|
SÂM VÀ HỘI CHỨNG LẠM DỤNG SÂM
(GINGSENG AND
GINSENG ABUSE SYNDROM or GAS SYNDROME
BS
Nguyễn Xuân Quang
·
Tên dược thảo: Radix Ginseng
·
Tên thảo mộc: Panax ginseng C.A. Mey.
·
Tên Trung Hoa Rén Shèn (Quan thoại).
·
Tên Nhật: Ninjin
·
Tên Đại hàn: Insam.
·
Tên Mỹ: Ginseng root.
Nhân sâm thường gọi tắt là sâm được người Đông phương
coi như là một thần dược, một thứ thuốc trị bá bệnh,
một thứ thuốc tiên, thuốc thánh. Vì thế người Trung
Hoa còn gọi nhân sâm là Thần Thảo. Sâm là một vị thuốc
danh tiếng nhất trong Đông Y. Sâm đã được vinh danh từ
cổ thời. Sách Thần Nông Bản Thảo, Nội Kinh đã nói đến
sâm. Hoa Đà thời Tam Quốc đã viết trong sách Trung
Tàng Kinh Luận bàn nhiều về tính cách của vị thuốc
nhân sâm. Ngày nay sâm cũng vẫn còn được tôn vinh. Đại
Hàn trước đây được thế giới biết tới nhiều là nhờ nhân
sâm.
Dựa vào ý nghĩa sâm là thần dược đó, người Tây phương
đã dịch nhân sâm là ginseng xếp vào loại Panax. Chữ
Panax phát gốc từ chữ Panacea có nghĩa là thuốc trị bá
bệnh, thần dược. Danh từ Panacea này rút ra từ truyện
thần thoại Hy Lạp. Thần Y Học Asclepius có người con
gái chữa bệnh rất giỏi. Nàng rất mát tay chữa đâu khỏi
đấy, không bệnh gì chữa không khỏi, chữa bá bệnh, bệnh
nào cũng chữa khỏi. Nàng tên là Panakeia. Từ tên nàng
Panakeia phát sinh ra từ Panacea và panax.
Ngày nay dân Tây phương dùng sâm rất nhiều và vì bản
tính thái quá nên đã có nhiều trường hợp bị ngộ độc
sâm gọi là Hợp Chứng Lạm Dụng Sâm Ginseng Abuse
Syndrome, gọi tắt do ba chữ đầu G-A-S ghép lại là GAS
Syndrome (xin đừng lầm với Hợp chứng Hơi!).
Đặc Tính Thảo Mộc:
Sâm thích mọc ở những vùng đồi núi ẩm thấp, dưới bóng
rợp của rừng cây um tùm, rậm rạp.
Sâm có rễ quanh năm, mỗi năm nẩy chồi mọc thành cọng
thân tròn, trơn, cao chừng 1 bộ, tại đỉnh tẽ ra 3
cuống lá. Muỗi cuống có lá kép gồm 3-7 lá nhỏ, thường
thường trung bình 5 lá. Hoa nhỏ, xanh xanh, xếp theo
hình tán đơn đỡ bởi cuống hoa. Quả gồm những trái nhỏ
hình thận màu đỏ son, có chứa 2, đôi khi 3 hột.
Rễ dài từ 1-3 inch, mọng thịt, to bằng ngón tay.
Thường chẻ hai ở dưới trông giống hai chân người. Đó
là lý dó người Trung Hoa gọi là nhân sâm. Tận cùng và
dọc theo thân có những rễ phụ gọi là nhân sâm chi (bán
trên thị trường dưới tên là nhân sâm bách chi, rễ phụ
chia nhánh tới trăm lần vẫn còn được gọi là chi) và
những rễ sợi nhỏ dài trông như râu tóc gọi là nhân sâm
tu. Những râu nhỏ đâm ngang thân rễ cái gọi là sâm
nhị hồng.
Khi khô, rễ sâm màu vàng trắng và nhăn nheo ngoài mặt.
Những vành nhăn ngang này gọi là hoành văn. Sâm mọc tự
nhiên càng có nhiều vành nhăn càng lớn tuổi. Sâm Cao
Ly (Đại Hàn) "cứ xem bao nhiêu vành là biết củ sâm
ấy đã mọc được bao năm rồi" (Nguyễn Văn Minh, Dược
Tính Chỉ Nam, tr.470).
Lõi rễ cứng bao bọc bởi phần thịt và vỏ mềm. Có mùi
ngọt nhẹ, hơi thơm. Nhiều nơi trước khi làm khô người
ta làm cho rễ trong sáng khiến nó trông trong suốt và
giống như sừng.


Ngày nay, để giản tiện cách viết, người Trung Hoa đã
giản lược bớt chỉ viết một chữ "tư" trên đầu chữ nhân,
thay vì ba chữ "tư" như trước. Đây này là một điểm
đáng tiếc và cũng chứng tỏ người Trung Hoa đã mấy ngàn
năm rồi mà không hiểu ẩn ý người sáng tạo ra chữ sâm
trên đầu viết ba chữ "tư" là dựa vào ba chòm lá trên
đỉnh đầu cây sâm mà tác giả đã khám phá ra. Viết giản
lược như vậy, người học về cây sâm mất đi một cách nhớ
là chỏm cây sâm có ba chòm lá khi nhìn vào chữ sâm
viết theo cách giản tiện (thì cây sâm chỉ còn có một
chòm lá!).
Vậy cây sâm dáng tựa như hình người có râu ria, đầu
đội nón lá ba chùm, sợ nắng, thích bóng mát.
"Sâm thì phần nhiều các sách viết là Nhân sâm bởi
nghĩa là con sâm nó giống như hình người cũng có đầu
có mình rễ chánh tựa như chân tay. Tuyệt nhất là cái
gốc nếu nó thắt cổ trông rất giống đầu người rồi lại
phụ thêm mấy cái rễ con nhỏ xíu hình như bộ râu thật,
có củ đẹp trông rất ngộ" (Nguyễn Văn Minh, Dược
Tính Chỉ Nam, tr.469).
Một điểm lý thú nữa là sâm được coi như là một thứ
thuốc cường dương. Và thuốc cường dương kích thích tố
nam (androgen) là chất làm cho râu tóc mọc rậm rạp.
Sâm có chứa những hoạt chất thuộc nhóm nang thượng
thận, bà con họ hàng với kích thích tố nam. Râu tóc là
biểu tượng của hùng tính, của nam tính, các quan hoạn
thường mày râu nhẵn nhụi. Nam tu nữ nhũ. Chữ sâm có bộ
sam diễn tả "lông tóc" "rậm rạp, um tùm" viết ở giữa
hai chân chữ nhân!
Quả đúng là thâm nho! Chữ sam ở đây nói lên dược tính
cường dương của sâm.
Nói tóm lại chỉ nhìn chữ sâm ta có thể nhớ đến:
Thảo mộc tính của cây sâm hình dạng giống người, có
nhiều lông tóc (sâm tu, sâm bách chi, sâm nhị hồng)
đầu đội nón lá ba chòm, sợ nắng, thích bóng rợp,
"thích dâm"! (vừa ưa bóng mát, vừa là thuốc cường
dương). Dược tính của sâm có thể làm mọc râu ria xum
xuê, lông tóc giữa hai chân râm rạp. Sâm là chất cường
dương. Dùng sâm, con người sẽ "thích dâm" (dâm dục).
Sâm thích dâm (bóng mát), người dùng sâm cũng thích
dâm.
Nhân Sâm Thần Thảo
Panax
Sâm có 22 giống nhưng chỉ có các giống thuộc họ thần
thảo panax mới có dược tính mà thôi, nên chỉ xin nói
qua các loại sâm thuộc họ này. Họ sâm thần thảo có bốn
loại chính:
1. Panax qinquefolius: Nhân
sâm Hoa Kỳ, Tây Dương Sâm:
Sâm Mỹ mọc ở những vùng đồi núi thuộc các tiểu bang
miền bắc, trung và tây Hoa Kỳ.
Một số các bộ lạc thổ dân da đỏ có nguồn gốc cổ Á
châu vượt eo biển Bering qua Mỹ Châu vốn đã biết dùng
và tôn sùng sâm, nên mò tìm ra sâm Hoa Kỳ này. Họ dùng
sâm này làm thuốc ái ân, làm thuốc cường dương, bổ
thận.
Sâm Mỹ có hai loại:
a. Panax qinquefolius (năm lá):
Là loại thường thấy, 90-95 % thâu hoạch từ những cây
mọc dại (gọi là dã sơn sâm Hoa Kỳ) hay được trồng trọt
tại Mỹ và Canada. Một thời sâm này đã xuất cảng bán
qua Trung Quốc rất nhiều.
b. Hồng sâm Hoa Kỳ (Red American ginseng): Rumex
hymenosepalus (polygonaceae):
Cây này nguồn gốc ở vùng tây nam Hoa Kỳ, sau đó được
trồng ở nhiều nơi. Rễ được đem bán dưới tên là sâm
hồng Hoa Kỳ. Rễ củ trông giống củ thược dược màu vàng.
Thổ dân Navajos dùng làm thuốc nhuộm len sợi. Thổ dân
Hopi và Papago dùng rễ cây này làm thuốc trị cảm cúm
và đau cổ họng. Sau đó người MỸ nhất là dân Texas dùng
làm thuốc cây nhà lá vườn trị cảm cúm, răng lung lay,
đau cổ họng và lở lói. Các thổ dân Hoa Kỳ dùng cuống
lá làm bánh.
Những người cung cấp, buôn bán "hồng sâm Hoa Kỳ" gán
cho là rễ cây này có dược tính giống như nhân sâm,
nhất là về phương diện cường dương. Sự thật không có
bằng chứng nào "sâm hồng" này giống nhân sâm. Rễ loại
cây này có chứa một lượng lớn chuyển hóa chất
anthraquinone có dược tính nhuận trường. Vì thế nếu
mua sâm uống mà bị tiêu chẩy phải nghi là mình đã mua
phải loại sâm hồng Hoa Kỳ này. Sâm hồng Hoa Kỳ thật sự
không phải là sâm.
2. Panax pseudo-ginseng:
Nhân sâm thần thảo giả: gốc ở Viễn Đông. Dr
H. L. Li cho rằng tất cả các loại sâm trồng ở trung,
tây, nam Trung Quốc đều thuộc về các giống từ Ấn Độ và
nhân sâm loại Panax giả.
3. Panax japonicus:
sâm Nhật Bản, Đông Dương sâm, Đông sâm.
(Người Trung Hoa gọi Nhật Bản là Đông Dương không có ý
nói Đông Dương Việt Cambodia, Lào)
Gốc ở Nhật được trồng nhiều ở vùng núi Đông Dương, Vân
Nam (Pételot A., Les Plantes du Cambodge, du Laos et
Du Vietnam. I. Arch. Recherces Agron., 1952, 1:402)
4. Panax ginseng: Nhân
sâm Thần thảo.
Thấy mọc ở Mãn Châu và Đại Hàn.
DƯỢC TÍNH CỦA
NHÂN SÂM
Theo Đông Y, sâm vị cam (ngọt), hơi đắng, hơi ấm. Sâm
vào hai kinh chính là tỳ (spleen) và phế (phổi)
Như trên đã nói Sâm gồm có 22 giống nhưng chỉ có những
giống có họ hàng với giống thần thảo panax mới có dược
tính và được coi là tốt. Nhiều loại sâm thương mại bán
ở thị trường chẳng có chứa một hoạt chất có dược tính
trị liệu gì cả. Sâm là một dược thảo đắt tiền nhất. Vì
thế mua phải chọn đúng giống panax cho đáng đồng tiền
bát gạo và không bị lừa. Các loại thuộc giống
Ethelerococcus senticosus (sâm Tây Bá Lợi Á) không có
hoạt chất glycosides và loại hồng sâm Hoa Kỳ, hay sâm
sa mạc Rumex Hymenosepalus (còn gọi là Canaigre) có
chứa tannin và oxalate rất có độc tính và làm tiêu
chẩy.
Sâm được coi như là một thứ thuốc giúp con người thích
ứng với hoàn cảnh (adaptogen). Nó giúp cơ thể con
người thích ứng với những kích động, kích thích, với
những biến động, với stress. Sâm điều hòa tuyến nang
thương thận, tuyến giáp trạng (tuyến nội tiết ở cổ có
hình giống cái khiên, cái giáp, thyroid gland) và
tuyến não thùy. Sâm vì thế làm gia tăng biến dưỡng,
làm điều hòa huyết áp và lượng đường trong máu. (xin
mở một dấu ngoặc ở đây, vì thế người ta hay đổ sâm vào
miệng những người hấp hối sắp chết để làm tăng áp
huyết và lượng đường cho con bệnh hồi tỉnh. Các người
tuyệt thực uống sâm để chữa những triệu chứng thiếu
đường trong máu hypoglycemia cho đỡ bớt thấy đói, lao
đao, xây xẩm, muốn xỉu, vã mồi hôi, trống ngực đổ hồi,
bủn rủn tay chân...).
Nhân sâm có 13 chất khác nhau dưới dạng saponin. Mỗi
chất có một tác dụng riêng. Trong một cây các saponin
này có thể kết hợp lại với nhau hoặc không và tính
chất thay đổi tùy theo vùng địa lý, điều kiện trồng
trọt và thời gian gặt hái.
Hoạt chất của sâm gồm một hỗn hợp các chất glycosides
còn gọi là gensinosides thuộc nhóm chất steroid. Một
vài glycosides sâm dưới dạng đậm đặc có năng tính gây
ra ngộ độc. Một vài loại chỉ có bổ tính khi đem chích,
nếu uống hoặc dùng các cách khác trở thành vô bổ. Phần
xử dụng thông thường nhất là dễ sâm. Phân tích 100gam
rễ nhân sâm thấy có chứa 338 calorie, 12.2g protein,
70g carbohydrate, những loại sinh tố A, B1, B2, B12, C
và E, Niacin, Calcium, sắt và phốt pho.
Ở Trung Quốc có khi cho dùng tới liều thật mạnh 50g.
Dùng quá liều sẽ đưa tới chứng mất ngủ (xin mở một dấu
ngoặc nơi đây, người nhậy cảm với sâm không nên uống
sâm buổi chiều hay tối sẽ bị mất ngủ), ưu sầu, trầm
cảm (depression) và các biến loạn thần kinh. Tại Hoa
Kỳ hơn 6 triệu người dùng sâm và đã có nhiều trường
hợp ngộ độc sâm gọi là Hội Chứng Lạm Dụng Sâm (Ginseng
Abuse Syndrome hay GAS syndrome).
SẢN PHẨM
Cơ Quan Kiểm Thực Dược FDA Hoa Kỳ chỉ công nhận cho
dùng một dược phẩm có sâm là kem sâm dùng bôi để làm
dịu da.
Tuy nhiên trong các chợ, đông y dược phòng, các tiệm
bán đồ dinh dưỡng... ở Mỹ bầy bán nhan nhản sâm dưới
mọi hình thức như sâm củ, sâm rễ, râu sâm, sâm bào,
sâm dầm rượu, sâm nước, trà sâm, sâm bột, cao sâm, dầu
sâm, kẹo sâm, kẹo cao su sâm, lá sâm, thuốc lá sâm...
Sâm ngậm, sâm nhai, sâm nuốt, sâm hít, sâm uống, sâm
nhét, sâm chích, sâm dán...
HỘI CHỨNG LẠM
DỤNG SÂM
Hội chứng ngộ độc hay lạm dụng sâm, GAS syndrome thấy
ở những người dùng sâm lâu dài. Dù chỉ dùng một lượng
nhỏ 3mg mỗi ngày trong nhiều năm cũng sẽ đưa đến hội
chứng GAS (JAMA số 241, 1979).
Người bị hội chứng này thường có những triệu chứng
sau: dễ bị kích thích, sảng khoái, sáng suốt, minh
mẫn, bị tiêu chẩy buổi sáng khi thức dậy, nổi mần ở
da, giọng trầm đi, mất ngủ, căng thẳng thần kinh, tăng
áp huyết, phù thũng, gia tăng hoạt dục, giảm ngon
miệng, ưu sầu, đôi khi giảm áp huyết, đàn bà không
thấy kinh hoặc có huyết hư...
Trước đây một bác sĩ sản phụ khoa tại Đại Học Michigan
phát hiện một trường hợp kem sâm bôi mặt gây ra chứng
huyết hư ở một bà đã tắt kinh (American Journal of
Obstetrics and Gynecology, December 1988). Khi đã hết
kinh mà thấy huyết hư bác sĩ thường nghi bị ung thư cổ
hay dạ con. Vì thế khi dùng sâm mà bị huyết hư phải
khai rõ cho bác sĩ biết để tránh khỏi bị mất tử cung
một cách oan uổng.
Các chuyên gia khác cảnh cáo không nên dùng sâm ở
những bà bầu, phụ nữ đang tuổi mang thai và trẻ em vì
sâm có tính chất của một kích thích tố.
Nhưng đang dùng sâm mà bỏ sâm đột ngột (giống như đang
dùng thuốc steroid mà bỏ đột ngột không giảm dần) sẽ
gây ra hội chứng cai sâm. Hội chứng này gồm có căng
thẳng thần kinh, tay chân run rẩy, kiệt lực và áp
huyết tụt xuống thấp gây ra xây xẩm chóng mặt, có cảm
giác muốn xỉu...
Tóm lại sâm là loại dược thảo đắt tiền nhất, chỉ có
loại thuộc họ thần thảo panax mới có dược tính nên
phải tìm mua đúng loại này. Chất sâm thuộc loại
steroid là loại thuốc có nhiều phản ứng phụ phải dùng
thận cẩn thận.
BS
Nguyễn Xuân Quang |
|