|
Thời Sự Y Học
BS Nguyễn Văn
Thịnh
1/
CÁC EM BÉ
ĐỌC TRÊN MÔI
Một nghiên cứu của Canada chứng tỏ rằng các trẻ sơ
sinh biết phân biệt bằng mắt tiếng mẹ đẻ này với tiếng mẹ đẻ
khác.
Bạn kể một câu chuyện cho con bạn mới 4 đến 6 tháng
nghe. Nó chỉ thấy môi bạn cử động khi bạn đang nói nhưng
không nghe bạn nói những ǵ : nó có vẻ không chú ư lắm.
Nhưng nếu bạn bắt đầu nói tiếng Anh th́ nó để ư ngay điều đó
!
Nhóm nghiên cứu của Whitney Weikum thuộc Đaị Học
Colombie-Britanique ở Vancouver (Canada) đă chứng tỏ rằng
các em bé từ 4 đến 6 tháng biết phát hiện bằng mắt sự chuyển
đổi từ tiếng nói nước này qua tiếng nói nước khác.36 trẻ em
4,6 hoặc 8 tuổi , thuộc những gia đ́nh nói tiếng Anh hoặc
song ngữ Anh-Pháp, đă được cho xem những đoạn phim câm
vidéo.Trong đoạn phim đầu tiên, một người biết nói hai thứ
tiếng (bilingue) nói bằng tiếng Anh.Trong đoạn phim thứ hai,
cũng người này lúc đầu nói tiếng Anh nhưng sau cùng chấm dứt
bằng tiếng Pháp. Khi một em bé 4 đến 6 tháng, thuộc gia đ́nh
nói tiếng Anh, nh́n Vidéo bằng tiếng Anh th́ sự chú ư của nó
bị suy giảm nhanh chóng nhưng nếu nó nh́n vidéo trong đó
người nói chuyển ngữ th́ nó trở nên chú ư hơn. Như vậy các
em bé biết phân biệt một tiếng nói nhờ các tín hiệu thị
giác, một khả năng cần thiết để thụ đắc ngôn ngữ. Nhưng khả
năng này không kéo dài lâu. Chỉ có những trẻ thuộc gia đ́nh
nói 2 thứ tiếng là c̣n giữ khả năng phân biệt 2 tiếng nói
theo cử động của đôi môi. Đây là một ưu thế không phải là
nhỏ để học những tiếng khác trong tương lai.( POUR LA
SCIENCE 7/2007)
2/ KỀM HĂM TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG
Cản
Interleukine-1-beta,một phân tử của hệ miễn dịch, làm giảm
nhẹ bệnh đái đường.
Năm 1995,đă có 135 triệu người bị bệnh đái đường
trên thế giới, năm 2000 con số lên đến 177 triệu và vào năm
2025 hẳn phải có hơn 300 triệu. Ở Pháp hiện tại đă có 2
triệu người. Nhóm nghiên cứu của nhà nội tiết học Marc
Donath thuộc đại học Zurich từ mười năm nay t́m cách chống
lại tai ương này : nhóm nghiên cứu vừa trắc nghiệm thành
công một phương tiện để làm chậm lại tiến triển của bệnh..
Trong bệnh đái đường phổ biến nhất (đái đường loại
2), sự tiêu thụ quá độ thức ăn, đặc biệt là đường, làm những
tế bào sản xuất insuline ( các tế bào beta của các tiểu đảo
Langerhans của tụy tạng) bị rút kiệt dần hoặc bị chết .
Không có insuline, nồng độ đường trong máu sẽ tăng lên quá
mức, điều này sẽ mang lại những hậu quả có hại lên các chức
năng quan trọng. Các tế bào beta chết đi (điều này mới đây
đă được xác nhận) ngay từ khởi đầu của căn bệnh, nhưng chúng
cũng có khả năng tăng sinh . Chính v́ vậy mà Donath khẳng
định rằng nếu ta t́m cách phong tỏa đuợc sự hủy hoại các tế
bào beta th́ sự tăng sinh của chúng sẽ đủ để b́nh thường hoá
nồng độ đường. Các nhà nội tiết học đă chứng tỏ rằng phân tử
interleukine-1-beta đóng một vai tṛ chủ chốt trong sự chết
của các tế bào beta. Phân tử này khởi động cái chết được
chương tŕnh hóa của tế bào (apoptose). Với sự hỗ trợ của
các đồng nghiệp của Trung tâm Steno v́ bệnh đái đường ở Đan
mạch, cách nay 3 năm, họ đă phát động một nghiên cứu lâm
sàng trên 70 bệnh nhân đái đường. Một nhóm bệnh nhân thứ
nhất nhận chất phong bế interleukine-1-beta c̣n nhóm thứ hai
th́ nhận một placebo. Sau một tuần người ta nhận thấy có
những cải thiện rơ rệt về chuyển hóa đường và nồng độ đường
trong máu.Ngoài ra điều trị làm giảm nhẹ nhiều hiện tượng
viêm có liên quan đến các biến chứng tim mạch của bệnh đái
đường.
Thế mà bây giờ ta đă có các chất phong bế
interleukine-1-beta với thời gian tác dụng tương đối dài. Có
lẽ bệnh đái đường loại 2 sẽ được điều trị bằng một mũi tiêm
mỗi tháng (hoặc mỗi 3 tháng). Nhiều công ty dược phẩm đang
nghiên cứu hướng điều trị mới này của bệnh đái đường được
gọi là béo (diabète gras). Bệnh này đặc biệt gây bệnh cho
những người bị tăng thể trọng.(POUR
LA SCIENCE 7/2007)
3/ MỘT THUỐC CHỦNG CHỐNG DỊCH TẢ
DÙNG BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG
Một thuốc chủng uống được đă
được thử nghiệm bởi các nhà nghiên cứu của Đại Học Tokyo ở
Nhật bản. Họ đă biến đổi về mặt di truyền các ḍng của giống
lúa. Như thế họ sát nhập vào bộ gènes (génome) một chuỗi ADN
mă hoá cho một protéine của độc tố dịch tả được tiết ra bởi
các vi khuẩn Vibrio cholerae . Protéine này (CTB) tích tụ
trong các « cơ quan tích trữ » (organes de stockage) của các
hạt lúa được chuyển gène (transgénique) với nồng độ 30
microgramme mỗi hạt.
Trong da dày sự tiêu hoá của các « cơ quan tích trữ »
này chỉ xảy ra một phần, điều này cho phép các protéines CTB
không bị tiêu hoá, tương tác với các tế bào miễn dịch ở ruột
non. Một khi sự sản xuất các kháng thể được hoạt hóa, chuột
được miễn dịch chống lại bệnh.
Nếu điều này được áp dụng trên người th́ vaccin mới,
được gọi là MucoRice sẽ cho phép các nước bị dịch bệnh tích
trữ « thuốc chủng » mà không cần phải ǵn giữ bằng đông
lạnh.Thành phẩm dưới dạng viên chứa bột gạo được nghiền, có
thể được bảo quản ở nhiệt độ môi trường xung quanh trong một
năm rưỡi.
Ngoài ra tiêm chủng được gọi là « niêm mạc » (vaccination
muquese) có một ưu thế hơn tiêm chủng cổ điển bằng tiêm
chích.Tiêm chủng kích thích sự sản xuất các kháng thể không
những toàn thân mà c̣n ở niêm mạc. Sự hoạt hoá hai mức miễn
dịch này tuồng như có hiệu quả hơn để chống lại các bệnh
truyền nhiễm mới xuất hiện hoặc tái xuất hiện (maladies
infectieuses émergentes et réémergentes). Những bệnh nhiễm
khuẩn này phát triển trên các mô niêm mạc của cơ thể
(Sida,cúm,bệnh thận..) ( LE FIGARO 27/6/2007)
4/ TUỔI GIÀ VÀ BẢN NĂNG GIỚI TÍNH
« Ở Tây Âu, những người nhiều tuổi nhất càng ngày càng
nhiều và họ sống càng ngày càng lâu “ BS Marie-Hélène
Colson, chuyên gia giới tính học (sexologue) thuộc Đại Hoc Y
Khoa Marseille và Montpellier đă phát biểu như vậy. Các ông
các bà trên 60 tuổi vẫn c̣n hơn 1/3 cuộc đời trước mắt họ ».
Thế th́ những người già này họ vẫn có một đời sống
t́nh dục hay không? Trở ngại chính cho một dục tính nảy nở
chắc chắn là do sức mạnh của các thành kiến và các niềm tin
sai lạc làm hạn chế t́nh dục nơi ngươi lớn tuổi và có khuynh
hướng cho là đúng ư tưởng rằng dục tính sẽ dừng lại với tuổi
tác. Điều đáng buồn cười là giới hạn tuổi này lại thay đổi
tùy theo lứa tuổi của người được hỏi. Năm 2004, Laumann và
các cộng tác viên đă hỏi 26.000 người tuổi từ 40 đến 80 ở 29
nước khác nhau. Một trong những câu hỏi được đặt ra là:: «
Theo các ông, có một giới hạn tuổi mà từ thời điểm đó khả
năng giao hợp của các ông sẽ bị giảm không ? » Đối với những
người lứa tuổi từ 40 đến 49 th́ tuổi giới hạn là 60 đến 64
tuổi. Đối với những người 50 đến 59 tuổi th́ tuổi giới hạn
là 70. C̣n đối với những người 60 đến 69 tuổi th́ giới hạn
này trên 75 tuổi.
THỤ ĐỘNG
Sự lăo hoá đặt con người đối diện với sự mất mát
và từ bỏ. Sự suy giảm các hormones sinh dục đóng một vai tṛ
quan trọng trong quá tŕnh lăo hoá ở đàn ông cũng như ở đàn
bà và sự biến chất của h́nh ảnh có thể thường được nêu ra
như là một yếu tố kềm hăm t́nh dục nơi những người lớn tuổi
bởi chính bản thân họ cũng như bởi những người chung
quanh.Những sự suy thoái cũng xảy ra với chức năng nhận
thức, cảm giác và sự biến đổi đáp ứng t́nh dục theo tuổi từ
lâu đă được chứng minh bởi Masters và Johnson năm 1966. Sự
lăo hoá thường kèm theo sự mất tính cơ động. Tỷ lệ mắc phải
bệnh tật gia tăng với tuổi và sự liên kết giữa một bệnh măn
tính với bệnh lư cương (pathologie érectile) ở các ông đă
được đặc biệt làm sáng tỏ những năm vừa qua trong nhiều công
tŕnh nghiên cứu. Các nghiên cứu mới đây chứng thực tỷ lệ bị
rối loạn dục tính cao hơn nhiều sau 60 tuổi. Sự lăo hoá cũng
gây biến đổi trên b́nh diện xă hội , thay đổi các điểm mốc
xă hội và t́nh cảm sau khi về hưu, sự qua đời của những
người thân, những đoạn tuyệt t́nh cảm. Không ngạc nhiên khi
tỷ lệ trầm uất và tự tử cũng cao ở những người trên 60 tuổi.
Sau 80 tuổi, sự cô lập cách ly nhường chỗ cho sự chung đụng
và thiếu ấm cúng của các nhà dưỡng lăo. Do đó sự lăo hóa
mang trong nó nhiều kềm hăm cho một dục tính nảy nở.
CHỦ ĐỘNG
Nhưng
các nghiên cứu chứng tỏ rằng những người trên 60 tuổi cũng
có một tiện nghi cao hơn tiện nghi của những người 30-49
tuổi. Họ không do dự lúc phải ly dị hay làm lại cuộc sống
lứa đôi.Và nếu như t́nh dục nơi những người già cả là những
điều ta thường khó có thể h́nh dung đến th́ trên thực tế dục
tính này lại tuồng như là một phần của cuộc sống hàng ngày
của những người trên 60 tuổi và ngay cả trên 80 tuổi, như
nhiều công tŕnh nghiên cứu đă được công bố chứng tỏ. Ngay
trong vài trường hợp, dục tính tuồng như được cải thiện đặc
biệt là ở các bà nhưng cũng ở các ông về mặt phóng tinh
sớm.Vậy th́ tuồng như rằng mặc dầu những kiêng kỵ,cấm đoán
và những thành kiến, t́nh dục đúng là không biến mất theo
tuổi tác.Trên thực tế đối với những người già càng ngày càng
nổi rơ một cách sống mới : vừa sống lâu vừa già trẻ lại
(vivre vieux en vieillissant jeune) .Ngày nay những biến đổi
về các mốc t́nh dục đưa đến một cải biến sâu rộng các thái
độ t́nh dục nam và nữ và cuộc sống lứa đôi là một tiêu chuẩn
duy tŕ t́nh dục tốt hơn là tiêu chuẩn tuổi tác. ( LE
GENERALISTE 28/6/2007)
5/ VAI TR̉ CỦA TESTOSTERONE TRONG ĐÁI
ĐƯỜNG LOẠI 2
Nhiều nghiên cứu đă chứng tỏ rằng người ta thường t́m thấy
những nồng độ testostérone thấp trong máu nơi những người
đàn ông mắc phải bệnh đái đường loại 2 và ngược lại.
Những nồng độ thấp của testostérone này có tiên đoán rằng
một bệnh đái đường loại 2 hay một hợp chứng chuyển hóa
(syndrome métabolique) sẽ phát sinh về sau này không ?
Mới đây một nhóm nghiên cứu của Đại học Sheffield (
Vương Quốc Anh) được chỉ đạo bởi BS R.Stanworth đă xác nhận
mức độ rất phổ biến của một nồng độ thấp testostérone trong
một nhóm 355 đàn ông bi bệnh đái đường loại 2 và đă chứng tỏ
rằng đa số những người này có những triệu chứng của chứng
giảm năng bộ sinh dục (hypogonadisme). Nồng độ SHBG ( Sex
Hormone-Binding Globulin) giảm trong bệnh đái đường loại 2,
điều này khiến vài nhà nghiên cứu gợi ư rằng đó là nguyên
nhân của nồng độ testostérone thấp trong máu.
( LE GENERALISTE 28/6/2007)
6/ SỰ LĂO HÓA NĂO : LỢI ÍCH CỦA
CAROTENOIDES ?
Trên cơ sở công tŕnh nghiên cứu dịch tễ học được
thực hiện quy mô lớn E.V.A (évaluation du vieillissement
cérébral: đánh giá sự lăo hóa năo bộ) đă theo dơi trong 9
năm 1389 người t́nh nguyện từ 60 đến 70 tuổi, các nhà nghiên
cứu của Inserm đă chứng tỏ rằng quá tŕnh lăo hóa của năo bộ
rất tương quan với những nồng độ thấp của caroténoides trong
máu. Đặc biệt là 2 trong số các caroténoides : lycopène (
hiện diện chủ yếu trong quả bưởi, dưa hấu và cà chua) và
zéaxanthine ( rau và trái xanh ).(
LA LIBRE MATCH 14/6-20/6/2007)
7/ SỰ CÔ ĐƠN : YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA CHỨNG
SA SÚT TRÍ TUỆ
Một công tŕnh nghiên cứu được tiến hành trên 823
người trên 80 tuổi và đuợc theo dơi trong 4 năm đă xác nhận
rằng sự cô đơn (solitude) là một yếu tố nguy cơ của chứng sa
sút trí tuệ xuất hiện muộn (démence tardive) nhưng không
phải là yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer. Sự duy tŕ một
mức độ tối thiểu những mồi tương tác xă hội và t́nh cảm là
điều chủ yếu để bảo tồn các chức năng nhận thức (fonctions
cognitives).Trái lại, sự cô lập về mặt xă hội (isolement
social) sẽ làm dễ sự xuất hiện những hợp chứng « giống bệnh
Alzheimer » ( Alzheimer Like ), khác với một bệnh Alzheimer
thật sự. 90 giải phẫu tử thi được thực hiện trên những người
chết trong lúc thực hiện công tŕnh nghiên cứu đă không
chứng tỏ mối tương quan nào giữa sự cô đơn và những thương
tổn thần kinh đặc hiệu của bệnh Alzheimer cũng như không có
mối quan hệ giữa sự cô đơn với việc xảy ra các tai biến mạch
máu năo.( LA LIBRE MATCH
14/6-20/6/2007)
8/ CÁC TẾ BÀO CƠ THẾ GIÀ VÀ CHẾT NHƯ THỂ NÀO ?
Các tế bào cơ thể của chúng ta chịu thường trực một
hiện tượng oxy hóa (oxidation). Quá tŕnh oxy hóa này như
thể làm « gỉ » (rouiller) các tế bào bằng cách làm hỏng các
cấu trúc của chúng : các ADN của tế bào và nhất là các “nhà
máy điện mini “ ( mini-centrale), một loại nồi hơi
(chaudrière) nhỏ chế tạo năng lượng được gọi là thể hạt
(mitochondrie). Ngày nay các nhà nghiên cứu nghĩ rằng một
trong yếu tố quan trọng nhất của sự lăo hóa đúng là do sự
biến chất của các thể hạt này cũng như sự vận hành của
chúng. Mặt khác, các tế bào được chương tŕnh hóa về mặt di
truyền để phân chia và chết. Ta có thể ví tế bào như một
ngọn nến (bougie) trong đó bấc nến (mèche) bị thiêu hủy dần
dần và tế bào ngừng hoạt động khi không c̣n bấc nến nữa. Nếu
như các tế bào ung thư không chết đó là bởi v́ các tế bào
này sản xuất một enzyme (télomérase) làm bấc nến dài thêm
mỗi lần phân chia tế bào. Sự lăo hóa những tế bào của chúng
ta cũng do những sai lầm xảy ra trong một vài phân chia tế
bào (sai lầm trong chương tŕnh di truyền) và dẫn đến những
hỏng hụt trong chế tạo các protéine và các enzyme thiết yếu
cho sự sống.( LA LIBRE MATCH
20/6- 4/7/2007)
9/ THUỐC CHỐNG TRẦM UẤT IRS và
VENLAFAXINE VÀ CHỨNG NGHIỀN RĂNG
Các dữ kiện của Hoà Lan và Anh cho thấy hàng chục
trường hợp nghiến răng (bruxisme) có liên quan với việc sử
dụng nhiều loại thuốc chống trầm cảm IRS (inhibiteurs
sélectifs de la recapture de la sérotonine) và venlafaxine.
Rối loạn biến mất khi ngừng thuốc
nhưng mức độ đôi khi quan trọng đến độ để lại những di chứng
trên răng.
Chứng nghiến răng (bruxisme) là một cử động cọ xát không tự
ư giữa các răng trong lúc ngủ.
Tháng giêng năm 2007,Trung tâm cảnh giác dược Hoà lan Lareb
đă báo cáo 10 bảng thông báo về các trường hợp nghiến rằng
xảy ra nơi những người tuổi từ 31 đến 63 tuổi đă sử dụng
thuốc chống trầm cảm IRS (7 trường hợp) hoặc venlafaxine (3
trường hợp).
Cơ chế giải thích hiện tượng này giống vời cơ chế gây nên
những tác dụng extrapyramidal của IRS (mặc dầu venlafaxine
không phải là một IRS) (PRESCRIRE 6/2007)
10/ UNG THƯ TỤY TẠNG : HY VỌNG CỦA HAI HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trong hội nghị vừa qua của Hiệp Hội Hoa Kỳ Nghiên Cứu
Ung Thư, hai nhóm nghiên cứu của Đaị Học Pittsburg đă mang
lại niềm hy vọng về một hiệu quả lớn nhất chống lại ung thư
tụy tạng . Loại ung thư này hàng năm ở Pháp gây bệnh cho 500
người và ở Hoa Kỳ 32.000 người .Đó là ung thư tiêu hóa có
tiên lượng ít thuận lợi nhất. Nhóm nghiên cứu của BS Andrew
Lepisto đă trắc nghiệm một thuốc chủng ngừa được gọi là «
dendritique » trên 12 người bị mổ v́ ung thư tụy tạng.Thuốc
chủng này được tiêm 3 mũi cách nhau 3 tuần rồi một mũi nhắc
lại 6 tháng sau. Sau năm năm, 5 trong số những người được
tiêm chủng vẫn c̣n sống sót (tỷ lệ 42% cao hơn chuẩn hiện
nay).
Thuốc chủng này cho phép kích thích hệ miễn dịch
chống lại một loại tế bào ác tính nào đó. Không có ǵ đảm
bảo rằng phương pháp này có tác dụng lên những tế bào ung
thư tụy tạng nhưng thử nghiệm đă có kết quả dương tính.
Một nghiên cứu khác được chỉ đạo bởi BS Sanjay
Srivastava đă trắc nghiệm triphala, một hỗn hợp 3 loại trái
cây khô từ Ấn Độ, một loại thuốc cổ truyền được sử dụng để
làm dễ sự tiêu hóa. Những công tŕnh này đă gợi ư rằng
triphala làm dễ sự chết sinh học của những tế bào ung thư mà
không làm hại những tế bào lành mạnh. Giả thuyết này được
đánh giá trên chuột mang khối u tụy tạng người. Các con
chuột này được cho uống triphala 5 ngày mỗi tuần trong ṿng
1 tháng. Kết quả : Các khối u được điều trị giảm 50% so với
những con chuột được điều trị bằng placebo nhưng khộng ảnh
hưởng đến các tế bào b́nh thường.
Hai hướng nghiên cứu này có thể bổ sung cho nhau.
( LA LIBRE MATCH
31/5-5/6/2007)
Bác sĩ Nguyễn
Văn Thịnh
2/72007 |