầu óc đă bị điều kiện hóa bỡi văn hóa Tàu, Ấn
Độ hay Tây phương từ suy tư, dưỡng sinh đến tôn giáo.
Nếu tôi nhớ không lầm, tuần lN