|
Y KHOA
CẤP CỨU
CAO HUYẾT ÁP VÀ CƠN CAO HUYẾT ÁP
BS Nguyễn Văn
Thịnh
1/
ĐỊNH NGHĨA
CAO HUYẾT ÁP.
- Định nghĩa của các sách giáo khoa là huyết áp cao hơn
160/95 mmHg
- Cao huyết áp giới hạn (borderline hypertension) khi huyết
áp thu tâm từ 140 đến 159 mmHg và huyết áp trương tâm từ 90
đến 95 mmHg
- Giới hạn trên b́nh thường (upper limit of normal) là
140/90 mmHg
- Bệnh nhân có thể có cao huyết áp thu tâm riêng lẻ
(isolated systolic hypertension) với huyết áp thu tâm lớn
hơn 160mmHg nhưng huyết áp trương tâm b́nh thường.T́nh trạng
này thường thấy ở những người già do chứng vữa xơ phát triển
dần dần ở các động mạch lớn xảy ra với quá tŕnh lăo hóa.
- Để được gọi là cao huyết áp, một bệnh nhân phải có ít nhất
3 trị số huyết áp cao được đo trong 3 lần khám khác nhau
2/ KỂ VÀI NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA
CAO HUYẾT ÁP NƠI MỘT BỆNH NHÂN KHÔNG BỊ CHỨNG CAO HUYẾT ÁP
THỰC SỰ
Sự lo âu, đau đớn, drug use (cocaine, amphetamine,
PCP, LSD), các thuốc chứa sympathomimetics và hợp chứng cai
rượu (alcohol withdrawal)
3/ KỂ 2 XẾP LOẠI TỔNG QUÁT CỦA CAO HUYẾT ÁP
?
CAO HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT và THỨ PHÁT. Hơn 90% bệnh
nhân bị chứng cao huyết áp nguyên phát, và nguyên nhân
thường không được biết đến. Các yếu tố góp phần làm cao
huyết áp gồm có tuổi tác, chủng tộc, chứng béo ph́, di
truyền, hút thuốc hoặc ăn nhiều muối.Trái với cao huyết áp
nguyên phát, cao huyết áp thứ phát có một nguyên nhân có thể
xác định được. Có thể là do bất b́nh thường của hệ thần
kinh, hormone, thận hay mạch máu. Các nguyên nhân thông
thường nhất là bệnh mạch máu thận, bệnh nhu mô thận và các
bất thường nội tiết (bệnh Addison, pheochromocytome)
4/ TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀO CẦN XÉT
NGHIỆM THĂM D̉ T̀M NGUYÊN NHÂN CAO HUYẾT ÁP THỨ PHÁT ?
- khi bệnh cảnh khởi đầu với cao huyết áp ác tính (đặc biệt
nếu bệnh nhân da trắng, tuổi dưới 30 hoặc trên 60)
- gia tăng nồng độ créatinine sau khi sử dụng ACE
inhibitors.
- ở những bệnh nhân tuy tuân thủ đúng đắn điều trị nhưng
huyết áp vẫn khó kiểm soát được mặc dầu được điều trị đầy đủ
bằng kết hợp thuốc giăn mạch có tác dụng mạnh, beta-blocker
và thuốc lợi tiểu
5/ CÁC BIẾN CHỨNG CỦA CAO HUYẾT ÁP ÁC TÍNH
KHÔNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ VÀ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ?
- Các nghiên cứu từ năm 1950 và 1960 cho biết rằng tỷ lệ tử
vong của cao huyết áp ác tính không được điều trị là 80-90%.
- Hầu hết các trường hợp tử vong là do suy thận cấp tính
- Nếu được điều trị chống cao áp sớm và thấm tách (dialysis)
cấp thời (nếu cần thiết) th́ tỷ lệ bệnh và tử vong chủ yếu
là do bệnh tim mạch (đột quy, nhồi máu cơ tim và suy tim
sung huyết).
6/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ CẤP THỜI CAO HUYẾT ÁP ÁC
TÍNH ?
- Điều trị cấp thời được lựa chọn là sử dụng sodium
nitroprusside bằng đường tĩnh mạch. Liều lượng khởi đầu là
0,5mcg/kg/min và cứ 2-3 phút gia tăng 0,5mcg/kg/mn cho đến
khi huyết áp trương tâm đạt được 110mmHg. Hạ huyết áp thêm
nữa có thể dẫn tới hypoperfusion các cơ quan quan trọng bởi
v́ sự điều hoà tự trị lưu lượng máu để thích nghi với t́nh
trạng cao áp măn tính có thể bị biến đổi.
- Những thuốc hạ huyết áp khác ít lư tưởng hơn nhưng có
thể được chấp thuận để điều trị cao huyết áp ác tính là
diazoxide, trimetaphan và labétalol.
-
Huyết áp nên được theo dơi liên tục suốt trong thời gian
điều trị
7/ TẠI SAO CLONIDINE, BETA-BLOCKERS VÀ LỢI
TIỂU KHÔNG NÊN ĐƯỢC DÙNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP ÁC TÍNH ?
-
các thuốc này tác dụng một phần là do làm giảm lưu lượng tim
(cardiac output). Mặc dầu tác dụng này có thể làm giảm huyết
áp cấp thời, nhưng cũng có thể làm gia tăng thêm nữa sức đề
kháng mạch máu toàn thân. Do đó điều trị bằng thuốc giăn
mạch (vasodilators) là một lựa chọn tốt hơn trong điều trị
cao huyết áp ác tính.
8/ MÔ TẢ NHỮNG THAY ĐỔI BỆNH LƯ NƠI BỆNH
NHÂN BỊ CAO HUYẾT ẤP KÉO DÀI
- điều được biết rơ là tính chất co rút của cơ trơn nơi
thành động mạch bị biến đổi ở bệnh nhân cao huyết áp. Nhưng
không biết đây có phải là nguyên nhân nguyên phát của cao
huyết áp hay là đáp ứng của thành mạch đối với áp lực tăng
cao măn tính do cơ chế điều hoà tự trị bị rối loạn.
- sức đề kháng ngoại biên tăng cao kinh niên đưa đến ph́ đại
tâm thất trái và sau đó gia tăng nguy cơ suy tim sung huyết
(congestive heart failure), đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim
- cao huyết áp măn tính cũng làm gia tăng nguy cơ đột quy
(stroke), bệnh vơng mạc và bệnh thận
9 /KỂ NHỮNG TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG CÓ
THỂ T̀M THẤY Ở BỆNH NHÂN BỊ CAO HUYẾT ÁP MĂN TÍNH VÀ CÁC
THƯƠNG TỔN NỘI TẠNG?
a/ TIM:
- Khó thở lúc gắng sức
- Khó thở kịch phát về đêm
- Tiểu đêm (nocturia)
- Ho
- Khó thở
- Đau vùng hạ sườn phải do sung huyết thụ động của
gan
- Khám vật lư có thể t́m thấy PMI (point of maximal
impulse) bị xê dịch ra ngoài, S3 hay S4, phồng tĩnh mạch cổ
(jugular venous distention), rales, phù vùng thấp và to gan
b/ BIẾN ĐỔI VƠNG
MẠC:
- thị trường bị cụt (visual field cuts)
- nh́n mờ (blurred vision)
- soi đáy mắt có thể phát hiện:
- co thắt mạch máu vơng mạc với
arteriovenous-nicking
- copper-wiring
- xuất huyết, xuất tiết và phù mắt
c/ HỆ THẦN KINH
TRUNG ƯƠNG:
- đau đầu vùng chẫm lúc sáng dậy (morning occipital
headaches)
- chóng mặt (dizziness)
- cảm giác đầu trống rỗng (lightheadedness)
- ù tai
- các dấu chứng của thương tổn thần kinh trung ương
thay đổi tùy theo
mạch máu bị thương tổn.
d/THẬN:
- suy nhược toàn thân (generalized
weakness)
- khó chịu (malaise)
- buồn nôn
- tiểu ít
- tiếng thổi bụng (abdominal bruits) có thể nghe nếu có
teo hẹp động mạch thận
10/ CÓ XÉT NGHIỆM NÀO CẦN THIẾT PHẢI THỰC
HIỆN Ở PH̉NG CẤP CỨU KHÔNG?
- Ở Pḥng cấp cứu đối với các bệnh nhân không có triệu
chứng nhưng có huyết áp cao không cần phải làm những xét
nghiệm đặc hiệu để loại trừ thương tổn các cơ quan quan
trọng
- các xét nghiệm thăm ḍ có thể được thực hiện ngoại
trú, gồm có điện tâm đồ (để t́m dấu chứng ph́ đại tâm thất
trái, thiếu máu cơ tim, di chứng nhồi máu cơ tim), xét
nghiệm nước tiểu (để t́m proteinuria, hematuria và
glycosuria), xét nghiệm sinh hóa (các chất điện giải, BUN và
créatinine).
- nếu nghi ngờ huyết áp cao do nguyên nhân thứ phát,
cần làm những xét nghiệm sâu rộng hơn.
11/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP:
- nếu không có chỉ định giảm huyết áp tức thời, tuyến đầu
(BS gia đ́nh) là nơi tốt nhất để khởi đầu điều trị.
- điều trị thường bắt đầu bằng tiết thực (diet), thể
dục, giảm cân,giảm stress và thay đổi lối sống.
- nếu có chỉ định dùng thuốc th́ thuốc lợi tiếu thường
được cho đầu tiên (first-line agent).
- các thuốc chống cao áp đặc hiệu thường được lựa chọn
trên cơ sở bệnh nhân và các bệnh kết hợp (comorbidity).
- các thuốc chống cao áp thường được sử dụng là:
- các thuộc lợi tiểu kết hợp với potassium-sparing
agents
- central alpha-agonists
- alpha-blockers
- beta-blockers
- thuốc giăn mạch (vasodilators)
- calcium channel blockers
- angiotensin-converting enzyme inhibitors
- sự thành công của một loại thuốc có thể thay đổi tùy theo
chủng tộc của bệnh nhân, liều lượng có thể cần phải điều
chỉnh và với thời gian các thuốc mới có thể cần phải thêm
vào
12/ ĐỊNH NGHĨA CƠN CAO HUYẾT ÁP.
- Cơn cao huyết áp (hypertensive crisis) là một cấp cứu nội
khoa thật sự. Đó là sự cao huyết áp đột ngột đưa đến thương
tổn cấp tính các cơ quan sinh tử (acute end-organ damage),
đặc biệt là năo bộ, hệ tim mạch và thận.
- huyết áp trong trường hợp này cần phải hạ giảm trong ṿng
1 giờ, lư tưởng nhất là làm giảm 20-25% huyết áp động mạch
trung b́nh ( Mean Arterial Pressure : MAP)
- những biến chứng đáng sợ của cơn cao huyết áp gồm có bệnh
năo do cao huyết áp ( hypertensive encephalopathy), hợp
chứng động mach vành cấp tính (acute coronary syndrome), suy
tâm thất trái cấp tính, aortic dissection , đột quy (stroke
syndrome) và suy thận cấp tính
13/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA ACCELERATED
HYPERTENSION VÀ MALIGNANT HYPERTENSION?
- Accelerated Hypertension bao gồm cao huyết áp (huyết áp
tâm trương thường trên 120mmHg) và những biến đổi lúc khám
soi đáy mắt : xuất huyết và xuất tiết vơng mạc (flame
hemorrhages và cotton-wool spots)
- Malignant Hypertension (cao huyết áp ác tính) là
accelerated hypertension và phù gai mắt (papilledema)
14/ KỂ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT
CỦA CAO HUYẾT ÁP ÁC TÍNH ?
- Mặc dầu 95% những bệnh nhân cao huyết áp là nguyên
phát(essential hypertension), nhưng cao huyết áp nguyên phát
chỉ chiếm 50% số bệnh nhân vớ icao huyết áp ác tính. Bởi v́
huyết áp thứ phát (secondary hypertension) là nguyên nhân
của 50% số bệnh nhân cao áp ác tính c̣n lại, nên thuờng cần
phải xét nghiệm thăm ḍ để t́m nguyên nhân thứ phát
- Các nguyền nhân thứ phát thông thường nhất của cao huyết
áp ác tính là hẹp động mạch thận (renal artery stenosis), u
tế bào ưa chrome (pheochromocytoma) ngộ độc cocaine và
aldosteronism nguyên phát
15/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA HYPERTENSIVE
EMERGENCY và HYPERTENSIVE URGENCY?
- Hypertensive emergency được định nghĩa không phải bởi trị
số đặc hiệu của huyết áp mà bởi thương tổn của các cơ quan
sinh tử sắp xảy ra do cao huyết áp
- Trị số tuyệt đối của huyết áp không phải là yếu tố quyết
định trong định nghĩa hypertensive emergency hoặc trong
quyết định điều trị.Thương tổn chức năng các cơ quan sinh tử
là yếu tố quyết định chủ yếu.Vài bệnh nhân có thể chịu được
những trị số huyết áp rất cao với ít hoặc không có triệu
chứng nào, trong khi đó những bệnh nhân khác có thể thể hiện
các triệu chứng và dấu chứng do thương tổn cơ quan với trị
số huyết áp thấp hơn
- Hypertensive urgency có huyết áp cao nhưng không có thương
tổn cơ quan kết hợp.
- Hypertensive urgency thường được xem là một t́nh trạng
trong đó huyết áp thu tâm lớn hơn 12mmHg nhưng không có dấu
hiệu thương tổn nội tang.
- Trong trường hợp hypertensive urgencies, sự giảm huyết áp
có thể được thực hiện trong ṿng 24 giờ.Thật vậy,sự giảm
huyết áp vội vàng trong trường hợp này có thể có hại và cần
nên tránh.
- Hypertensive urgencies thường được gặp nhiều hơn
hypertensive emergencies và thường được phát hiện ở những
bệnh nhân không có triệu chứng lúc thăm khám v́ một nguyên
nhân khác
16/ CÁC NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG KHÁC CỦA
HYPERTENSIVE EMERGENCY CẦN PHẢI XÉT ĐẾN Ở NHỮNG BỆNH NHÂN
KHÔNG CÓ TIỀN SỬ CAO HUYẾT ẮP NGUYÊN PHÁT ?
- bất cứ t́nh trạng nào dẫn đến sự tăng cao catécholamine
trong máu đều có thể dẫn tới một hypertensive crisis (
catecholamine-induced-hypertensive emergency)
- các thí dụ gồm có:
- u tế bào ưa chrome (pheochromocytoma).
- bệnh nhân được điều trị bởi thuốc chống trầm cảm
monoamine oxidase , ăn vào những hợp chất chứa tyramine .
- sử dụng sympathomimetic drugs ( cocaine,
amphetamine, PCP, LSD,và diet pills)
17/ ĐIỀU G̀ CẦN PHẢI XÉT ĐẾN NƠI NHỮNG BỆNH
NHÂN CÓ BỆNH SỬ CAO HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT VÀ BỊ HYPERTENSIVE
EMERGENCY ?
- Hỏi xem bệnh nhân có dùng thuốc chống cao áp loại
sympathetic blockers có thời gian tác dụng ngắn như
clonidine hay -blockers hay không?
- Hỏi xem bệnh nhân có dừng điều trị đột ngột hoặc hết
thuốc sử dụng hay không bởi v́ ngưng thuốc clonidine và
beta-blockers có thể gây nên cao huyết áp dội ngược (
rebound hypertension ) quan trọng.
18/ LOẠI THUỐC HẠ HUYẾT ÁP NÀO BỊ CHỐNG CHỈ
ĐỊNH DÙNG TRONG CATECHOLAMINE-INDUCED HYPERTENSIVE
EMERGENCY?
- beta-blockers : sự giăn mạch gây nên bởi beta-receptors
dẫn đến sự co mạch alpha-adrenergic không bị đối kháng và
làm tăng cao huyết áp thêm nữa. Ở bệnh nhân ngộ độc cocaine,
beta-blockers làm gia tăng sự co thắt động mạch vành gây nên
bởi cocaine, gia tăng huyết áp, không làm giảm tần số tim,
làm giảm ngưỡng (threshold) gây co giật và tăng tỷ lệ tử
vong.
- Labétalol, là một alpha-và beta-blocker, có tác dụng có
hại lên những bệnh nhân ngộ độc cocaine hay
pheochromocytoma.
- Những thuốc được chấp nhận để điều trị
catecholamine-induced hypertensive emergency gồm có
nicardipine (Rydène), fenoldopam, phenolamine và
nitroprusside
19/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ HYPERTENSIVE CRISIS GÂY
NÊN BỞI COCAINE ?
- cocaine gây cao huyết áp bằng cách cản catecholamine
uptake ở các tận cùng thần kinh (nerve terminals).
- do đó alpha 1-blockade với phenolamine hoặc labétalol có
hiệu quả chống cao huyết áp.
- nếu cao huyết áp thể nặng, sodium nitroprusside là thuốc
được lựa chọn
20/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ CẤP TÍNH CHỐNG CAO
ÁP TRÊN BỆNH NHÂN BỊ PHEOCHROMOCYTOMA?
- cao huyết áp do
pheochromocytoma gây nên do kích thích các alpha 1-receptor
nơi cơ trơn mạch máu, gây nên co mạch.
- do đó điều trị cấp tính tốt nhất là tiêm tĩnh mạch alpha
1-blocker ( phenolamine).
- Sodium nitroprusside cũng là một lựa chọn hợp lư.
- Beta-blockers cần nên tránh sử dụng lúc khởi đầu bởi v́
gây nên kích thích alpha1 receptors ngoại biên mà không bị
đối kháng và làm giảm lưu lượng tim
21 / BỆNH NĂO DO CAO HUYẾT ÁP LÀ G̀ ?
-
Bệnh năo do cao huyết áp (hypertensive encephalopathy) là
một dạng hypertensive emergency xảy ra khi huyết áp quá cao
khiến sự điều hoà tự trị của tuần hoàn năo không hoạt động
được. Khi đó lưu thông máu đến năo không c̣n được kiểm soát
được nữa và áp lực nội sọ ( ICP : intracranial pressure)
tăng cao. Bệnh năo do cao huyết áp có khởi đầu cấp tính với
các triệu chứng liên kết với sự gia tăng đột ngột của huyết
áp. Các triệu chứng gồm có đau đầu, nôn mửa, trạng thái buồn
ngủ (drowsiness), lú lẫn (confusion), co giật, biến đổi thị
lực, dấu hiệu thần kinh khu trú và giảm tri thức. Các triệu
chứng này có thể hồi phục bằng cách giảm huyết áp.Nếu không
được điều trị, bệnh nhân sẽ hôn mê và tử vong trong ṿng vài
giờ..
22/ TẠI SAO SỰ ĐIỀU H̉A TỰ TRỊ CỦA TUẦN HOÀN
NĂO CÓ TẦM QUAN TRỌNG CẦN PHẢI HIỂU BIẾT?
- Sự điều hoà tự trị của tuần hoàn năo chỉ có thể hoạt động
trong một giới hạn nào đó của huyết áp động mạch trung b́nh
( MAP=Mean Arterial Pressure).V́ vậy sự điều trị quá mức một
hypertensive emergency có thể gây tai hại cung như không
điều trị.
-
Lưu lượng máu chảy qua năo (CBF=Cerebral Blood Flow) tùy
thuộc vào áp lực tưới máu năo (CPP=Cerebral Perfusion
Pressure), tức là gradient áp lực qua năo.
-
Áp lực tưới máu năo là hiệu số giữa áp lực động mạch trung
b́nh và áp lực nội sọ ( ICP = intracranial pressure)
CPP = MAP - ICP
-
Vậy để duy tŕ CBF và CPP không đổi, các động mạch năo phải
co thắt khi MAP tăng cao và giăn khi MAP giảm.
-
Ở người huyết áp b́nh thường, sự điều hoà tự trị của tuần
hoàn năo duy tŕ CBF không đổi với MAP từ 60 đến 120mmHg
- Khi MAP vượt quá 160mmHg hay giảm xuống dưới 60mmHg th́ sự
điều hoà tự trị của tuần hoàn năo không c̣n hoạt động được
nữa. Ở người bị huyết áp cao măn
tính th́ giới hạn dưới có thể cao hơn 60.
- Nếu mục đích điều trị là phải đạt được một huyết áp
b́nh thường th́ điều này có thể dẫn tới một CBF không đầy đủ
và sau đó là thiếu máu và nhồi máu năo.
- Khi điều trị hypertensive emergencies, MAP không nên hạ
giảm trên 20-25% hoặc huyết áp trương tâm không được hạ giảm
dưới 110mmHg trong ṿng 30 phút đến 1 giờ..
- Theo dơi điều trị cẩn thận để tránh
hạ huyết áp đột ngột là điều chủ yếu .
23/ ĐIỀU TRỊ BỆNH NĂO DO CAO HUYẾT ÁP NHƯ
THỂ NÀO?
- Tất cả các bệnh nhân bị hypertensive emergency bất cứ
dưới dạng nào đều cần phải monitoring,cho oxygen bổ sung và
tối thiểu phải đặt 2 đường dẫn truyền tĩnh mạch ngoại biên.
- Một đường động mạch (arterial line) để theo dơi huyết
áp liên tục cũng cần thiết.
- Có vài thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh năo do
cao huyết áp. Chúng tác dụng bằng những cơ chế khác nhau
nhưng có chung 3 tính chất quan trọng:
a/ có thể cho bằng tiêm truyền nhỏ giọt bằng tĩnh
mạch (intravenous drip), do đó có thể điều chỉnh liều
lượng.
b/ có tác dụng khởi đầu nhanh
c/ có thời gian tác dụng ngắn.
- Theo truyền thống, thuốc được ưa thích sử dụng là
nitroprusside , có tác dụng tức thời và gây giăn mạnh các
động mạch và tĩnh mạch. Nitroprusside chống chỉ định dùng ở
đàn bà có thai, có thể làm gia tăng áp lực nội sọ, có chất
chuyển hóa trung gian là cyanide và là hợp chất nhạy cảm với
ánh sáng, cần phải luôn luôn được bao bọc bởi vật liệu mờ
(opaque material).
- Fenoldopam, mesylate, labetalol (Trandate) hay
esmolol (Brevibloc) có cùng hiệu quả điều trị như
nitroprusside nhưng ít bị hạn chế hơn.
24/ NHỮNG HỢP CHỨNG THẦN KINH KHÁC LIÊN KẾT
VỚI CAO HUYẾT ÁP?
- thromboembolic và hemorrhagic strokes liên kết với
cao huyết áp nhưng cao huyết áp không phải là nguyên nhân
trực tiếp.Khi các bệnh nhân này đến pḥng cấp cứu, huyết áp
thường tăng cao. Cao huyết áp ở đây là đáp ứng thích nghi
của năo bộ để cố gắng duy tŕ áp lực tưới máu năo (CPP) và
lưu lượng máu đến vùng bị thiếu máu. Hạ huyết áp hay b́nh
thường hoá huyết áp có khả năng gây nguy hiểm cho bệnh nhân
bị đột quy thiếu máu (ischemic stroke) và điều này không
được chỉ định . Huyết áp sẽ hạ từ từ trong ṿng 10 ngày sau
nơi hầu hết các bệnh nhân
- Nếu đó là đột quy xuất huyết (hemorrhagic strokes) và
CT Scan năo cho thấy có xuất huyết năo quan trọng, cần hạ
huyết áp một cách thận trọng khi huyết áp tâm thu trên
200mmHg và huyết áp tâm trương trên 120mmHg. Hạ nhanh huyết
áp trong 24 giờ đầu liên kết với tỷ lệ tử vong cao. Các
thuốc hạ huyết áp bằng đường tĩnh mạch được dùng là
nitroprusside, labetalol, nicardipine, fenoldopam hay
esmolol.
25/ ĐIỀU TRỊ ĐÚNG ĐẮN CAO HUYẾT ÁP TRONG
BỆNH CẢNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NĂO ?
- Bệnh nhân bị tai biến mạch máu năo thường có cao
huyết áp bởi những lư do không được hoàn toàn hiểu rơ.
- Không nên điều trị chống cao áp nếu huyết áp <160/110 bởi
v́ hạ huyết áp có thể dẫn đến hypoperfusion ở các cơ quan
sinh tử đă thích nghi với cao huyết áp măn tính.
- Huyết áp >180/110 nên được điều trị một cách thận trọng
với các thuốc chồng cao áp bằng đường tĩnh mạch như sodium
nitroprusside. Cần nên tránh hạ nhanh huyết áp. Mục đích của
điều trị là giảm 25% huyết áp động mạch trung b́nh (MAP)
hoặc hạ huyết áp tâm thu xuống 100mmHg trong ṿng giờ đầu
tiên. Nếu t́nh trạng thần kinh suy thoái, tốc độ hạ huyết áp
cần chậm lại. Nên bắt đầu điều trị bằng đường miệng trước
khi ngừng điều trị bằng đường tĩnh mạch.
- Tránh dùng Clonidine và Methyldopa v́ có thể làm suy yếu
chức năng năo
26/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP THỂ NẶNG
KÈM THEO PHÙ PHỔI ?
- bắt đầu bằng điều trị phù phổ i: giảm afterload,
nitrites, 02 và lợi tiểu.
- nếu không được cải thiện,cho thêm nitroprusside để
làm giảm thêm nữa sức cản ngoại biên của mạch máu.
27/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP THỂ
NẶNG KÈM THEO ĐAU NGỰC?
-Thiếu máu cục bộ cấp tính (acute ischemia) của tâm
thất trái liên kết với đau ngực thường đi kèm với cao huyết
áp thể nặng.
- chủ yếu là làm giảm sức cản ngoại biên của mạch máu
và giảm sự làm việc của cơ tim để ngăn ngừa thiếu máu cục bộ
đang tiến triển.
- điều trị đầu tiên (first-line treatment) là
nitroglycerin cho bằng đường tĩnh mạch kết hợp với labetalol
hay esmolol bằng tĩnh mạch.
- nếu vẫn không giảm được huyết áp th́ có thể cho thêm
nicardipine hay fenoldopam
- Nitroprusside được sử dụng như thuốc điều trị thứ hai
(second-line treatment) nhưng gần đây người ta t nhận thấy
nitroprusside gây nên hiện tượng coronary-steal phenomenon
nơi những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, gây tử vong nơi
bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim.
28/ THÁI ĐỘ ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP THỂ NẶNG
NƠI BỆNH NHÂN BỊ BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ VÀ ĐAU NGỰC ?
- cao huyết áp có thể dẫn đến đau ngực do thiếu máu cục
bộ (ischemic chest pain) nơi bệnh nhân bị bệnh động mạch
vành thể nặng.
- mặt khác, cao huyết áp xảy ra do cơn đau thắt ngực
làm tăng catécholamines trong máu và dẫn đến huyết áp cao
thứ phát do phản ứng (secondary reactive hypertension).
- trong cả hai trường hợp, cao huyết áp liên kết với sự
gia tăng sức đề kháng mạch máu toàn thể và sự gia tăng nhu
cầu oxygen của cơ tim.
- Nitroglycerin và beta-blockers là những thuốc được
lựa chọn đầu tiên trong điều trị này.
- bởi v́ nitroprusside làm gia tăng tần số tim và nhu
cầu oxygen trong t́nh huống này, nên được sử dụng như thuốc
điều trị hạng hai
29/ CÓ PHẢI THIẾU MÁU CỤC BỘ LÀ NGUYÊN
NHÂN DUY NHẤT GÂY ĐAU NGỰC NƠI BỆNH NHÂN CAO HUYẾT ÁP ?
- Không! Phải luôn luôn nghĩ đến
khả năng aortic dissection cấp tính bởi v́ bệnh lư này là
một nguyên nhân tử vong nhanh chóng của đau ngực.
-
Mục đích của điều trị là làm giảm bớt pulsatile load và
shear forces lên thành động mạch.
-
nếu chẩn đoán aortic dissection rất được nghi ngờ th́ phải
tiến hành điều trị ngay lập tức trước khi làm bất cứ thăm ḍ
chẩn đoán nào.
-
mục đích của điều trị là làm giảm nhanh huyết áp thu tâm
xuống trị số 100-110mmHg.
-
cần phải báo cáo về bệnh nhân với phẫu thuật viên trước khi
xác định chẩn đoán cuối cùng bởi v́ dissection xảy ra ở cung
(arch) hay phần gần (proximal portion) của động mạch chủ cần
phải được giải phẫu ngoại khoa cấp cứu.
-
đối với dissection của động mạch chủ xuống (descending
aorta) , điều trị nội khoa là chủ yếu
-
điều trị cổ điển sử dụng nitroprusside bằng đường tĩnh mạch
để làm giảm preload và afterload và một beta-blocker (như
esmolol) bằng đường tĩnh mạch. Esmolol được cho trước tiên
để ngăn ngừa reflex tachycardia gây nên bởi nitroprusside
khiến dissection bị lan truyền.
-
những phương pháp điều trị khác là tiêm tĩnh mạch labetalol
như tác nhân đơn độc và nicardipine tĩnh mạch hoặc
fenoldopam thay v́ nitroprusside
30/ NHỮNG THUỐC ĐƯỢC CHỌN SỬ DỤNG Ở MỘT BỆNH
NHÂN CAO HUYẾT ÁP THỂ NẶNG VÀ SUY THẬN CẤP TÍNH?
- Fenoldopam tiêm tĩnh mạch đă được chấp
thuận sử dụng ở Hoa Ky để điều trị hypertensive emergencies
và là một dopamine-1-receptor agonist. Thuốc có tác dụng
ngắn và có nhiều lợi thế hơn so với nitroprusside : gia tăng
lưu lượng máu qua thận, thanh lọc créatinine, bài tiết Na và
lợi tiểu.Thuốc hạ huyết áp với hiệu quả tương tự
nitroprusside và không có tác dụng có hại.
- một cách điều trị khác là nicardipine, một calcium
channel blocker tiêm tĩnh mạch.
31/ NẾU ĐÓ LÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ THAI VỚI
CAO HUYẾT ÁP THỂ NẶNG TH̀ PHẢI NGHĨ ĐẾN BỆNH G̀?
TIỀN SĂN KINH
(PREECLAMSIA):
- điều trị quyết dinh là sổ thai và nhau nhưng trước
tiên phải cho magnesium ngay để pḥng ngừa co giật và để
ngăn ngừa tiền sản kinh tiến triển thành sản
kinh.
- theo truyền thống, hydralazine được sử dụng để điều
trị cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén nhưng có thể gây
tim đập nhanh do phản xạ ( reflex tachycardia), nên thường
cần phải được dùng kèm theo một beta-blocker. Ngoài ra với
hydralazine không thể điều chỉnh nồng độ(titrer) dễ dàng.
- các bệnh nhân bị sản giật thường cần đưa vào pḥng
hồi sức ICU và dùng labetalol hoặc nicardipine tiêm tĩnh
mạch thường được ưa thích hơn
32/ CHẾ ĐỘ ĐIỀU TRỊ TỐT NHẤT CHO BỆNH
NHÂN BỊ TIỀN SĂN KINH LÀ G̀ ?
- Tiền sản kinh là kết hợp của
cao huyết áp, protéine niệu và phù.
-
xảy ra sau tuần thứ 20 của thời kỳ thai nghén.
-
thuốc điều trị cổ điển được sử dụng là hydralazine và
alpha-methyl-dopa (Aldomet).
-
nếu các thuốc này không hiệu quả hoặc kém được dung nạp,
labetalol là thuốc thay thế an toàn và hiệu quả
-
các thuốc cần tránh sử dụng v́ có khả năng gây quái thai gồm
có nitroprusside sodium, trimethaphan , diazoxide, ACE
inhibitors, beta- blockers và calcium channel blockers .
-
bởi v́ tiền sản kinh và sản kinh có thể gây nguy hiểm đến
tính mạng, nên có thể cần cho những thuốc chống cao áp mạnh
(nitroprusside sodium, minoxidil) với khả năng gây độc tính
cho thai nhi không chắc chắn lắm
33/ CÓ THỂ DÙNG THUỐC CHỐNG CAO ÁP BẰNG
ĐƯỜNG MIỆNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ HYPERTENSIVE EMERGENCIES ?
- Thuốc dùng bằng đường miệng có
thể được chấp nhận sử dung đối với các bệnh nhân với
hypertensive urgencies và không có triệu chứng hay dấu chứng
thương tổn các cơ quan sinh tử.
- Không nên điều trị hypertensive emergencies với thuốc
dùng bằng đường miệng bởi v́ đáp ứng không tiên liệu được,
không thể điều chỉnh liều lượng thuốc và không thể ngưng tức
thời nếu huyết áp bệnh nhân hạ xuống mức không an toàn,
34/ CÓ CẦN THIẾT ĐIỀU TRỊ MỘT BỆNH NHÂN CAO
HUYẾT ÁP NHƯNG KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG THƯƠNG TỒN CƠ QUAN ?
- Không! Không có dữ kiện nào tán đồng việc hạ huyết áp
cấp thời trên một bệnh nhân nào đó ở pḥng cấp cứu nếu không
có triệu chứng hay dấu chứng của thương tổn cơ quan sinh tử.
- Tiến hành điều trị cao huyết áp nên dành cho BS gia
định nhưng có thể bắt đầu điều trị ngay ở pḥng cấp cứu nếu
bệnh nhân có tiền sử cao huyết áp và được theo dơi đúng đắn.
- Nếu quyết định điều trị bằng một thuốc chống cao áp
bằng đường miệng trong những trường hợp nói trên, th́ không
cần theo dơi bệnh nhân cho đến khi huyết áp ha. Bệnh nhân có
thể xuất viện an toàn mà không cần một thời kỳ quan sát và
theo dơi thuốc chống cao áp đang được sử dụng.
35/ TRONG CAO HUYẾT ÁP THỂ NẶNG, HẠ
HUYẾT ÁP CÓ THỂ DẪN ĐẾN TĂNG NỒNG ĐỘ CREATININE TRONG MÁU VÀ
GIẢM TỐC ĐỘ LỌC VI CẦU.TẠI SAO ?
Có hai nguyên nhân chính làm giảm tốc độ lọc vi cầu
(glomerular filtration rate : GFR ) :
1/Hẹp động mạch
thận (renal artery stenosis)
:
- ở bệnh nhân có các thương tổn vữa xơ động mạch
cố định của động mạch thận chính, giảm huyết áp gây nên giảm
lưu lượng máu qua thận và GFR. Hiệu quả này liên quan đến
một thương tổn cố định trên một động mạch thận chính hay
phụ.
- giảm huyết áp đưa đến giảm lưu lượng qua mao
mạch vi cầu. B́nh thường sự giảm áp suất này được bù trừ bởi
gia tăng tính trương lực của tiểu động mạch đi của vi cầu
(efferent arteriolar tone).Trong vài trường hợp, lưu lượng
suy giảm nghiêm trọng đến độ ngay cả sự gia tăng cực đại
tính trương lực tiểu động mạch đi vẫn không thể bù trừ Trong
những trường hợp khác, các thuốc được dùng để giảm huyết áp
như ACE inhibitors và angiotensin receptor , làm ngăn cản sự
gia tăng của tính trương lực ở các tiểu động mạch đi (b́nh
thường có tác dụng bù đối với sự giảm lưu lượng).
2/ Cao huyết áp nguyên phát măn tính :
- trong trường hợp này không có bất b́nh thường ở
các động mạch lớn.
- vấn đề ở đây là sự xơ cứng (sclérose) rơ rệt các
vi huyết quản của thận, bao gồm động mạch đến (afferent
artery).
- bởi v́ các tiểu động mạch đến bị xơ cứng nên động
mạch đến khong thể giăn để đáp ứng với sự giảm huyết áp toàn
thân. Do đó GFR giảm khi huyết áp bị hạ. Hiệu quả trên GFR
bị làm xấu hơn bởi các thuốc giảm áp như ACE inhibitors và
angiotensin receptor blockers (các thuốc này ngăn cản sự gia
tăng trương lực của tiểu động mạch đi, b́nh thường có tác
đúng chống lại giảm huyết áp)
Référence :
-
Emergency Medicine Secrets
-
Critical Care Secrets
BS Nguyễn Văn
Thịnh
17/12/2006 |