| ...... ... | . | . | . | . | . |
Ư Nghĩa Chữ Không Trong Trung Quán
1. Không Không là điểm cộng thông giữa các bộ
phái, nhưng quan niệm của các nhà Trung quán không giống với các học
phái khác. Như "Đại Trí Độ Luận" quyển thứ 12 giải thích chữ không có 3
ư nghĩa: 1. Phân phá không 2. Quán không 3.
Thập bát không "Phân phá không": Thiên Thai tông gọi là
Chiết pháp không. Ví dụ như chúng ta lấy sợi lông chia chẻ thành cực vi,
rồi tiếp tục chia chẻ, cho đến khi nào không c̣n h́nh thể tướng trạng,
biểu hiện không tướng, cái cực vi nầy được gọi là "lâng hư". Đây là đứng
trên phương diện vật chất trong không gian mà nói, c̣n về mặt thời gian,
đem thời gian phân chiết thành từng sát na, là thời gian ngắn nhất, phân
chia cho đến khi nào không c̣n tướng trước sau, không c̣n thời gian
tính, liền xuất hiện không tướng. Do vậy phương pháp phân phá, là phân
chiết sự tồn tại của thời gian và không gian trở thành không. "Quán không" là từ tác dụng của quán
tâm. Như quán sợi lông là màu xanh liền thành lông xanh, quán lông là
màu vàng, thành lông vàng v.v... Trong Thập biến xứ quán, ở đây chỉ
thuyết minh cụ thể phương pháp Quán không. V́ dùng phương pháp quán
không mà biết được ngoại cảnh là cái sở quán là không, ở đây mượn nguời
nữ làm ví dụ, để h́nh dung cụ thể về cảnh tướng không này: nếu là kẻ thù
khi nh́n thấy cô ta th́ sanh ḷng oán hận, là người yêu th́ sanh ḷng
luyến ái, là con cháu th́ sanh ḷng cung kính, là chim thú th́ hoảng sợ
xa bay. Do đó sự oán thù thân yêu, tốt xấu, thô tế đều do tâm năng quán
không giống nhau mà biểu hiện, cảnh vốn không có thật thể cho nên gọi là
quán không. "Thập bát không", kinh Bát Nhă chú trọng
ở tự tánh không. Tự tánh không là bản thể của tất cả pháp, đều là cái
bất khả đắc, đương thể là không. Đại Trí Độ Luận tuy đề cập 3 loại không
quán, nhưng chưa phân biệt cái triệt để và cái không triệt để của nó.
Dựa vào sự giải thích của Ngài Long Thọ, 3 loại không quán này, đều có
thể khiến người khác hiểu được ư nghĩa của chữ không, tuy chỗ hiểu cạn
sâu của mọi người không giống nhau, nhưng nó không làm mất đi tính chất
phương tiện, làm rơ nghĩa chữ không, do đó Luận Trí Độ đề cập đến tam
không. Nếu nghiên cứu một cách nghiêm túc về
quan điểm Đại Tiểu thừa các bộ phái, Phân phá không là phương pháp
thường được các nhà luận sư A Tỳ Đạt Ma sử dụng. Như Hữu bộ dùng quán
tuệ, phân tích các sắc thành lâng hư, vượt qua cái lâng hư này là không.
Nhưng Hữu Bộ không thừa nhận tất cả pháp là không, ngược lại cho các
pháp có tự tánh. Bởi v́, căn cứ trên sự phân tích mà biết được các pháp,
do giả hợp mà có, những cái giả có này, lấy nguyên tố làm chỗ sở y, cực
vi là đơn vị nhỏ nhất. Đối với tâm pháp cũng dùng phương pháp này, phân
tích cho đến trong một niệm sát na là thời gian ngắn nhất. Phương pháp
phân tích này, không thể dẫn đến kết luận, tất cả pháp là không, ngược
lại dẫn đến kết luận tất cả pháp là thật có tự tánh. Như đem cực vi phân
chiết cho đến tận cùng, có thuyết cho rằng có h́nh tướng là có thể phân
chiết, có thuyết cho rằng, có h́nh tướng nhưng không thể phân chiết,
nhưng bất luận như thế nào, các thuyết đều chứa nhận các pháp thật có tự
tánh là cực vi. Như cổ nhân nói rằng, nhứt xích chi mộc, nhựt thủ kỳ
bán, chung cổ bất tận. Loại phân tích pháp không này vốn được Kinh A Hàm
đề cập "Tán không"; tuy ư nghĩa không triệt để, nhưng có thể lấy đó làm
điểm căn cứ, do đó Ngài Long Thọ đă vận dụng nó. Không quán, là Duy Thức tông v.v...sử
dụng. Phương pháp này càng được các nhà Kinh Bộ sử dụng một cách triệt
để. Các nhà Kinh Bộ cho rằng, 12 xứ là căn và cảnh chẳng thật có, do đó
thành lập cảnh sở quán không thật có. Về sau các nhà Đại Thừa Duy Thức
Học sử dụng phương pháp quán không này một cách cực đoan, như cho rằng:
"Quỷ, bàng sanh, nhơn, thiên, mỗi loại tùy theo nghiệp duyên của mỗi
loài mà ứng hiện có sai khác, những sai khác này do sự dị biệt của tâm,
nhưng khong có nghĩa chân thật". Như cá cho nước là nhà, Trời cho là lưu
ly, quỷ cho là máu huyết, người cho là nước, từ ví dụ này cho ta thấy
rằng nhà, thủy tinh lưu ly v.v... đều không thật có, tất cả đều do
nghiệp báo không đồng của mỗi người mà hiện thành. A Tỳ Đạt Ma Đại Thừ a
Kinh, các nhà Du già đều y nơi pháp này mà minh chứng ngoại cảnh là
không thật có, thành lập trí vô phân biệt, ly ngôn thể chứng tự tánh. Để
rơ ràng hơn về phương pháp này xin tham khảo Nhiếp Đại Thừa Luận v.v...
Sự không giống nhau phương pháp Không
quán và Phân phá không là: Phân phá không, nhơn phân chiết sự giả thật
mà thành lập cái giả danh là không; Quán không, là đứng trên quan điểm
nhận thức luận, để thấy rơ cảnh sở quán là không thật có. Cũng giống như
thế, quán không không thể đạt đến tất cả pháp rốt ráo là không, bởi v́,
quán không hạn chế ở chỗ là dùng tâm năng quán, để quán sát ngoại cảnh
là bất khả đắc, bản thân của tâm năng quán, không thể dùng phương pháp
quán không này, để quán sát tâm năng quán cũng là không, do đó sử dụng
kết quả của quán không một cách tất nhiên, muốn đạt đến tư tưởng "Hữu
tâm vô tướng". Cảnh không tâm có, cô nhiên cũng có thể cho là v́ muốn
thấu rơ Không nghĩa. Như trên đă tường thuật, mỗi loại ư
nghĩa của chữ không, không những cái gọi là Không không triệt để, mà c̣n
đem khái niệm Không biến thành rỗng không. Như các học giả Phân phá
không thừa nhận cực vi, tâm và tâm sở thật có tự tánh, là những hiện
tượng do cực vi h́nh thành, hay là do năm uẩn tạo thành cái gọi là Ngă,
do vậy, cho là tất cả đều là pháp không thật có. Các học giả này không
chú ư tính duyên khởi của các pháp là giả có, ư cho rằng họ không thừa
nhận các pháp là duyên khởi. Do vậy, một mặt họ không thể thấu triệt chữ
không, càng thêm chấp trước; mặt khác, pháp duyên khởi mà không nên phá
hoại cũng là không, thành ra chấp tổn giảm. Các nhà Duy thức học, đem
pháp duyên khởi đặt vào tâm và tâm sở pháp - là y tha khởi tánh, không
thể thấu rơ tâm vô tự tánh; đối với sáu trần - tánh duyên khởi của cảnh
không có chú ư của tâm, do vậy không thể phù hợp với nghĩa trung đạo.
Nghĩa của chữ không mà Bồ Tát Long Thọ phát huy là tự tánh không, không
phải chỉ mỗi một bộ phận nào đó là không, cũng không phải là bất không,
lại càng không thể cảnh không mà tâm có. Đại Trí Độ Luận (quyển 74) đề cập đến 3
loại không: 1. Tam muội (tâm) không, 2. Sở duyên
(cảnh) không, 3. Tự tánh không. "Tam muội không" cùng với Quán không
trong tam không vừa tŕnh bày ở trên không giống nhau. Đây là quán không
lúc tu tam muội, tâm năng quán hiện ra không tướng. Như Thập biến xứ
quán, lúc quán màu xanh tất cả pháp đều xanh, quán màu vàng th́ tất cả
pháp đều biến thành màu vàng, xanh và vàng là cảnh quán của tâm quán.
Thế th́, không là v́ quán tưởng không quán mà thành không. Trong kinh
nói, tất cả pháp là không, nhưng dựa vào quán tuệ của tâm năng quán mà
quán là không, đối với ngoại cảnh không khởi chấp trước, ĺa hư luận, do
đó gọi là không, nhưng thật ra những pháp nầy không phải là không. Điều
này giống như nói: Không là do tâm tưởng tượng mà thành, không phải thật
tướng của các pháp là không. Thế th́ rơi vào chấp "bất không", cũng
không thừa nhận học thuyết các pháp là không. "Sở duyên không" là tương phản với học
thuyết vừa nêu trên, cảnh giới sở duyên vốn là không, tâm năng quán y cứ
cảnh sở duyên này mà quán là không. Cái sở duyên là không, th́ tất nhiên
tâm năng quán là bất không, quan điểm này giống với quán không trong tam
không vừa nêu. Chẳng qua, quán không là cảnh tùy theo tâm quán mà dời
đổi, c̣n sở duyên không là cảnh sở duyên vốn không thật. Ngài Long Thọ
b́nh luận: "có người nói, Tam tam muội vô tướng vô tác tâm số pháp gọi
là không, không cho nên có thể quán các pháp là không. Có ngươi nói
rằng: Cảnh sở duyên bên ngoài là sắc ... tất cả các pháp này là không,
do ngoại cảnh là không, cho nên gọi là không tam muội. Phật nói: không
lấy cái không tam muội cho là không , cũng không lấy cảnh sở duyên cho
là không. Rời xa hai kiến chấp này gọi là Trung đạo, do đó gọi các pháp
do nhân duyên ḥa hợp mà sanh. là pháp ḥa hợp, không có pháp nhất định,
cho nên gọi là không". Long Thọ minh chứng điểm này, là căn cứ
kinh Bát Nhă nói: không có pháp nhất định cho nên gọi là không, có nghĩa
là tất cả pháp do duyên ḥa hợp mà thành, do duyên ḥa hợp, tức là không
có tánh nhất định, không có tánh nhất định đồng nghĩa không, chữ không
này, chỉ cho không có tự tánh, tức không thuyết. Do đó rơ biết, chữ
không của Trung quán là thuyết nhân qủa của pháp duyên khởi, từ duyên
khởi mà biết được các pháp không có tự tán, do không có tự tánh mà biết
được các pháp vốn không. Nếu thiên về Tam muội không hoặc sở duyên
không, là pháp chuyên y vào nhận thức luận, không thể rời duyên khởi mà
biết không, cũng không thể đạt đến kết luận tất cả pháp là không. Tự không và tha không, là hai loại không
quán không giống nhau. Thí như quán đóa hoa là không, đối với tự không
mà nói, đương thể của hoa là không. Đối tha không, trong hoa không có
những yếu tố này, do đó nói là không, nhưng không có nghĩa là bản thân
của hoa là không. Như trong Luận Du Già phẩm chơn thật nghĩa nói rằng:
"Do bỉ cố không, bỉ thật thị vô; ư thử nhi không, thỉ thật thị hữu, do
thử đạo lư, khả thuyết vi không". Có nghĩa là, pháp này do v́ hủy diệt
pháp kia, v́ không có pháp kia, cho nên gọi là không, nhưng đôi pháp này
là có. Các nhà học giả Duy thức cho là không, cho dù sự lư giải xảo diệu
như thế nào cũng không tránh khỏi phạm vi tha không. Tha không luận này,
cũng không phải là cái độc đặc sáng tạo của các nhà Duy thức, nguồn gốc
sáng tạo của nó là phát xuất từ bộ phái Tát Bà Đa. Vị luận sư nổi tiếng
Thế Hữu cho rằng: Không và vô ngă không giống nhau, vô ngă là cứu cánh
liễu nghĩa, không, không phải là cứu cánh liễu nghĩa. Như nói ngũ uẩn là
vô ngă, là triệt để, chính là vô ngă; nếu nói ngũ uẩn là không, th́
không triệt để. Do v́ ngũ uẩn là vô ngă, cho nên Phật nói không nhưng
đối với sắc, thọ v.v... không phải là không. Như giải kinh nói: Chư hành
không, cũng nói trong các hành không có ngă và ngă sở, do đó gọi là
không, không phải là không hành của các hành. Các nhà học giả Duy thức
kế thừa tư tưởng này, do đó cho rằng: Do y tha khởi mà xa ĺa tướng biến
kế sở chấp, cho nên gọi là không; nhưng tự tướng của y tha khởi là có,
không thể nói là không. Nói xa một tí, tư tưởng tha không sớm đă
xuất hiện trong Trung A Hàm kinh, như Kinh Tiểu Không trong Trung A Hàm,
chuyên thảo luân về tha không. Tư tưởng này cùng với Phật Giáo tây Bắc
Ấn Độ có sự quan hệ mật thiết. Tha không trong Tiểu Không Kinh tức là bỏ
những pháp nào, bảo tồn những pháp nào, vốn là pháp thứ đệ của thiền
định, gọi cái này là không nhưng không thể gọi tất cả pháp không. Bài
kinh này lấy Lộc tử mẫu giảng đường làm ví dụ, như nói Lộc tử mẫu giảng
đường là không, ư nói trong giảng đường này không có trâu, dê v.v... cho
nên nói là không, chẳng phải giảng đường là không, cũng chẳng phải trong
giảng đường không có các vị Tỳ kheo, lại không phải là nơi khác không có
trâu dê, cho nên gọi là không. Đây là không quán c̣n nông cạn, kinh Lăng
Già gọi đó là bỉ bỉ không. Loại không quán này (Do bỉ cố không, bỉ thật
thị vô; ư thử nhi không, thử thật thị hữu), có rất nhiều loại, nhưng
puhơng pháp cơ bản vẫn không thay đổi. Do đó, nghĩa của chữ không theo
các nhà Duy thức học, lấy tha không luận của vùng Tây Bắc Ấn làm căn
bản, tuy có ảnh hưởng thuyết "nhứt thiết pháp giai không" của đại thừa,
nhưng vẫn không đồng nhất. Tư tưởng "Tự không", nguồn gốc của tư
tưởng này cũng phát xuất từ A Hàm. Như Tạp A Hàm Kinh nói: thường
không... ngă ngă sở không, tánh tự nhĩ cố. Đây có nghĩa là: Đương thể
của thường, ngă, ngă sở là không; không phải là ngoài không riêng có cái
gọi là thường, ngă, ngă sở là bất không. Thường, ngă, ngă sở v.v... là
không, bởi v́ thường, ngă, ngă sở là như vậy. Lại như Thắng Nghĩa Kinh
trong Tạp A Hàm nói rằng: không có ngă và ngă sở, chỉ có sự lưu chuyển
của nhơn quả nghiệp báo, nhưng không phải là trong thắng nghĩa đế có sự
lưu chuyển nhơn quả nghiệp báo này, do đó nói rằng: Thế tục cho rằng, do
đây có cho nên kia có, do đây sanh cho nên kia sanh, nghĩa là vô minh
duyên hành... Sự tương tục của nhơn quả duyên khởi là thế tục, trong
thắng nghĩa đế là vô ngă, ngă sở tức không. Cái có của thế tục, cùng cái
không của thắng nghĩa là xuất hiện từ kinh này. Tóm lại tự không là dựa vào đương thể
của pháp mà hiểu rơ không, tha không là trong pháp này hủy bỏ pháp kia
nhờ vậy mà rơ được không. Do đó, Trung quán cho là thế tục do giả danh
mà có, thắng nghĩa rốt ráo không, các nhà tha không luận th́ không chấp
nhận quan điểm này. Họ căn cứ ư kiến của ḿnh mà sửa đổi là: Tất cả pháp
giai không là pháp không liễu nghĩa, quan điểm này cùng với các nhà có
lập trường, tự tánh không th́ không đồng nhất. Về sau các học giả không
luận duy thức, bèn bỏ đi thuyết biến kế sở chấp; không nhưng không thể
nói duyên khởi là do không biểu hiện, cũng không thể xác nhận các pháp
là không, do đó tự không và tha không căn bản không giống nhau. Thành
Duy thức luận cho là nếu chấp duy thức là thật có, đây cũng là pháp
chấp, cho là duy thức cũng đề cập duyên khởi tâm tâm sở pháp đều không,
ắt hẳn điều này không sao tránh khỏi sự thêm thắt. Tôi cho rằng tất cả pháp giai không của
Trung quán, chủ yếu tư tưởng này xuất phát từ nhơn quả duyên khởi, nhưng
Duy thức tông th́ xuất phát từ nhận thức. Những nhà Duy thức học cho
rằng, dựa trên nhơn quả duyên khởi mà rơ không, tư tưởng nầy cùng với
tiểu thừa đều không triệt để, đại thừa từ nhận thức mà nói như Nhiếp Đại
thừa luận: "Tự nhiên tự thể vô, tự tánh bất kiên trụ, như chấp thủ bất
hữu, cố hứa vô tự tánh" Vô tự tánh không có nghĩa là tự tánh hoàn toàn
không có. Như pháp vị lai, sanh ở vị lai, chắc chắn phải có nhơn duyên
không thể tự nhiên mà sanh, do vậy gọi đó là vô tự nhiên tánh. Quá khứ
đă diệt không thật thể đồng nghĩa trong bài tụng gọi là tự nhiên vô.
Hiện tại sanh diệt không ngừng, đồng trong tụng gọi là tự tánh bất kiên
trụ. Đây đại khái là sự lưu động của tam thế nhơn quả, là thuyết vô tự
tánh. Trong A Hàm kinh cũng có tư tưởng này, do đó nhiếp luận cho tư
tưởng này là tiểu thừa. "Như chấp thủ bất hữu cố hứa vô tự tánh". Đây là
đại khái đối với biến kế vô tự tánh mà nói, đối với tất cả pháp chấp là
tự tướng, công tướng, pháp tướng, ngă tướng v.v... đều dựa vào danh mà
sanh nghĩa, y vào nghĩa mà sanh danh, hiển lộ giả danh Không phải là có từ tự tánh, rời khỏi
biến kế này không có tự tướng, là thuyết không có tự tánh của Đại thừa,
đây là điểm các nhà học giả Duy thức không đồng quan điểm với Tiểu thừa.
Nhưng nghiên cứu một cách nghiêm túc, cái gọi là "chấp thủ tướng bất
hữu" này, trong Kinh A Hàm cũng đă có nihều nơi đề cập "Bất khả thủ bất
khả đắc". "Như chấp thủ bất hữu", các bậc Thinh văn cũng không đạt đến,
Tạp A Hàm nói: Ngài Ca Chiên Diên khi vào chơn thật thiền định thắng
nghĩa, đây có nghĩa là không lấy nhứt thiết tướng mà nhập thiền định.
Một bản dịch khác nói rằng: "Chỉ là giả nhơn duyên ḥa hợp ma có tất cả
mọi thứ danh tướng, quán tất cả tướng này là không tịch, không c̣n thấy
hữu pháp và phi pháp". Phẩm Chơn thật nghĩa đă trích dẫn ở đây mà cho là
giáo chứng của ly ngôn pháp tánh, thế th́ có thể nói Thinh Văn không có
pháp này sao? Do đây mà biết, trên nhận thức không chấp lấy không của
các tướng cũng là Tiểu thừa. Dựa vào pháp nhơn quả duyên khởi mà rơ được
vô tự tánh không, cùng với tam thuyết của Nhiếp luận không giống nhau.
Duyên sanh là không tự tánh, tự tánh mà bất khả đắc tức là không; bởi v́
vô tự tánh không, do đó chấp có tự tánh là điên đảo hư luận, như thật
chánh quán là không chấp trước các tướng. Khi vào thắng nghĩa thiền
định, không chấp tất cả tướng, đương nhiên đây không phải tách rời nhân
quả duyên khởi mà thành lập. Kinh Bát Nhă nói: Nếu có một pháp nào
khả đắc, chư Phật Bồ Tát có lỗi lầm, nghĩa là tạp nhiễm không phải là
pháp thanh tịnh, đây là điểm mà kinh A Hàm đă đề cập đến. Dựa vào pháp
duyên khởi nhân quả mà hiểu rơ tất cả pháp đều không, là vô không môn;
không chấp lấy tất cả tướng, là vô tướng môn. Không môn, vô tướng môn,
vô tác môn, là phương tiện không tổn hại không giống nhau, chính là nhứt
ngộ, nhứt thiết ngộ, tam giải thoát môn đồng duyên một thật tướng. Trung
quán lấy không môn vô khởi duyên tánh làm nền tảng, chưa từng đề cập vô
tướng môn. Nhưng Duy thức lại từ quán không để rơ "Bất như sở hữu thủ",
không thể từ nhơn quả mà rơ không, đây là sự bất đồng quan điểm giữa hai
Tông. Vừa tŕnh bày trên là minh chứng duyên khởi vô tự tánh, mục đích
làm rơ nghĩa chữ không. Long Thọ đề cập đến điểm này rất nhiều, nhưng
trên căn bản không đồng quan điểm với các học phái khác. Do đó, không
nên có thái độ vọng văn sanh nghĩa, thấy từ duyên khởi, tự tánh, không
bèn vội vàng cho là giống nhau.
2. Duyên khởi,
tự tánh, không Bây giờ đem thuyết duyên khởi, tự tánh,
không vừa thảo luận trên, tiếp tục tổng hợp thảo luận: Duyên khởi và tự
tánh là tuyệt đối tương phản, duyên khởi là vô tự tánh, tự tánh là phi
duyên khởi. Chúng sanh, ngoại đạo thậm chí cho đến một số học phái khác
đều cho tự tánh là căn nguyên, là khởi điểm. Đối với điểm này Phật Đà
cùng ngoại đạo không giống nhau, Phật cho là duyên khởi, luận nhơn nói
nhơn. Do đó dựa vào học thuyết của Trung quán có thể gọi trung quán là
Duyên khởi tông, các học phái khác có thể gọi là Tự tánh không, cũng có
nghĩa là không có sự phân biệt giữa hai tông. Nếu lấy duyên khởi cùng không hợp lại mà
nói, duyên khởi tức là không, không cũng tức là duyên khởi, hai khái
niệm này, chẳng qua là hai quan điểm khác nhau của cùng một nội dung,
trong kinh gọi là "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Duyên khởi và
không là đồng nhất, v́ duyên khởi là duyên khởi của vô tự tánh, duyên
khởi là cái để đạt đến rốt ráo không; nếu có tự tánh, th́ không những là
bất không, cũng không thành duyên khởi. Ngoại đạo cho rằng, không là
không có, là không trơn, nay luận duyên khởi là không, lầm tưởng cái ǵ
cũng không có. Bởi v́ họ cho rằng, duyên khởi có thể có tự tánh, duyên
khởi cùng không không tương thuận. Nhưng các nhà Trung quán cho rằng, v́
tất cả pháp rốt ráo không, do đó có pháp duyên khởi, không chướng ngại
sanh tử lưu chuyển. Trung quán nói không, không phải là không có, chỉ là
vô tự tánh mà thôi. Như ánh trăng trong ḷng nước, tuy tánh của trăng
vốn không, nhưng ánh trăng chúng ta có thể trông thấy. Do vậy không và
duyên khởi tương thuận, nếu như rời duyên khởi mà nói không, nói duyên
khởi là bất không, đây gọ là ác không. Nói đến không và tự tánh, một mặt
tự tánh vốn là không. Nhưng không thể gọi không là tự tánh, không là bản
tánh của tất cả pháp, là chân tướng rốt ráo của tất cả pháp, nhưng chẳng
qua tự tánh bị điên đảo vọng chấp. Nhưng điểm rốt ráo của thuyết tự
tánh, không là chân thật, là cứu cánh, cũng có thể gọi không là tự tánh.
Như kinh Bát Nhă nói: "Tự tánh của tất cả pháp đều không thể được, tự
tánh không thể được tức là tự tánh của tất cả pháp". Đại khái thuyết cứu
cánh không cũng có thể gọi là thật tướng, thật tánh, chân thật. V́ tánh
của chư pháp là cứu cánh không, bây giờ trả về bản lai của nó là không,
không tăng, không giảm, nhưng không phải là hư ngụy điên đảo, cho nên có
thể gọi nó là chơn là thật. Tổng kết như bản đồ dưới đây: * Tự tánh và duyên khởi * Duyên khởi và không tịch * Không tịch và không tánh * Tương phản tương thành
Trích dịch từ Trung Quán Kim Luận của Pháp sư Ấn
Thuận.
|
| HOME | GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT | HỌC TR̀NH | HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN | THƯ VIỆN | SINH VIÊN VỤ | BẢN TIN PHV |