|
Những Dấu Chỉ của Thi Ca
Triết Việt
Đông
Lan
*Quan
Thư và Hán Quảng ( Kinh Thi)
*Thằng Bờm Có Cái Quạt Mo.
*Con Mèo Mà Trèo Cây Cau.
*Tâm Đạo trong Truyện Kiều.
*Thiếu Phụ Nam Xương.
*Con C̣ và Nguyên Lư Mẹ.
Theo tinh thần Tây Phương, tùy theo từng thời kỳ, có những
kỳ gian Thi Ca bị lọai bỏ ra khỏi Triết học, đến nỗi Platon,
học tṛ của Socrate (một triết gia Hy Lạp, giữa thế kỷ thứ V
và IV trước Tây Lịch), phải đem đốt đi những tập thơ của
ḿnh trước kia để theo chân thầy học Triết. Nhưng với trào
lưu mới hiện nay, như Nietzsche, Holderlin, và với triết gia
hàng đầu Heidegger của Tây Phương, th́ “ Chỉ duy nhất có Thi
Ca mới đứng trên cùng b́nh diện với Triết Lư và Suy Tư Triết
Lư”.( Seule la poésie est du même ordre que la philosophie
et le penser philosophique, Introduction à la métaphysique,
trang 34)
Nhưng c̣n với Đông Phương, th́ sự tương quan kết hợp giữa
Triết Lư và Thi Ca đă có truyền thống trong ḍng văn hóa
lâu đời của chúng ta.
Khổng tử khi san định Kinh Thi, đă thâu nhận các bài thi ca
nơi thôn dă trong dân gian các nước nơi miền đất phương Nam
của Bách Việt vào làm những bài thơ trong phần mở đầu, gọi
là phần “Quốc Phong” của Kinh Thi.Tất cả Kinh Thi có khoảng
300 bài, th́ phần thơ trong Quốc Phong đă tới 160 bài. Ngay
bài mở đầu Quốc Phong :
Quan quan cái con Thư Cưu,
Chim trống chim mái cùng nhau băi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
( Quan quan thư cưu
Tại Hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu)
Hà ở đây không phải là con sông, mà là cái g̣ ở giữa sông.
Cưu là một giống chim nước hay sống ở miền Dương tử giang và
Hoài giang gồm nhiều loại như Cốt cưu, Quưnh cưu, Thư cưu,
Cung cưu, Cưu cư…Ta nhận ra ngay h́nh ảnh loài chim nước của
đất nước Việt xuất hiện với thi ca t́nh tứ qua cặp chim Thư
Cưu thường quấn quưt không rời nhau nhưng không có vẻ lả
lơi.
Điều này c̣n được kiện chứng hơn nữa khi tới bài “ Hán
Quảng”:
Bên bờ sông Hán sông Giang,
Có cô con gái khó ai mơ màng.
Mênh mông sông Hán sông Giang,
Muốn sang chẳng được bè sang khó ḷng.
( Hán chi quảng hĩ
Bất khả vịnh ti
Giang chi vĩnh hĩ
Bất khả phương ti( tư).
Sông Hán là chi nhánh của sông Dương Tử. Như vậy rơ ràng địa
bàn thơ Châu Nam là miền Dương Tử giang, tức những miền của
Châu Kinh, Châu Dương, Châu Hoài của đất Việt xưa.
Ngoài ra Khổng Tử ca tụng cho rằng Kinh Thi làm ḷng người
hưng khởi.( Hưng ư Thi), cũng như thường nhắc con là Bá Ngư
phải học Kinh Thi, nếu không học Thi th́ cũng ví như quay
mặt vào vách.( Tử vị Bá Ngư viết:” Nhữ vi Châu Nam, Thiệu
Nam hỹ hồ? Nhân nhi bất vi Châu Nam, Thiệu Nam, kỳ do chính
tường diện nhi lập dă dư?”Luận Ngữ , XVII.10)- Châu Nam và
Thiệu Nam là hai thiên đầu trong Kinh Thi - Khổng Tử là một
nhà tâm lư sâu sắc. V́ để giáo dục con người về đức NHÂN,
không ǵ hơn cho bắt đầu sự học với những bài thơ để nuôi
dưỡng t́nh tự con người. Mà không ǵ nồng nàn đậm t́nh bằng
T́nh của Nam Nữ. Đó là lư do THI CA được nâng lên làm KINH
THI và c̣n mở đầu Kinh Thi với những ḍng ca dao chan chứa
HOA T̀NH YÊU của gái trai đất Việt.
Sau này người ta hay có câu” Nam nữ thụ thụ bất thân” hay
khinh rẻ t́nh trai gái, đề cao lư trí h́nh pháp, đó là một
sa đoạ, làm mai một ḍng văn hoá TRỌNG T̀NH của Thi Ca
Việt. Triết Gia Kim Định đă phân biệt rất rơ rệt sự sa đoạ
ấy và gọi là Hán Nho. C̣n Nho Giáo Nguyên Thuỷ là Nho của
Việt, là Việt Nho. Khổng Tử đă san định Việt Nho và sau này
Hán Vũ Đế sử dụng Nho Giáo vào chính trị phong kiến để cai
trị, nên xa dần yếu tính Nhân Bản của Nho chân thực.(Xem Cơ
Cấu Việt Nho)
Như thế, Việt tộc chúng ta từ bao ngàn năm xa xưa, trong
nếp sống nông nghiệp ổn định, đă có một ḍng thi ca cổ giá
trị với nền văn hoá của nhân dân, đến nỗi vương triều phương
Bắc phải lập ra chức quan Thái Thi và bộ Nạp Ngôn để thu
nhận các bài ca dao, cũng như Khổng Tử phải đưa vào phần mở
đầu Kinh Thi để làm phương tiện giáo dục ḷng người.
Nền thi ca cổ đó v́ xuất phát từ trong ḷng nhân dân, từ
trong đáy tầng của sức sống, sắc sâu cảm nghiệm của tâm linh
Việt tộc nên dù không c̣n chữ viết, dù bị chiếm đoạt tư
tưởng, nó vẫn c̣n tồn tại măi măi suốt bao ngàn năm lưu lạc,
qua bao tai biến thăng trầm của lịch sử. Ta hăy nghe hai câu
thơ:
Trăm năm bia đá th́ ṃn,
Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ.
Vâng, nền văn học TRUYỀN KHẨU của Việt Tộc chúng ta, vượt
qua mọi h́nh thức truyền đạt, đă mang dấu ấn bất diệt với
kho tàng Ca Dao, Tục Ngữ, truyện tích cổ xưa, cũng như các
truyện Huyền Sử của Non Nước Quê Nhà.
Trong giới hạn truy tầm dấu chỉ Triết Việt qua Thi Ca,
chúng ta thử t́m hiểu một vài bài tiêu biểu sau đây như bài
đồng dao “ THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO” và “ CON MÈO MÀ TRÈO
CÂY CAU”, là những bài ca dao của tuổi bé thơ mà chắc hẳn
chúng ta vẫn c̣n nhớ :
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba ḅ chín trâu
.Bờm rằng; Bờm chẳng lấy trâu.
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè.
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim.
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi.
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm Cười!
Thằng Bờm ở đây, là h́nh ảnh của một đứa bé, là bé trai ở
thôn quê, có lẽ cỡ trên dưới mười tuổi. V́ ở tuổi này nó có
thể biết chế biến cái mo cau trong vườn mà làm thành một
dụng cụ như cái quạt để có thể phe phẩy làm gió mát giữa
trưa hè oi bức. Mo cau là cái bẹ (gốc) lá cau, bao bọc lấy
hoa cau, khi hoa cau nở th́ lá cau rụng xuống. Muốn làm quạt
th́ người ta cắt bẹ lá cau, đem phơi khô cho cứng, ép lại
cho thẳng, rồi đem cắt thành h́nh cái quạt. Nước ta có tục
ăn trầu tương truyền từ thời vua Hùng thứ ba, tuy gọi gọn là
ăn trầu, nhưng đúng ra là một món ăn Ḥa ba chất
Trầu-Cau-Vôi. Cho nên cây cau là cây thông dụng ở làng quê
cho món trầu Ḥa T́nh ta với người của phong tục Việt
Gặp nhau ăn một miếng trầu ,
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào.
Trở lại với câu chuyện cái quạt mo của thằng Bờm. Có lẽ vào
tuổi khỏang lên mười này, Bờm đang sống trong một tâm thức
rất hồn nhiên, ngây thơ, lại thêm cái mộc mạc của thôn dă,
nên thằng Bờm đă được chọn để Hiền Nhân Tiên Tổ trao gửi cái
bài học thâm trầm, đơn sơ, sâu sắc cuả Việt Tộc.
Phú ông trong bài đồng dao này thật là một h́nh ảnh đặc sắc
khác. Từ địa vị là một người có tài sản thuộc lọai giầu có
trong thôn làng, th́ cái Quat Mo của thằng Bờm nào có quan
trọng, quư hóa ǵ. Phú ông có thể trả công cho một người nào
làm cho một cái quạt mo tương tự, không khó, không tốn kém
bao nhiêu. Thế nhưng Phú ông lại cứ muốn có được cái qụat mo
của thằng Bờm.
V́ vậy cuộc thương lượng bắt đầu.
Phú ông xin đổi bao thứ vật chất : Nào là 3 con ḅ, và 9 con
trâu. Đây là cả một tài sản lớn cho nhà nông, có trâu cầy
ruộng, có ḅ gánh vác, mà lại là 3 ḅ, 9 trâu chứ không
phải ít ǵ. Vậy mà thằng Bờm không cần 3 ḅ 9 trâu của Phú
ông. Rồi Phú ông lại phải mang thứ quư giá khác như ao cá mè
để đổi lấy cái quạt mo. Ao cá mè là cả một nguồn cung cấp
thực phẩm ngon miệng ở nhà quê. Người dân quê có được một ao
thả cá, cá cứ thế mà sinh sản quanh năm, cuộc sống sung
túc, không những đủ thực phẩm, mà c̣n có thể dư để đem bán
hay đổi chác nữa. Vậy mà thằng Bờm đâu có màng tới cái của
cải là cả một ao cá, mà lại là cá mè sang trọng, ngon ngọt
.
Phú ông càng thua, càng t́m cách đưa ra các thứ vật chất
giá trị khác. Một bè gỗ lim là một tài sản lớn. Gỗ lim là
lọai gỗ quư, rất chắc và bền, các nhà khá giả lắm mới dùng
gỗ lim làm cột nhà hay các đồ đạc trong nhà. Thay v́ nhà
tranh vách đất, kèo cột gỗ thường, th́ có một bè gỗ lim dựng
nhà là mơ uớc của bao người ở nông thôn. Vậy mà h́nh như cả
một bè gỗ lim không quư bằng cái quạt mo, nên Bờm vẫn trả
lời một chữ không.
Sau khi mang đủ vật chất “ quyến rũ” thằng Bờm¸ nhưng v́ nó
ngây thơ, hồn nhiên với tuổi nhỏ nên nào có chú tâm. Phú ông
chợt khám phá ra một điều: À! Th́ ra chỉ có thế giới người
lớn mới ham thích các thứ lợi lộc vật chất như trâu, ḅ, nhà
cửa, ao cá…nhưng đây là một đứa bé, tâm thức c̣n sáng trong
nên có lẽ nó thích những thứ khác, như đồ chơi, con thú
nhỏ…Phú ông bèn xoay nhanh đề tài, đưa ra một con chim đồi
mồi. Chim làm bằng đồi mồi là một sản phẩm bằng tay làm từ
cái mai của con rùa, là thứ đồ trưng bày mỹ nghệ sang trọng
của nhà giầu. Nhưng ngờ đâu ngay cả món đồ chơi quư này mà
Thằng Bờm cũng vẫn từ chối, quyết giữ một cái quạt mo tầm
thường, giản dị. Vậy là đâu phải cứ trẻ con là thích đồ chơi
sang, đẹp. Phú ông cũng hết đường trao đổi, dù trong sự
thiệt tḥi vô lư nhất.
Trong sự thả bỏ mọi các hiểu biết, tính tóan bằng lư trí
thông thường, Phú ông với tấm ḷng thông cảm hơn, chợt nghĩ
hay là nó đói? Có lẽ thằng Bờm ngồi quạt phe phẩy ở gốc đa
chờ Mẹ đi chợ đă quá trưa rồi, Bờm đói bụng. Th́ có lẽ là
nắm xôi nếp, món quà ngon miệng ở nhà quê, là thứ Thằng Bờm
đang thích, đang chờ.
Không ngờ, Phú ông trong phút tương quan gần gũi với cái tâm
trạng của đứa bé có cái quạt mo, đă đạt được ư muốn. “ Phú
ông xin đổi nắm xôi: Bờm Cười!”. Cái cười của Thằng Bờm cũng
là cái thở phào nhẹ nhơm của Phú ông sau những thử thách t́m
hiểu cho được giá trị của Cái Quạt Mo trên tay thằng Bờm.
Và cũng là nụ cười nhẹ nhàng của mỗi chúng ta. Ba nụ cười
thanh nhẹ, đưa tâm hồn chúng ta vào cơi an nhiên, tịnh lạc.
Ta có thể gọi là NỤ CƯỜI HẠNH PHÚC AN VI cũng cùng ư nghĩa
của phút giây nghe chuyện thằng Bờm có cái quạt mo này.
Thử phân tích thái độ của Phú ông và thằng Bờm : tại sao họ
có cách hành xử vô lư như vậy?
Phú ông là người giầu tiền của, tức là có uy quyền để có thể
ép buộc đứa trẻ nghèo phải đưa cho ḿnh cái quạt mo, không
khó. Hoặc chỉ cần cho Bờm một ít thứ ǵ nhỏ bé đổi chác
cũng xong. Nhưng Phú ông không làm như thế. Chính v́ qua bài
đồng dao dễ thương này Tổ Tiên muốn dạy chúng ta bài học:
Không ép buộc người, lại càng không lấn lướt, cưỡng bách
người nghèo khó, trẻ con, tức là những người yếu kém hơn .
Về phíaThằng Bờm, là đứa bé nghèo, chỉ có cái quạt mo làm sở
hữu, đáng lẽ nó phải ham thích những của cải giầu sang mà
nó không có, ngờ đâu Thằng Bờm cũng không ham lợi, chỉ chấp
nhận một nắm xôi là vui rồi, v́ đó là sự cân bằng trong sự
đổi chác cái quạt mo của nó.
Như thế, ta thấy xă hội xưa tuy cũng có người giầu kẻ nghèo,
nhưng không có sự bất b́nh đẳng, không có sự phân chia giai
cấp một cách thù nghịch. Con người biết vượt qua những giá
trị, lợi nhuận kinh tế, để sống theo đạo lư, tạo cảnh an
b́nh hoà lạc bên nhau, trong luỹ tre làng..
Như Phú ông không làm ǵ bắt buộc đứa bé, tức là KHÔNG
CƯỠNG HÀNH, mà Thằng Bờm cũng không vụ lợi, là KHÔNG LỢI
HÀNH. Hai nhân vật điển h́nh này chính là đă có hành động
rất AN VI trong bài đồng dao kể trên.
V́, AN VI là không Cưỡng Hành, không Lợi Hành, mà là An
Hành .
Thêm nữa, đặc biệt vai tṛ thằng Bờm ở đây, c̣n nhấn mạnh
thêm khả năng tiếp cận Chân Lư An Vi trong tâm thức hồn
nhiên của tuổi thơ. Ta có thể tự hỏi tại sao Bờm không cho
không phú ông cái quạt mo của nó? Dù quạt mo rất tầm
thường, không giá trị ǵ cả, nhưng cũng là vật dụng riêng
của thằng Bờm. Nếu Bờm khi thấy phú ông thích cái quạt mo,
mà vội đưa ngay, th́ cũng hơi thiệt tḥi cho nó: Nó c̣n
nhỏ, gia tài chỉ có cái quạt đơn sơ trên tay. Thằng Bờm
không hoàn toàn v́ ư thích của Phú ông mà đưa cho không cái
quạt mo của nó, tức là không bỏ quên thực tế, tức là vô vi
duy tâm, mà cũng không hữu vi duy lợi (muốn có của cải nhiều
hơn giá trị cái quạt mo), nên thái độ của Bờm quả là thật là
An Vi của Triết Việt.
V́ An Vi là dung ḥa giữa hai cực đoan vô vi và hữu vi.
Hay có thể nói cách khác, An Vi là cư xử có t́nh có lư, có
ta có người, có nghĩa An Vi là hợp đạo Quân B́nh. Ta nhận
thấy cách xử sự quân b́nh, công chính, ḥa hợp t́nh lư một
cách tự nhiên – có khi không cần ư thức rơ rệt - từ tâm thức
đơn sơ của một đứa bé, có nhiều khi người lớn cũng c̣n chưa
bằng. V́ càng xa rời tuổi thơ, lư trí phát triển, đi vào thế
giới vật chất, con người càng vụ lợi, mất dần đạo tâm. Cho
nên các thánh nhân hiền triết xưa thường nhắc chúng ta trở
về với tâm thức hồn nhiên, sáng trong của con trẻ. Mạnh Tử
nói bậc đại nhân vẫn giữ được bản tâm hài nhi (đại nhân giả,
bất thất kỳ xích tử chi tâm giả dă ). Thánh Kinh cũng nói “
Phải trở nên như con trẻ mới đến được nước thiên đường”.Th́
ra trong đồng dao “ Thằng Bờm” của văn hóa Việt cũng đă tự
ngàn xưa gửi gấm cái ch́a khóa mở cánh cửa của Tâm Thức
Thiên Đường.
Đó là cái ư nghĩa mà trong tiềm thức sâu thẳm của Tâm Linh,
chúng ta cứ truyền miệng cho nhau và trẻ em ngày xưa hát
nghêu ngao giữa làng quê đất Việt, cũng như Nụ Cười
Hạnh Phúc An Vi luôn nở trên môi mỗi khi tâm hồn lắng
đọng nghe bài đồng dao Thằng Bờm Có Cái Quạt Mo.
Chúng ta thử đọc thêm một bài đồng dao khác:
Con mèo mà trèo cây cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đường xa,
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.
Nơi bài đồng dao này, ta thấy một h́nh ảnh rất trái ngược
nơi đây:
Con Mèo là lọai gia súc thường bắt Chuột để ăn thịt. Mèo có
dáng vẻ đi lại khoan thai, như không chú ư điều ǵ, nhưng
nếu chẳng may có con chuột nào gần đó, mèo sẽ chồm tới,
nhanh nhẹn, chính xác, thanh tóan con mồi đau khổ trong chớp
mắt. Chắc chắn mèo là mối hận truyền đời của ḍng giống
chuột.
Thành ra con mèo mà trèo cây cau không hiền lành dưới mắt
ḷai chuột bé nhỏ. Chú mèo nh́n quanh vắng bóng nạn nhân,
giả đ̣ thăm hỏi “ Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà” chỉ là
câu hỏi thăm đăi bôi, thật ra là đang ŕnh chuột. Nhà chuột
lúc nào mà không có cảnh thảm thương, tang ma v́ ḷai Mèo.
Chuột mới trả lời rằng ḿnh c̣n phải đi chợ đường xa, đề mà
làm giỗ cha của con mèo. “ Giỗ Cha” đây là lời giận dỗi để
nguyền rủa con mèo của chú chuột bé nhỏ kia. Thật ra, chuột
đi làm giỗ cho ông bà cha mẹ họ hàng ǵ đó của ḿnh, nhưng
v́ thù hận, nên nói lẫy, nói trèo “ Mua mắm mua muối giỗ cha
chú mèo”.
Qua bài đồng dao này ta thấy ngụ ư tác giả nghiêng t́nh
thương xót về phía con chuột, nên mới cho con chuột nói cái
câu nghịch lư trên, cho con chuột óan trách bằng cách nói
trèo như nó làm giỗ cho cha con mèo, như mèo giết chuột là
giết cha của mèo. Đó là lọai ngôn ngữ mà nếu chúng ta c̣n
nhớ khi đọc truyện Chí Phèo của Nam Cao, chúng ta thấy Chí
Phèo- một nhân vật rất nghèo nàn, tứ cố vô thân- cũng tự lư
luận với chính ḿnh tương tự mỗi khi bị ai chửi mắng “ Nó
chửi ḿnh là nó chửi cha nó”.
Bài đồng dao chỉ có bốn câu, giản dị, đơn sơ nhưng lại mang
một dấu chỉ quan trọng của Văn Hóa Việt, đó là dấu TẢ NHẬM.
Tả nhậm thật ra nghĩa là cài áo tay trái. Ngoài chiếc áo
kiểu tứ thân không có khuy cài, ta c̣n có chiếc áo dài năm
thân (miếng vải). Hai thân sau, gồm hai miếng vải bắng nhau
nối chung một đường ở giữa c̣n gọi là sống áo.Ba thân trước,
gồm hai miếng làm hai thân trước và miếng thứ ba lót trong
để đính khuy ( nút) áo. Hàng nút áo ở bên tay phải thân
trước. Mỗi khi cài áo ta dùng tay Trái. Kinh Thư của Tàu gọi
chúng ta là : “ Tứ Di Tả Nhậm”( Tứ Di là tên cũ của Bách
Việt, mà Việt Nam ta là một chi nhánh chính - Lạc Việt).
Ng̣ai ra, trọng phía trái là trọng phía yếu đuối, phía của
t́nh thương. Ngôn ngữ Việt hay nói vợ chồng, gia đ́nh, làng
nước, nhân dân… Vợ trước chồng, làng trước nước, nhân trước
dân, nghĩa là đặt trọng những ǵ nhỏ bé, yếu đuối trước.
Xin nhắc thêm Tàu cài áo bằng tay phải, hàng nút áo của Tàu
bên trái.Dấu chỉ Việt tộc là Tả Nhậm th́ Tàu là Hữu Nhậm.
Dấu Tả Nhậm là một nét quan trọng lâu đời của Việt Tộc. Cho
nên, bài đồng dao Con Mèo Mà Trèo Cây Cau được lưu truyền
khắp nơi v́ là một dấu chỉ TẢ NHẬM của tiềm thức văn hoá dân
tộc. Mèo và chuột là tiêu biểu cho hai thế lực ngược nhau
như giầu với nghèo, cai trị và bị trị… So sánh hai h́nh ảnh
Mèo và Chuột ở đây là ư nghĩa gợi mối cảm xúc, ḷng thương
một ḷai vật nhỏ bé, yếu đuối trước một con vật khôn lớn
hơn, để trong xă hội con người cũng tương tự, tuy có kẻ
mạnh, người yếu, tuy quyền lợi và nhu cầu cách biệt, nhưng
phải biết sống với nhau bằng đạo lư làm người th́ giữa muôn
trùng cách biệt, con người vẫn c̣n có những điểm chung,
biết đặt nổi mối tương quan chân thành, niềm cảm thông,
nâng đỡ cho người yếu kém, thiệt tḥi th́ từ đó mới tạo dựng
một cuộc sống mà chữ T̀NH trọng hơn LƯ, VĂN HÓA trọng hơn
BẠO LỰC, th́ mọi người mới được hạnh phúc, xă hội mới an
lạc, thái ḥa.
Cũng xin nhấn mạnh ở đây, dấu chỉ Tả Nhậm của Việt Tộc lại
cũng trùng hợp với nền tảng và ư nghĩa của Đạo NHO. Nho có
nghiă chính là NHU, có nghiă là một nguyên lư của sự trọng
T́nh, nghiêng về những ǵ yếu đuối, thua kém, thiệt tḥi,
tức là đức NHÂN , nến tảng của chữ Nhu. Câu ca dao sau
chứa đựng tất cả cái ước vọng xây dựng gia đạo của cô gái
Việt:
Đèn Sàig̣n ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về anh học chữ NHU
Chín trăng em đợi mười thu em chờ.
.Trong “ B́nh Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trăi có câu “ Cỗ xe
cầu hiền, vẫn thành kính bỏ không phía Tả” (Cố ư đăi hiền
chi xa, thường cấp cấp nhi hư Tả. Bùi Kỷ dịch: Mấy thuở đợi
chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư Tả). Thời xưa, hiền sĩ thường
sống ẩn dật, khi vua nghe tiếng phải đến nơi cầu hiền .Cỗ
xe cầu người hiền đức giúp vua giúp nước, chỗ ngồi phía bên
Trái là dành cho người Hiền có lẽ do nguồn gốc trọng phía
Trái của Việt Tộc. Tương tự, nơi triều đ́nh, bên Trái của
Vua là chỗ của Văn Quan, c̣n bên phải cho quan vơ.Như thế rơ
ràng xă hội xưa, đạo NHO là đạo NHU, là trọng VĂN, trọng
T̀NH, có liên hệ với gốc TẢ NHẬM, dấu chỉ của Văn Hoá Nông
Nghiệp Việt Tộc.
Ng̣ai hai bài đồng dao trên, chúng ta cũng c̣n t́m thấy dấu
chỉ An Vi và Tả Nhậm của Văn Hóa Việt qua hai câu thơ tiêu
biểu, là triết lư Việt mà cũng là kết luận của áng thơ trác
tuyệt là TRUYỆN KIỀU của thi hào Nguyễn Du:
Thiện căn ở tại ḷng ta,
Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ tài.
Thật thế, cuộc đời của Thúy Kiều trong tác phẩm Nguyễn Du
th́ trải qua bao là thương khó, khổ nạn dập vùi. Nhưng xét
từ đầu, nếu Kiều cũng vô tư vô lự như em là Thúy Vân, th́
với tài sắc ấy, cuộc đời Kiều phải được hưởng phú quư hơn
cả em nàng. Nhưng mà bởi v́ một tấm ḷng của người con Chí
Hiếu mà đời Thúy Kiều truân chuyên, bạc mệnh.
Nguyễn Du tuy viết với chữ phương Nam ( Nôm) thi ca Truyện
Kiều từ tác phẩm văn xuôi“ Kim Vân Kiều truyện” bằng Hán văn
của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, nhưng xét kỹ, tác phẩm của
Nguyễn Du đă làm nổi nét đặc trưng của Văn Hóa Việt mà không
có trong văn bản của Tàu. Với bản gốc, TTTN không có cái
nh́n về Kiều sâu sắc với Tâm Đạo, TTTN chỉ muốn nói đến cái
luận thuyết “ hồng nhan đa truân” mà thôi.Và kết thúc bằng
cảnh cả nhà xum hơp phú quư vui vầy. Nhưng khi đến tài hoa
và tâm tư của thi hào Đất Việt, th́ ṭan cảnh đọan trường
hầu như bị xóa mờ với cái trị giá đích thực nơi Nội Tâm con
người. Kết thúc với Tâm Đạo là Cuối Cùng Con Người Đă
Thắng. Như Kim Trọng đă ân cần trân quư người xưa trong
buổi đ̣an viên:
Gương trong chẳng chút bụi trần,
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.
Thật thế, con người có giá trị nội tâm thanh cao trôi trong
mọi ngọai cảnh, như giọt nước lăn tṛn trong suốt trên lá
sen, nào có ngập ngừng, vẩn đọng.
Với cái nh́n giới hạn, Thanh Tâm Tài Nhân đă chỉ thấy được
cái lư thuyết “tương đố” sáo ṃn của “Tài và Mệnh”. Có nghiă
là người tài thường bị cái mệnh là nghịch cảnh làm hại, phải
gian nan, khốn khổ v́ cái tài của ḿnh. Như thế, quả con
người chỉ là nạn nhân, nô lệ của ngoại cảnh, không có một
lối thoát nào hơn là chấp nhận cái ṿng oan nghiệt của định
mệnh.
Nhưng thừa hưởng tinh hoa Việt Nho trong tiềm thể Tâm Linh,
Việt là Vượt Lên, Vượt Qua…Nguyễn Du đă khai phá một chân
trời Tự Do của ư thức Nhân Chủ qua các hành sử của Kiều theo
Tâm Đạo. Một việc ư nghĩa như Kiều trong truyện Tàu thẳng
tay cho đánh Hoạn Thư một trận đ̣n trả thù lẩn quẩn oan
khiên, nhưng Thuư Kiều Việt của Nguyễn Du sau khi nghe lời
nói chạy tội nhu thuận của người đàn bà khôn khéo th́ lại
mở tâm từ:
Tha ra th́ cũng may đời,
Làm ra th́ cũng ra người nhỏ nhen.
Đă ḷng tri quá th́ nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Nhất là trong tiếng đàn Nguyệt của Thuư Kiều mà nghe được
cả cái “vô thanh” của nội tâm th́ cũng chỉ riêng tài hoa
Nguyễn Du mới cực tả được:
Sân sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đă tay nâng ngang mày.
Nàng rằng :” Nghề mọn riêng tay,
Làm chi cho bận ḷng này lắm thân !”.
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương.
Khúc đâu Hán, Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mă Phượng Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu, phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu Thuỷ, hai rằng Hành Vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Đàn Kiều thương cảm quá, đến nỗi người tri kỷ của nàng là
Kim Trọng phải kêu than:
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi ṿ chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “ Hay th́ thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!...”
Vậy mà cũng người xưa, cũng tiếng đàn xưa, trong buổi đoàn
viên, Đàn Kiều đan thanh:
Phím đàn d́u dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hoà!
Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh?
Khúc đâu êm ái xuân t́nh,
Ấy hồn Thục Đế hay ḿnh Đỗ Quyên?
Trong sao châu rơ dềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!
Và chỉ riêng với cảm nhận tuyệt vời trong tương giao hữu hạn
với vô biên của âm thanh tiếng đàn Kiều, Nguyễn Du mới gọi
tên tác phẩm ḿnh là “Đoạn Trường Tân Thanh”, mới đưa ra
được một lời kết thâm trầm, hào sảng và an nhiên tự tại với
nguyên lư nền tảng của Triết Việt, “ Thiện Căn ở tại ḷng
ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”, mà sau này thiên tài
Triết học Kim Định gọi là AN VI.
Thật thế, An Vi là Sống với Vô biên trong đời Hữu hạn,
cho nên đặt nổi yếu tố Tâm Đạo giữa bao nghịch cảnh
trầm luân của cuộc đời biến động ba đào. Với kết thúc
Truyện Kiều bằng Tâm Đạo, tài hoa Nguyễn Du đă đưa Thi Ca về
với ngọn nguồn Minh Triết Việt.
Đến đây chúng tôi cũng chợt nhớ tới câu thơ mang trọn vẹn ư
nghĩa ấy trong bài “ Đề Miếu Vợ Chàng Trương” của vua Lê
Thánh Tôn:
Chứng quả có đôi vầng
Nhật Nguyệt
Giải oan chi mượn
đến đàn tràng.
Chắc chúng ta c̣n nhớ câu chuyện người thiếu phụ Nam Xương.
V́ chồng đi chinh chiến xa, người vợ cứ chỉ cái bóng của
ḿnh để nói với đưa con thơ là cha của nó. V́ thế khi trở
về, người thiếu phụ bị chồng nghi ngờ, v́ đưa bé không nhận
cha mà cứ khăng khăng bảo rằng khi đến tối cha nó mời về.
Không chịu nổi oan khiên, người đàn bà phải tự vẫn để chứng
tỏ ḷng trong sạch. Rồi một hôm tối trời, đứa bé nh́n lên
vách thấy bóng của người cha, và mừng vui truyện tṛ với cái
bóng, bảo đó là cha ḿnh đă về, th́ người chồng mới vỡ lẽ
câu chuyện thương tâm. Người chồng đă lập đàn giải oan cho
vợ.
Bài thơ phê phán của vua Lê Thánh Tôn khi đi ngang qua cái
miễu thờ người thiếu phụ Nam Xương vẫn trách người chồng v́
nông nổi, dù ngộ sát cũng đă làm chết người vợ hiền chung
thủy. Cái Cao Quư của thiếu phụ Nam Xương đâu ở cái đàn giải
oan. Nàng đă sống với ḷng ḿnh, tâm trong suốt sáng rỡ như
mặt trời, thanh khiết như mặt trăng, đôi vầng nhật nguyệt đă
minh chứng rồi.
Cũng như xét về những kẻ bá đạo ở cuộc đời, không thể áp
dụng cái kiểu “ giết người rồi xin lỗi” là coi như tội lỗi
đă phủi xong, là xóa sạch oan cừu. Phải có sự chân thành của
Tâm Đạo mới làm dịu êm, ḥa giải được mối đau thương.Qua hai
câu thơ “ Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt, giải oan chi
mượn đến đàn tràng”, cái nh́n của nhà hiền triết mang nặng
tâm thức Nhân Chủ, khẳng định cái cái giá trị vĩnh cửu chính
là giá trị của tấm ḷng . Sự khen chê, ngoại cảnh, h́nh thức
màu mè là tùy phụ. Khi mà con người sống theo đạo lư của
chữ Tâm, th́ đă có Đèn Trời soi xét, đă tự có giá trị với
Trời Đất rồi, h́nh thức nào cũng không nói lên ư nghĩa ǵ
cả, nếu không sống bằng tấm ḷng, hay ta c̣n gọi là TÂM
ĐẠO.
Chúng ta vừa đi nhẹ một ṿng Thi Ca của suối nguồn tư tưởng
Việt qua các bài đồng dao tiêu biểu “ Thằng Bờm”, “ Con
Mèo”, khái quát về chữ Tâm của Truyện Kiều, tới những câu
thơ b́nh thường trong cuộc sống . Tất cả đă nói lên tính AN
VI, TẢ NHẬM, TÂM ĐẠO là ba dấu chỉ nền tảng của THI CA
TRIẾT VIỆT. Nếu có thể nói một cách nhất quán, th́ chỉ với
tŕnh độ tâm thức NHÂN CHỦ làm nền tảng chung, Văn Hoá Việt
đă đạt được cả ba yếu tính trên. Có từ tâm thức Nhân Chủ,
con người mới An Vi, mới trọng T́nh, mới đặt nổi giá trị của
chữ Tâm. Làng Quê Việt bao bọc bởi các rặng tre dầy, với mái
đ́nh uốn cong vươn lên về siêu việt, từ ngàn xa xưa đă là
cái Bọc Tâm Linh cho Trăm Con Việt sống an hoà với “ Phép
vua thua lệ làng” dù trong nạn Hán hoá ngàn năm, lại càng là
thành luỹ kiên cố bảo vệ giống ṇi, chạy trốn văn minh du
mục hữu vi Tây Bắc, giữ vững các dấu chỉ Văn Hoá trên như
giữ Hồn Thiêng Bất Tử của ḿnh.
Nhắc tới THI CA, chúng ta như không dứt ra được, có lẽ v́
nguồn gốc chúng ta là Con Rồng Cháu Tiên, nên tâm thức dễ
bay bổng như Tiên khi đi vào thế giới Thi Ca, lănh vực của
chất siêu h́nh, vô biên trong huyết quản Tiên Rồng của ṇi
giống Việt. Cánh Tiên Nương đă tháp vượt lên chốn cao xanh
nào để hồn ta cứ khắc khoải hoài theo dấu một h́nh ảnh
trắng trong của một loài chim nước qua câu ca dao:
Suốt ḿnh trắng nơn như bông,
Gió xuân lất phất chùm lông trên đầu.
Vật biểu của nền văn minh du mục thường là những con thú,
có lông Mao, ngược lại vật biểu của nông nghiệp là loài
chim, có lông Vũ. Con c̣ là một loài chim nước, cũng như
hồng, hạc, bồ nông…, với nông nghiệp th́ con c̣ trắng thành
một biểu tượng của chim Tiên trên ruộng đồng lúa Việt :
Con c̣ bay lả bay la,
Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng…
Con c̣ bay lả bay la trên ruộng đồng lúa Việt xưa là h́nh
ảnh thấm nhập vào nội tâm, cảm xúc để ai cũng yêu quư ví von
như h́nh ảnh bà Mẹ Việt chân chất quê mùa:
Thân c̣ lặn lội bờ sông,
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay.
Hai giải yếm đào của Mẹ có phải chăng c̣n là hai khiá cạnh
của một thực tại Nhân Sinh. Mà Triết Việt gọi là Rồng Tiên,
Việt Nho gọi là Âm Dương, nhà Phật là Sắc Không, hay bên Tây
phương với Heidegger là Nếp Gấp Đôi của Tính Thể .
Con c̣ trắng trên nền trời xanh lơ dịu dàng với đôi cánh
phất phơ có phải là gợi h́nh cho một kiểu áo tứ thân của phụ
nữ thời xưa? Chiếc áo có thân trước xẻ hai tà như hai cánh
của con c̣.Cũng như cái khăn mang trên đầu tóc kiểu cái
đuôi con c̣ mà ta gọi là “mỏ quạ”. Quạ cũng là giống chim,
và khăn kiểu mỏ quạ chính là khăn thắt trên đầu có chóp
nhọn như cái mỏ con quạ và sau như cái đuôi của con c̣.
H́nh ảnh Người phụ nữ với cái khăn mỏ quạ, chiếc áo tứ
thân, như Nguyên Lư Mẹ Nhất Nguyên Lưỡng Cực. Khăn mỏ quạ
với chóp nhọn là Nhất Thể Tâm Linh của Hai chiều Rồng Tiên,
Âm Dương như hai tà áo Mẹ.
H́nh ảnh con c̣ tung bay thanh khiết nên được ca dao Việt
đặt vào ḷng Mẹ:
Con c̣ mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi! Ông vớt tôi nao,
Tôi có ḷng nào ông sẽ xáo măng.
Có xáo th́ xáo nước TRONG,
Đừng xáo nước đục đau ḷng c̣ con.
Một đôi khi trong lúc lỡ lầm, con của Mẹ Việt đă nhẹ dạ (đậu
phải cành mềm) rước các chủ thuyết phản dân tộc, phi nhân
bản làm “ con dại, cái mang” nên Bà Mẹ Việt cũng lắm nỗi
điêu linh. Mẹ Việt trong trầm luân vẫn dặn ḍ câu “ Thanh
Tẩy”, nghiă là ai cũng có lúc sai lầm, nhưng biết lắng ḷng
“gạn đục khơi trong”, Trong cùng nghiă là không vẩn đục, tức
là tĩnh lặng , để cái Tâm Thức Trống Không trở về th́ vẫn
c̣n niềm tin và hy vọng. Đời sống là Hai Nhịp Song Trùng như
HAI tà áo Mẹ.Có phần biến dịch, nhưng cũng có bất dịch. V́
con dại cái mang nên Mẹ bị bức tử, nhưng nếu tâm thành trở
về với Mẹ, v́ Đạo là cơi Tâm Linh, nên vĩnh hằng, ḷng thành
Tâm của con người là nước thiêng thanh tẩy, Mẹ lại về nuôi
dưỡng các con c̣ theo Nguyên Lư Mẹ:
Một mai khôn lớn VUÔNG TR̉N,
Rủ nhau bay khắp nước non xa gần.
Kiếm mồi TỰ LẬP lấy thân,
Vẻ vang hănh diện cho dân con c̣.
Nguyên Lư Mẹ Việt đơn sơ, giản dị như là Cặp Bánh Vuông –
Bánh Tṛn của trời đất, nhưng chỉ khi được dưỡng nuôi đầy
đủ HAI chiều kích hữu hạn và cả chiều kích vô biên siêu
việt, c̣ con mới được vừa lớn ( vuông) lại vừa khôn (tṛn),
nên mới th́ mới thành người phát triển toàn diện, sung măn,
vững vàng đầu đột trời, chân đạp đất, tức là TỰ LẬP để, tự
ḿnh làm chủ, thong dong tự tại, nên là con người đạt NHÂN
CHỦ, tức là Nên Người. Mà khi đă thành người Nhân Chủ th́
hănh diện biết bao cho cái dân tộc này vậy. V́ sự xuất hiện
của nó cũng chỉ có ư nghiă bấy nhiêu. Nếu không th́ hy sinh
v́ độc lập, chết cho tự do để làm ǵ? Ḍng máu Lạc Việt cứ
tuôn đổ, ngàn năm núi xương trắng ngạo nghễ hào khí anh
linh dân tộc, sông máu đào tô thắm chữ Việt thiêng . Ḱa
xem bao chi nhánh khác trong Đại Tộc Bách Việt đều bị Bắc
phương đồng hoá mất sạch dấu ấn kiếp người, nay con cháu nào
dám nói câu oanh liệt ? Nhớ câu “Đánh cho để tóc dài,
đánh cho để răng đen” ( Hịệu triệu tướng sĩ, vua
Quang Trung) của dân tộc Lạc Việt. Văn Hoá không chỉ ở chỗ
để tóc dài, văn hoá không chỉ ở tại tục nhuộm răng đen.
Nhưng đánh cho bất cứ kẻ nào không cho Lạc Việt tóc dài để
mà “búi tóc củ hành, đàn anh thiên hạ” và cô gái Việt nhuộm
răng đen ăn trầu “cho duyên ḿnh đẹp cho t́nh anh mê!”, đó
là Văn Hoá. Văn Hoá là dấu ấn của Hiện Hữu - cách Nhân Chủ,
đồng nghiă với Tự Do. Hồn Nhân Chủ của nước Việt đă rực rỡ
thấm theo từng ḍng máu thắm tuôn đổ để bảo vệ đất nước với
Văn Hoá bản sắc của giống ṇi.
Nhưng ước mơ Mẹ đă gửi vào hư vô v́ một đêm tối trời kia Mẹ
đă lộn cổ xuống ao. Sau đây là lời trối trăn của Mẹ khi
không c̣n được bay lả bay la phơi phới để phất phơ hai giải
yếm đào nữa:
Con c̣ chết tối hôm qua,
Có HAI hạt gạo với BA đồng tiền.
Một đồng mua trống mua kèn,
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.
Một đồng mua mớ rau rong,
Mang về thái nhỏ thờ vong con c̣.
Hăy mở ra xem HAI hạt gạo ǵ? Có phải là HAI hạt gạo có dấu
ấn LƯỠNG HỢP RỒNG TIÊN,VUÔNG TR̉N …khai mở Tâm Thức Thái Hoà
của vũ trụ quan HAI CHIỀU KÍCH của Huyền Sử Việt?
Và rồi c̣n BA đồng tiền nào nữa? Có phải là một đồng “mua
trống mua kèn” hầu tiếp cận cơi TRỜI siêu linh; một đồng
“mua mớ rau rong” để sống thực tế với các phần hữu hạn của
ĐẤT; và “một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong” chính là
thắp sáng lên cái ánh lửa Nhân Tính của con NGƯỜI -
Nối Kết Đất Trời ( Giao Chỉ) - trong cái sứ mạng lớn lao là
trở nên tự chủ, NHÂN CHỦ. Nhân Chủ không phải là kiêu ngạo
chống Trời, nhưng có nghiă là không làm nô lệ cho Trời hoặc
Đất, mà là có phong thái AN VI, dung hoà hữu vi với vô vi,
vẫn sống đời thường nhưng với bóng dáng cao cả bao la của
Người Đại Ngă Tâm Linh.
Bây giờ chỉ c̣n có HAI hạt gạo với BA đồng tiền thôi, đó là
gia tài, di sản của Bà Mẹ Việt..Chúng ta sẽ làm ǵ với di
sản này? Mẹ đă v́ ta chết đau thương, và đàn con Việt cũng
xót xa những bến bờ phiêu bạt. C̣ Mẹ trong trắng như bông
đă v́ con mà bị hết Tàu, Tây, Nga, Mỹ, tư bản, cộng sản…làm
thịt đau thương một đêm quê hương không trăng sao.
Hăy nắm chắc HAI hạt gạo và BA đồng tiền di bảo
của nền văn hoá ruộng đồng Lạc Việt - để ngày nào
qua muôn trùng vạn nẻo tha hương t́m được về nguồn cội, được
thanh tẩy với Đạo Trống, tấm ḷng trống không, trong suốt
“Xáo nước trong” rồi, NGUYÊN LƯ MẸ
sẽ hồi sinh, con c̣ trắng nơn như mây lại cất cánh
Tiên uốn lượn trên trời xanh trong mà bay lả bay la…
Và c̣n Hạnh Phúc nào An Vi hơn khi đời t́m được bản thể của
chính ḿnh, dấu chỉ Mẹ hiền:
Con c̣ là con c̣ con,
Mẹ nó yêu nó, nó c̣n làm thơ…
Đông Lan
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Kim Định: Cửa Khổng, An Việt San Jose, California, 1997.
Cơ Cấu Việt Nho, Nguồn Sáng, Sàig̣n, 1973.
Vũ Đ́nh Trác: Triết Lư Nhân Bản Nguyễn Du, Hội Hữu,
California.,1993.
Tô Nam Nguyễn đ́nh Diệm, Kim Vân Kiều Truyện, Văn Hoá, 1971
Lê Tôn Nghiêm: Lịch Sử Triết Học Tây Phương, Lá Bối,
Sàig̣n,1971.
Đông Lan: Yêu Mến An Vi, Văn Hiến, Houston, Texas 2004.
|