TOÀN CẦU HÓA & CHỦ NGHĨA DÂN TỘC
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết
Từ hậu bán thế kỹ 20, khái niệm về toàn cầu hóa đă nảy sinh với tốc độ tăng dần. Qua đến đầu thập niên 90, từ ngữ globalization được phổ biến rộng răi trên thế giới nhờ phương tiện thông tin trên
mạng lưới trở thành phổ thông. Bắt đầu từ lănh vực truyền tin, thông tin, khái niệm toàn cầu hóa dần dần xâm nhập vào các lănh vực khác như kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ khiến cho các biên giới địa dư quốc gia cũng từ
từ ḥa nhập vào nhau để hướng về một thế giới có nhiều điểm tương đồng nhiều hơn.
Khái niệm quốc gia - dân tộc
Từ ngàn xưa, bộ lạc, cộng đồng các bộ lạc liên kết nhau trong quyền lợi an sinh. Cũng từ đó nảy sinh ra làng nước. Rồi theo tiến tŕnh phát triển của từng dân tộc, khái niệm quốc gia dần dần được thể
hiện qua các ranh giới địa dư, định chế chính trị, ngôn ngữ, phong tục tập quán.
Trung Quốc, Hoa Kỳ, Việt Nam là mỗi quốc gia riêng biệt. Nam Hàn, Bắc Hàn là hai quốc gia khác nhau qua định chế chính trị. Do đó quốc gia là một cộng đồng dân tộc.
Về dân tộc, người Mường, Mán, Radé, Tày,.và Kinh (Việt Nam) là những dân tộc trong quốc gia Việt Nam. Ai ai cũng có nhu cầu thuộc về một cộng đồng: cái nôi của cuộc sống. Đó là gia đ́nh gồm cha mẹ, anh chị em, họ hàng thân
tộc, đó là mái trường xưa, bạn bè, thân hữu, đó là làng nước, xóm giềng, nói rộng ra đó là t́nh tự dân tộc. T́nh tự dân tộc là một nhu cầu thiết yếu của con người, ít nhất cho đến ngày hôm nay. Đứa trẻ
mồ côi dù có t́nh thương của các vị tu sĩ, các công nhân, y tá, của viện mồ côi, vẫn thèm muốn sự ôm ấp của một người mẹ, sự bồng ẵm nâng niu của một người cha, hoặc có anh có chị. Cái t́nh lúc nào cũng cụ
thể. Cho nên, nếu có cái t́nh người chung chung, th́ cái chung chung ấy phải được đặt cụ thể đặc thù hóa trong cuộc sống thực tiễn thí dụ trong cái t́nh chồng vợ, t́nh gia đ́nh, t́nh thôn xóm, t́nh quê hương dân tộc. T́nh tự dân
tộc dạy con người thương nước, thương ṇi, dạy con người cách sống trong xă hội: luật vua, lệ làng, sống ra con người. Dạy trong cuộc sống thực ti
ễ
n. Ḿnh không chọn dân tộc ḿnh được, cũng như không chọn được cha mẹ, và nơi chôn nhau cắt rốn. Nhiều người đă đồng nhất quốc gia với dân tộc.
Chủ nghĩa dân tộc
Chủ nghĩa dân tộc là một nhóm từ tương đối mơ hồ trong nhận thức tùy theo quan niệm của từng cá nhân (hay có thể bị áp đặt v́ một quyền lực nào đó trên cá nhân). Tùy theo từng giai đoạn của đất nước,
chủ nghĩa dân tộc c̣n có thể diễn đạt một cách khác nhau. Có những thời lúc đất nước lâm nguy, những lúc mà mọi người đều cảm nhận ḿnh có trách nhiệm bảo vệ sự an sinh của đồng bào và dân tộc. Những bài
ca đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách, thường là bắt nguồn từ giới cầm quyền. Nói riêng, khi nhà vua cần ǵn giữ triều đại của ḿnh, khi các nhà chính trị, nhất là các nhà cầm quyền chuyên chế, cần củng cố địa
vị và quyền lực của ḿnh, thường họ ca bài tinh thần dân tộc độc tôn. Hitler và một số nhà lănh đạo độc tài hiện đang cầm quyền lực trong tay trên thế giới là những thí dụ cụ thể nhất. Nếu cần, họ tô
vẽ một h́nh ảnh kẻ thù ghê sợ đang sừng sững ngoài cửa.
Không biết thật sự có chủ nghĩa dân tộc hay không?
Nhưng nhân danh dân tộc để đưa người vào ḷ thiêu thân là việc thường t́nh trong sử sách. Phát xít, cộng sản, và quân chủ chuyên chính là những chủ nghĩa có cùng những đặc tính sau đây: độc đảng (với chế độ quân
chủ chuyên chế th́ không có một đảng nào khác hơn là triều đ́nh của nhà vua), không một ai có tư hữu sản xuất, tất cả đều thuộc nhà nước hay nhà vua, và trong thời b́nh vẫn chuẩn bị chiến tranh, gươm kiếm, súng đạn,
và dựng lên h́nh ảnh một bá quyền bên ngoài đang sẵn sàng ăn tươi nuốt sống quốc gia ḿnh. Trong thực tế, sự nuôi dưỡng quân đội, tăng cường khí giới, thường chỉ để bảo vệ ngai vàng của nhà vua hay chiếc
ghế của nhà cầm quyền.
Khái niệm toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là một thực tế và là một thực tiễn
.
Có những ngôn ngữ toàn cầu: ngôn ngữ khoa học, toán học, ngôn ngữ của máy điện toán. Anh ngữ trong một giới hạn nào đó là một ngôn ngữ toàn cầu. Có những tổ chức toàn cầu: Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức Y tế thế
giới (WHO), Cao ủy tị nạn LHQ (UNHCR), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Tổ chức mậu dịch thế giới (WTO). Các đại công ty (conglomerats) là những công ty ṭan cầu. Có những giá trị có tính cách toàn cầu như nhân
quyền, tự do, dân chủ, mặc dù trong những thể chế khác nhau người ta có thể hiểu khác nhau. Đức tin không bao giờ giới hạn ở ranh giới một nước. Những tư tưởng lớn Phật giáo, Thiên chúa giáo, Khổng, Lăo, Socrate, Platon,
Aristote,...đă vượt xa ranh giới của một quốc gia. Socrate, con người của thành phố Athenes nhưng cũng là bậc hiền nhân của mọi nơi và muôn thuở. Ngày nay Tây phương đă quen thuộc với những tư tưởng Đông phương
như thiền, triết lư Phật giáo, Lăo giáo, các thi hào như Tagore,...
Những môn học như công pháp quốc tế, kinh tế thế giới, thị trường thế giới đă được giảng dạy khắp nơi. Người ta không những khảo sát cái chung của thế giới mà c̣n cái riêng của mỗi quốc gia để cùng
“làm ăn” với nhau trên lănh vực toàn cầu. Sự tham gia trao đổi buôn bán nhiều chiều có khi là yếu tố quyết định cho sự phồn thịnh của quốc gia. Nhật Bản và Anh Quốc nếu bế quan tỏa cảng hay bị phong tỏa th́ sập
tiệm ngay. Gần đây nhất, việc bắt giữ ông Pinochet ở Anh và Milesovich ở Tiệp làm cho người ta nghĩ thời đại muốn làm ǵ th́ làm ở trong nước ḿnh, đă bắt đầu cáo chung.
Việc các bức màn sắt xă hội chủ nghĩa phải tự hủy, các nước xă hội chủ nghĩa phải mở cửa để tiếp cận với thế giới Âu Mỹ...để sống c̣n là thí dụ điển h́nh nhất cho tiến tŕnh toàn cầu hóa. Các
nước lớn như Liên Sô, Trung Quốc trước kia tuy có những bức màn sắt nhưng cũng phải giữ một mậu dịch giới hạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hiện tại họ không thể nào bưng bít được những thông tin trong nước
và thế giới bên ngoài. Chính quyền không thể che đậy được những áp đặt vô lư lên người dân nữa v́ qua phương tiện thông tin trên mạng lưới sẽ không c̣n ǵ là bí mật tuyệt hảo hết. Chuyện thâm cung bí sử của
một tổng thống của một cường quốc số một trên thế giới trong khoảnh khắc được quảng bá sâu rộng trên toàn thế giới qua mạng lưới internet, và sau đó có hàng triệu triệu lời bàn khác nhau.
Thế giới hôm nay và ngày mai không c̣n những ốc đăo, một Tây Tạng huyền bí, một Albanie khép kín, một Việt Nam bài ngoại và bài Thiên chúa giáo thời Tự Đức... Và những yếu tố căn bản làm tăng tiến tŕnh toàn cầu hóa là: 1- Sự gia tăng
dân số trên thế giới; 2- Sự phát triển khoa học và kỹ thuật; 3- Sự phát triển phương tiện giao thông; 4- Sự phát triển thị trường thế giới, trong đó có thị trường lao động.
Thế nhưng tại sao lại có hiện tượng chống lại toàn cầu hóa?
Có nhiều lư do giải thích một số tổ chức chống toàn cầu hóa trong những năm gần đây. Vào tháng 12,1999, Tổ chức Mậu dịch thế giới (TWO) họp ỏ Seattle (Hoa Kỳ). John Zerzan, người cầm đầu các nhóm biểu t́nh bạo động
cổ động cho chủ nghĩa vô chính phủ để khích động tuổi trẻ chống lại cuộc họp thượng đỉnh. Tại Melbourne (Úc) năm 2000, Krishanappilai, phối trí viên cho cuộc biểu t́nh lần nầy dùng chiêu bài đả kích các đại công
ty đa quốc bóc lột để khích động người biểu t́nh. Gần đây nhất tại Toronto (Canada), các lănh đạo của nhóm biểu t́nh vẫn mang sự chống đối việc áp đặt kinh tế của các cường quốc làm nền tảng cho
cuộc tranh đấu. Nhưng thật sự, họ biểu t́nh nhưng chính họ cũng không biết họ muốn ǵ! Lấy chiêu bài chống áp đặt kinh tế lên các quốc gia nhỏ để bóc lột...họ đă nh́n sự toàn cầu hóa dưới một nhăn quan
hẹp ḥi. Khía cạnh kinh tế chỉ là một điều kiện cần trong tiến tŕnh toàn cầu hóa nhưng chưa đủ để giải quyết và nâng cao các nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người trên thế giới. Có được như
vậy, mọi mâu thuẫn địa phương, sắc tộc,.... sẽ lần lần được cải thiện để rồi sau cùng thế giới có hy vọng tránh được những đáng tiếc trong cung cách tiếp cận và trao đổi với nhau. Sự
cảm thông và chia xẻ sẽ làm cho thế giới an b́nh hơn.
Việt Nam qua các thời đại
Từ thời quân chủ phong kiến bước sang chế độ cộng ḥa và gần đây chế độ xă hội chủ nghĩa Việt Nam đă trải qua nhiều giai đoạn xă hội khác nhau. Từ hậu bán thế kỷ 19 đến thập niên 40, chế độ
quân chủ và thuộc địa đă liên tục đan kẽ với nhau tạo ra một h́nh thức xă hội phức tạp gồm dân tộc chủ nghĩa, cách ly chủ nghĩa và nô lệ chủ nghĩa. Để đương đầu với chính sách thực dân Pháp, chính
quyền và sĩ phu Việt Nam thời bấy giờ cố bám víu vào những giá trị văn hóa, tinh thần đă từng được xem là tinh hoa của dân tộc. Do đó đất nước hoàn toàn bị cách ly và cô lập với thế giới mặc dù có sự hiện
diện của người Pháp như là một gạch nối với tây phương. Thêm nữa, chính sách thực dân thuộc địa cũng đă làm nảy sinh ra chủ nghĩa bài ngoại cực đoan khiến cho đất nước hầu như hoàn toàn bị bưng bít và
không được tiếp cận với thế giới bên ngoài.
Trong thời đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa, miền Nam có thêm điều kiện giao tiếp với văn minh tây phương. Điều nầy tạo ra một xă hội tương đối mở dù đang ở trong hoàn cảnh chiến tranh. Chủ nghĩa bài
ngoại cực đoan dần dần nhường bước cho các ư hướng canh tân của một số trí thức và đoàn thể. Trong giai đoạn nầy, dân trí dân sinh của người dân miền Nam lần lần được cải thiện và tăng trưởng theo
đà tiến hóa của các xă hội tây phương trên thế giới.
Ngược lại miền Bắc vẫn chủ trương một xă hội kín. Tuy có tiếp cận với Nga sô và Trung quốc, nhưng những tiếp cận nầy thuần túy chỉ để phục vụ cho chiến tranh mà thôi; người dân miền Bắc hoàn toàn bị bưng
bít và được tuyên truyền “mở” dưới chiêu bài cùng sách lược của chủ nghĩa đại đồng xa vời. Ngay sau khi cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, chủ nghĩa nầy đă được tức khắc áp đặt cùng với tinh
thần dân tộc chủ nghĩa bài ngoại được áp dụng triệt để trong suốt mười năm đầu thống nhất đất nước. Chính quyền hiện tại đang ru ngủ người dân bằng cách khơi động những truyền
thống văn hóa, lịch sử, huyền sử VN để tô hồng cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Niềm tự hào dân tộc của những người cầm quyền đă làm tê liệt đất nước về đủ mọi mặt trong suốt mười năm
từ sau 1975.. Họ đă tự hào khi thổi phồng những nét đặc thù về văn hóa, văn minh, cùng sự phát triển của đất nước để, một mặt che đậy sự lạc hậu đối với thế giới bên ngoài, một mặt bưng
bít kín không cho người dân trong nước có cơ hội tiếp cận với các tiến bộ của nhân loại. Họ cố cổ súy một thời đại huy hoàng của dân tộc trong quá khứ để từ đó xem như là một sức bật để bước
vào tiến tŕnh hiện đại hóa xă hội trong tương lai.
Cho đến thời điểm 1986, trước áp lực trong và ngoài nước cùng với sự kiệt quệ kinh tế và bế tắc trong phát triển, một chính sách chủ nghĩa dân tộc “mở” bắt đầu được áp dụng và từ đó làm cho mọi
chuyển dịch của đất nước tiến theo chiều thuận của toàn cầu hóa (tuy c̣n quá cách biệt so với các quốc gia trong vùng). Căn cứ theo một số khái niệm về chủ nghĩa dân tộc “mở”, các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ
và văn hóa của quốc gia có quan hệ trực tiếp lên khái niệm nầy:
·
Về ngôn ngữ mẹ đẻ: V́ không có một ngôn ngữ nào thuần túy đặc thù cho mỗi quốc gia; do đó sự pha trộn hay xử dụng các ngoại ngữ khác sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ của chính quốc. Việt Nam may mắn có một ngôn ngữ thống
nhứt từ Bắc chí Nam (không kể ngôn ngữ của các sắc tộc sống ở miền thượng du và cao nguyên). Có rất nhiều từ ngữ địa phương khác biệt nhưng tựu trung tuyệt đại đa số người Việt đều thông
hiểu và trao đổi với nhau dễ dàng. Trong thời phong kiến, tiếng Việt giàu thêm nhờ được tăng cường tiếng Hán việt; trong thời Pháp thuộc, có nhiều từ du nhập và biến thành tiếng Việt như nhà ga, tiếng c̣i xúp lê, bơ, bù
loong, bia, cà rốt, áo sơ mi, cải sà lách....Thiết nghĩ điều nầy sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ chứ không thể được xem như là một h́nh thức nô lệ hay ngoại lai...
·
Về văn hóa: Có mở cửa, có tiếp cận với các văn hóa khác th́ văn hóa chính quốc mới có khả năng được nâng cao qua việc thâu nhập những điểm hay của các văn hóa khác. Và cũng đừng sợ bị mất đi hồn văn hóa
dân tộc trong việc hội nhập nầy. Dù muốn dù không, đối với trong nước, người dân vẫn chưa được tiếp xúc và theo dơi đúng mức với thế giới bên ngoài do chính sách của nhà cầm quyền và cũng do điều kiện kinh
tế không cho phép. Nơi hải ngoại, mặc dù có đầy đủ điều kiện nhưng dường như người Việt tại hải ngoại vẫn chưa đặt trọng tâm đúng mức vào vấn đề nầy. Do đó, mặc dù đă bước vào
thế kỷ thứ 21, văn hóa, văn chương Việt Nam vẫn c̣n giữ theo thể tánh, cách suy nghĩ của thế kỷ 20. Vẫn chưa có một cuộc đột phá nào có tầm vóc khả dĩ có thể so sánh với hướng đi của thế giới. Vẫn c̣n
những suy nghĩ cục bộ g̣ bó trong phạm trù của một quốc gia c̣n khép kín.
Tiến tŕnh hội nhập
Nh́n chung trên thế giới, tiến tŕnh hội nhập vào thế toàn cầu hóa của một số quốc gia tiêu biểu sẽ cho chúng ta thấy rơ mức tiến bộ của từng quốc gia tùy theo phương cách tiếp cận.
Hăy thử nh́n những tiếp cận sau đây:
Đức quốc với chủ nghĩa dân tộc cực đoan trước đây đă làm náo động thế giới qua hai cuộc đại chiến và làm tê liệt thế giới một thời gian. Ngày nay, lănh đạo Đức đă nhận thức được sự
sai lầm trên và lần lần điều chỉnh kể từ sau thế chiến thứ hai. Ngôn ngữ chính là Đức ngữ đă được tiếp thu thêm nhiều từ mới từ Anh và Pháp ngữ. Người dân Đức đă học và trao đổi với thế
giới bên ngoài bằng Anh ngữ, một điều thật hiếm hoi so với người Đức bốn thập niên về trước. Đức là một cường quốc đứng thứ ba trên thế giới hiện tại trên bảy cường quốc đứng đầu.
Nhật bản phải chịu ở thế bại trận năm 1945 khi đất nước hoàn toàn bị tàn phá về đủ mọi mặt. Nhưng người Nhật chấp nhận sự nhục nhă, chấp nhận đi theo bước chân Mỹ để khôi phục lại
kinh tế cho đất nước. Họ tự cởi trói, thoát khỏi những tập tục cổ truyền không c̣n thích hợp với tiến bộ mới. Họ chấp nhận sự du nhập một số “văn hóa Hoa kỳ” vào văn hóa dân tộc cực đoan, từ
bỏ không luyến tiếc những tập tục có thể gây trở ngại cho đà phát triển theo chiều hướng toàn cầu. Họ đă chấp nhận Anh ngữ là một ngôn ngữ chính thức sau Nhật ngữ trong hành chánh và trao đổi quốc tế. Và Nhật,
ngày nay là một cường quốc đứng thứ hai sau Hoa kỳ.
Người Pháp đă từng hănh diện về văn minh, văn hóa của họ. Họ vẫn c̣n đang tự hào về một sắc dân thuần chủng gaulois, văn minh nhất thế giới ở thế kỷ 21 nầy. Họ cũng đă phủ nhận Anh ngữ như là
một ngôn ngữ của toàn cầu. Hậu quả, dân Pháp là một trong những dân tộc kém ngoại ngữ trên thế giới. Với những suy nghĩ trên và cung cách tiếp cận c̣n khép kín trong hành xử và trong tư tưởng, với tâm khảm đầy tự hào và
tự măn dân tộc, người Pháp từ ở thế cường quốc số một trên thế giới từ thế kỷ 19, đă đi xuống và tuy vẫn được xem là một cường quốc nhưng tiếng nói của nước Pháp bớt được
lắng nghe.
Hoa Kỳ ngược lại là một hợp chủng quốc và thời gian lập quốc chỉ vừa hơn 220 năm. Quốc gia nầy thể hiện một tính đa văn hóa thực sự. Hơn bất cứ quốc gia nào trên quả địa cầu nầy, Hoa Kỳ đă
hiện có 85 ngôn ngữ khác nhau đang được giảng dạy trong hệ thống giáo dục trong nước. Các ngoại ngữ lần lần chiếm giữ vai tṛ quan trọng tùy theo mật độ dân cư ngoại quốc cư ngụ trong từng học khu giáo dục.
Sự nh́n nhận Hoa kỳ là một melting pot cách đây hơn nữa thế kỷ có lẽ không c̣n thích hợp cho ngày hôm nay. V́, xă hội Hoa Kỳ hiện tại không c̣n là một xă hội thuần nhất và cuốn hút văn hóa của các sắc dân di dân. Xă hội Hoa kỳ
hiện tại là một xă hội đa văn hóa. Chính sự đa dạng văn hóa nầy làm cho Hoa Kỳ tiến nhanh và tiến tự nhiên theo tiến tŕnh toàn cầu hóa. Sống ở Hoa Kỳ lần lần ta không c̣n cảm thấy mất cội nguồn, mà ngược lại,
những nét đặc thù tinh túy của dân tộc lại càng thêm khởi sắc v́ sự chung đụng giữa các văn hóa dị chủng khác nhau. Tiến tŕnh ṭan cầu hóa tại Hoa Kỳ chẳng những không biến các bản sắc văn hóa của các di dân thành một, mà
là một tập hợp các dị biệt văn hóa của từng sắc dân. Sau cùng tất cả quy tụ lại thành một khối đa văn hóa, tuy khác biệt nhưng không mâu thuẫn, tuy đặc thù nhưng vẫn sống hài ḥa trong một xă hội thực sự đang
tiến vào kỹ nguyên mới của toàn cầu. Hoa Kỳ là h́nh ảnh nhỏ minh họa cho sự toàn cầu hóa: nhiều dân tộc Đại Hàn, Việt Nam, Trung Hoa, Phi, Ấn, Á Rập, Mễ, Trung Mỹ, Đông Âu, v.v...sống chung đụng nhau. Melting pot là h́nh ảnh táo, nho,
soài, mận, cam quit để chung lại quậy tán nhỏ thành một melting pot, là dân Mỹ. Đó là h́nh ảnh không c̣n nền văn hóa gốc. Khoảng hai thập niên gần đây, người ta h́nh dung lại Hoa Kỳ là một salad bowl, rau cải, cà rốt, tô mát, hành, ng̣,...ở
bên nhau, vẫn giữ những mùi vị đặc thù của chúng, nhưng vẫn có cái chất kết hợp như dầu, dấm, tiêu, muối,...để làm nên một salad bowl.
Gần chúng ta nhất là Trung Quốc, một quốc gia hầu như đi ngược lại hoàn toàn với Hoa Kỳ trên phương diện toàn cầu hóa. Từ ngàn xưa, xă hội Trung Quốc là một xă hội phong kiến lấy nông nghiệp làm nền tảng. Hơn 50 năm
dưới chế độ xă hội chủ nghĩa với biết bao kế hoạch nhảy vọt trên giấy tờ...Trung quốc vẫn c̣n bị xếp vào hạng các quốc gia đang phát triển. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan vẫn cho phép người Trung Hoa suy nghĩ
với một cung cách tự măn và chính họ vẫn tự công nhận xuất thân từ nguồn gốc của một dân tộc thượng đẳng “con trời” (Thiên tử) và tổ quốc Trung Hoa là trung tâm của nhân loại. Họ vẫn c̣n tự ru ngủ với
những áng văn chương tuyệt tác, những bài đường thi tứ tuyệt vượt thời gian và không gian...của Lư Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu... Và cuối cùng họ chơi vơi, chới với trước tiến tŕnh toàn cầu hóa. Xă hội Trung
Quốc, tuy đă mở nhiều so với mười năm trước đây, nhưng vẫn chưa đủ mở v́ các lực cản của chế độ chuyên chính đang áp đặt lên đất nước Tàu.
Quốc gia trong cộng đồng thế giới
V́ sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, các phương tiện truyền thông (điện thoại, điện toán), và giao thông, sự giao dịch giữa các quốc gia ngày càng gần hơn, nhanh hơn. Con người mua được thời gian. Đại Tây Dương
bây giờ chỉ là một biển hồ mà con người có thể vượt qua trong ṿng bốn giờ bằng máy bay Concorde. Việc trao đổi xảy ra tức khắc giữa bất cứ địa điểm nào trên thế giới. Ta có thể mua hoa để tặng cho người
đẹp ở bất kỳ nơi đâu trong vài tiếng đồng hồ.....
Do đó hệ quả trước mắt là: mậu dịch nhanh hơn. Giao lưu và thẩm thấu văn hóa nhanh hơn. Diễn tŕnh lịch sử nhanh hơn. Tốc độ vận hành nhanh hơn xưa bội phần. Lượng thông tin được nhân lên cả triệu
lần. Trong một chừng mực nào đó, cha mẹ có thể kiểm soát con cái trong việc xử dụng internet và vô tuyến truyền h́nh. Trên b́nh diện một quốc gia, sự kiểm soát nầy có thể thực hiện cho một số hữu hạn cá thể. Nhưng nói
chung, nếu áp đặt sự giới hạn trên trong những thông tin chính thống của một nhà nước chuyên chính và độc tôn dư luận là một việc làm không thể thi hành được!
Thế giới hôm nay là thế giới của sự tùy thuộc lẫn nhau. Tùy thuộc ở mậu dịch. Liên kết mậu dịch. Liên kết quân sự. Nghiên cứu khoa học lắm khi cũng là nghiên cứu toàn cầu. Nghiên cứu không gian không c̣n là độc quyền
của một quốc gia nào cả.... Có một lúc người ta nghĩ rằng triệt tiêu được bịnh lao, ít nhất là ở Hoa Kỳ, nhưng rồi bịnh lao trở lại, vi trùng lao mạnh hơn, v́ c̣n một nơi nào đó trên thế giới c̣n bịnh lao, và có
người đă du nhập nó trở lại nước Mỹ. Độc lập hay tùy thuộc lẫn nhau là ở cái thế tương quan với nhau ở mỗi thời mỗi lúc. Nếu ḿnh nghèo quá, c̣n đi lượm từng đồng Mỹ kim, nếu ḿnh đói quá, c̣n
phải gian manh để có chút ăn thừa, th́ đương nhiên cái thế sẽ yếu đi, tiếng nói sẽ nhẹ đi, sự tùy thuộc của ḿnh trong thời lúc đó có thể xem là một sự lệ thuộc.
Sống trên mảnh đất nầy, chúng ta đă thấy đó đây nhan nhản sinh hoạt của những công dân toàn cầu mà không cần che đậy các chỉ dấu đặc biệt của dân tộc gốc. Chúng ta đă chấp nhận và được chấp nhận
với nhăn quan rộng mở, không thành kiến...đối với tất cả các nền văn hóa dân tộc sống chung đụng với nhau. Rào cản định kiến và hố ngăn dị biệt lần lần nhường bước cho những quan hệ nhân bản và
toàn diện hơn, trong đó phẩm cách của mọi dân tộc đều được tôn trọng. Sự thành công của Hoa kỳ trong tiến tŕnh toàn cầu hóa quả thật là do ư thức dân tộc của người Mỹ. Họ đă nhận định rất rơ
chủ nghĩa dân tộc cực đoan chỉ làm tŕ trệ đất nước, kềm hăm sự tiến bộ và ngăn chận mối liên hệ hài ḥa giữa các quốc gia trên thế giới. Và ta cũng có thể đặt câu hỏi là chính người Mỹ có thể
hiện tinh thần dân tộc đích thực của Hoa Kỳ hay không? Và
trong hệ thống tư bản hiểu theo chiều hướng toàn cầu hóa dường như đặc tính dân tộc đă lần lần nhường bước cho một thế giới gần nhau hơn, và giới hạn quốc gia chỉ c̣n là một giới hạn địa
dư mơ hồ, không cần thiết nữa.
Sắc thái Việt Nam
C̣n Việt Nam th́ sao? Từ năm 1986 trở đi Việt Nam đang mở cửa trực tiếp tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Và chỉ trong một thời gian ngắn xă hội Việt Nam đă có nhiều biến chuyển đáng ghi nhận như có một nguồn sinh khí
mới thổi vào xă hội và người dân Việt. Tuy nhiên với những hạn chế do nhu cầu sinh tử là sự bảo đảm an toàn quyền lực của chế độ, Việt Nam trong thế mở vẫn c̣n tạo ra nhiều trăn trở và khó khăn cho xă
hội. Việt Nam vẫn c̣n ḍ dẫm trong tư thế của một xă hội nông nghiệp, phát triển từ từ lên xă hội công nghiệp, để rồi đang phải chịu hụt hẫng trước thế toàn cầu hóa. Thật khó thực hiện được
một xă hội hài ḥa bao gồm các xu hướng phát triển không đồng nhất thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau.
Một lần nữa, làm sao tránh khỏi tụt hậu trước tiến tŕnh toàn cầu hóa trong lúc lănh đạo Việt Nam vẫn c̣n giữ thái độ thù nghịch, nghi kỵ với hầu hết các quốc gia trên thế giới
?
Làm sao phát triển thành một xă hội công nghiệp hóa lấy căn bản nông nghiệp làm tiêu chuẩn như trường hợp Việt Nam hiện tại?
Mở nhưng vẫn đóng. Đóng trong định kiến. Đóng trong lo sợ bị đào thải. Càng đóng lại càng có nguy cơ bị đào thải sớm hơn.
Hiện nay, người ta có cảm tưởng như những yếu tố sau đây là chính yếu trong sắc thái dân tộc của Việt Nam là: 1- Tài nguyên thiên nhiên phong phú và chưa được khai thác đúng mức; 2- Tiềm năng nhân lực dồi dào; 3- Nước nghèo,
nhân công rẻ và thừa thăi, thông minh và dễ huấn luyện tay nghề; 4- Có bàn tay sắt của nhà cầm quyền giữ ǵn trật tự và sự ổn định; 5- Thiếu luật lệ rơ ràng và tham nhũng dễ cho các phiêu lưu mậu dịch, chỉ cần liên hệ
với một số người có chức vị và có quyền lực trong đảng; 6- Đa số dân chúng sống về nghề nông với một nền công nghiệp c̣n thô sơ....
Từ những sắc thái đặc thù đó, người Việt Nam sống về huyền thoại nhiều hơn thực tiễn và huyền thoại gần đây nhất là Việt Nam lại một lần nữa “cường điệu” trong dự kiến phóng vệ tinh nhân
tạo vào năm 2008 trong khi việc sản xuất một chiếc xe đạp cho người dân vẫn chưa ḥan chỉnh!!!
Do đó, nếu muốn đuổi kịp cộng đồng các quốc gia trên thế giới,
Việt Nam cần:
·
Mở cửa để học hỏi, lựa chọn, đón nhận cái mới. Cái mới, cái chưa biết nào cũng có những hiểm nguy của nó. Sự tính toán ḍ dẫm là cần thiết, nhưng quá tính toán có khi tính già hóa non, v́ để mất thời cơ.
·
Không nên tạo thêm huyền thoại. Tập cho người dân thực tiễn hơn.
·
Không ngừng phát triển sắc thái dân tộc, cái sức mạnh bên trong (nội lực), để tự tạo cho ḿnh một thế mạnh trong sự bang giao với cộng đồng các quốc gia trên thế giới.
Muốn được như vậy, Việt Nam cần tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi dân tộc trong cộng đồng quốc gia tham gia vào cuộc sống chung, để mọi cá nhân, mọi đoàn thể đều có thể tự lập, tự sinh
sống, không ỷ lại vào sự sáng suốt hay sức mạnh của một đảng, một nhà nước hay của một cấp lănh đạo nào. Để cho mỗi người Việt Nam tự thấy ḿnh thực sự c̣n có nội lực để đóng góp tích
cực và toàn diện
trong mạch sống quốc gia.
Kêu gọi tận dụng nội lực trong nước để phát triển quốc gia mà không cho phép hay hạn chế người dân phát huy nội lực cho từng cá nhân th́ làm sao tránh khỏi cảnh tụt hậu cho đất nước được?
Xưa vua thay Trời trị nước, tất cả đều là của vua, ngay cả sinh mạng của người dân. Minh quân hay hôn quân vô đạo là sự may nhờ rủi chịu của người dân, người dân không có tiếng nói. Một thứ nô lệ sẵn sàng
chết v́ ông chủ, gọi như thế là trung.
Nay, th́ nhân danh nhân dân mà dân không có quyền tư hữu sản xuất. Tương tự như xưa, triều đ́nh suy nghĩ và dạy dân những ǵ triều đ́nh cho là tốt nhất, th́
bây giờ Đảng suy nghĩ và thông tri cho dân những ǵ cấp lănh đạo nghĩ là tốt nhất.
Đă đến lúc “chủ nghĩa nhân danh” phải cáo chung, để mỗi người dân, và theo đó mỗi dân tộc tập tành nghĩ suy và hành động theo những hiểu biết và cảm xúc của ḿnh. Phải trả lại cho dân, cho những dân tộc cái quyền
sống của họ. Không một ai sống thay cho bất cứ ai được. Phải sống thật mới lớn mạnh được. Sống nhờ, sống gửi, sống mà trí tuệ và tâm linh gửi cho nhà vua hay cấp lănh đạo, sống mà trách nhiệm nửa
vời, chờ đợi ơn mưa móc ở một minh quân, hay phép lạ của một huyền thoại trí tuệ tập thể, sống mà lúc nào cũng phải chạy theo cái ăn cái mặc, ngày ngày đói no không chừng, đau ốm không thuốc men,... Sống như vậy là
sống c̣i cọc, què quặt, bịnh hoạn và khuyết tật.
Khi người dân được trọn vẹn với cuộc sống của ḿnh. Khi đói dám nói rằng ḿnh đói, khi thất học dám nhận ḿnh thất học. Khi không c̣n sợ hăi nói cái ḿnh thật sự cảm nghĩ, nói chung khi mà kinh nghiệm được rằng ḿnh
có những quyền hạn bất khả xâm, được luật pháp và cơ quan thẩm quyền bảo vệ. Khi ấy (điều kiện cần) có nhiều khả năng con người dấn thân trọn vẹn với cộng đồng của ḿnh, làm hết sức ḿnh cho chính
ḿnh và cho cộng đồng.. Chừng ấy, đương nhiên dân giàu và theo đó nước mạnh. Người đại diện cho quốc gia, cho dân tộc nhờ vậy mà có cái thế mạnh của ḿnh trong bang giao quốc tế.
Đưa nửa triệu người làm mồi cho biển cả, giam một triệu người vào các trại cải tạo, để một triệu người tăng cường nhân lực cho các nước giàu có, (hầu hết nhân lực trên đều trong tuổi lao động,
sản xuất tốt nhất, hiệu quả nhất) là một biện pháp tốt để đổi lấy một sự yên ổn chính trị, nhưng là một biện pháp đă làm thui chột hay què quặt quốc gia.
Tương tự, thắng trận ghi công là một điều thường t́nh,
nhưng kỳ thị người tại chổ, áp dụng chính sách “tru di tam tộc” (đời cha, đời con, và đời cháu không được học quá tiểu học) của thời quân chủ chuyên chế, là đặt phân nửa đất nước ra khỏi sự
tham gia đóng góp việc chung.
Có một đảng mạnh, có kỷ luật, có những cán bộ tiên phong, có một quá tŕnh thử thách nhiều thập niên, có trên 2,8 triệu đảng viên là một điều tốt. Nhưng biến đảng ấy thành một số quan lại của một triều đ́nh
vua và chúa, đứng ngoài luật pháp, tham ô và lạm quyền, nhất nhất một chiều, là thui chột ư chí và ḷng phấn đấu vươn lên của mọi tầng lớp dân chúng. Cả nước chỉ có gần ba triệu người có quyền dám nghĩ, nhưng
chỉ một thiểu số trên đây có quyền dám nói; và trong gần ba triệu người nầy, đa số v́ miếng đỉnh chung, v́ sự tiến thân và an ninh của ḿnh và gia đ́nh đă trở thành a dua, nương thời, nương lúc, nên cũng không dám nghĩ,
không cần nghĩ và nói xuôi chiều cho khỏe thân. Chỉ c̣n lại một thiểu số ít oi, 1180 đại biểu, 160 ủy viên trung ương đảng và 14 ủy viên bộ chính trị, dầu có thông minh tuyệt đỉnh, dầu có trí tuệ tuyệt vời, th́
đương nhiên quốc gia phải èo ọt.
Kết luận
Nh́n vào các dân tộc khác trên thế giới, chúng ta không thể t́m ra một quốc gia nào có nền văn hóa hàm chứa những giá trị hoàn toàn khác biệt. V́ lư do đó, những giá trị về nhân quyền và các quyền tự do căn bản của con người trên toàn
cầu đều phải được tôn trọng triệt để. Và dĩ nhiên sẽ không có trường hợp ngoại lệ cho Việt Nam. Thật khó biện minh trước thế giới khi Việt Nam công bố:”Việt nam có những giá trị và bảo vệ nhân
quyền đặc thù theo cung cách Việt Nam. Việc áp đặt quyền làm người theo tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc là xâm phạm vào chủ quyền Việt Nam.” Với cách nh́n như trên, chính sách mở của Việt Nam vẫn c̣n dựa theo định hướng xă
hội chủ nghĩa cho nên lănh đạo Việt Nam vẫn c̣n cổ súy chủ nghĩa dân tộc cực đoan để duy tŕ quyền lực và không dám mở thực sự v́ sợ sẽ bị phô bày cho thế giới rơ những sự lạc hậu và lầm lạc của
họ trong việc phát triển quốc gia.
Từ đây, với mặc cảm tự ty đối với thế giới bên ngoài, dân tộc Việt Nam vốn dĩ đă bị dồn ép từ lâu, sẽ vùng dậy và lần lần rập khuôn theo “ngoại bang” khi được hé mở từ từ.
Từ đó tiến tŕnh chủ nghĩa dân tộc “cách ly” trước đây đă biến thành chủ nghĩa “chạy theo ngoại bang” mà chính quyền hiện tại khó kiểm soát nổi.
Từ những nhận xét trên, Việt Nam trước tiến tŕnh toàn cầu hóa, và để hy vọng thoát khỏi tụt hậu, cần phải thực hiện một chính sách mở “chân chính” chứ không thể tự ru ngủ trên những ngôn từ hoa mỹ ghi trong các kế
hoạch phát triển quốc gia không tưởng.
Do đó:
·
Toàn cầu hóa là một thực tiễn, và là một nét đặc thù của thời đại
. Đó là một quá tŕnh càng ngày càng nhanh, trừ phi có một thiên tai vô cùng lớn, như các máy điện toán bị phá vỡ, các vệ tinh ngưng hoạt động, máy bay không cất cánh, cầu lộ sụp đổ, xe cộ tàu bè không xăng nhớt...
·
Có thể quan niệm toàn cầu hóa như một salad bowl, trong đó mỗi quốc gia đều giữ những nét đặc thù của ḿnh, mỗi dân tộc đều được tôn trọng đúng mức. Đúng mức ít nhất là trong cái nghĩa tương xứng với
vị thế và giá trị tương quan của nó.
·
Trong cái salad bowl ấy, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải tự làm giàu chính ḿnh: giàu văn hóa, giàu nhân lực, giàu sản phẩm, giàu t́nh người, để có một vị thế tương xứng.
Vai tṛ của nhà lănh đạo quốc gia không là chiếm hữu quyền lực, có quyền sinh sát sinh linh, nhất hô bá ứng, mà là làm cho người người, nhà nhà tham gia vào việc làm giàu cho họ, cho gia đ́nh họ, cho dân tộc họ, và cho quốc gia họ, làm cho
quyền lợi của họ mật thiết với quyền lợi của dân tộc hay quốc gia.
·
Toàn cầu hóa sau cùng là sắc thái quốc gia, sắc thái dân tộc. Toàn cầu hóa cũng ngầm hiểu một sự quân b́nh trong mối bang giao quốc tế, cần thiết cho một hài ḥa tương đối trong giao lưu văn hóa, mậu dịch, Toàn cầu hóa cũng
khẳng định lại mối quan hệ lănh đạo – quần chúng, sao cho mọi cá thể đều có cơ hội dấn thân và sống toàn diện con người ḿnh trong cộng đồng dân tộc.
Như vậy có phải là dân chủ chăng?
Và đây, chắc chắn không phải là một dạng dân chủ tập trung, theo lối xă hội chủ nghĩa, mà là một tính dân chủ thực tiễn, trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Tóm lại, từ ngày xưa, chủ nghĩa dân tộc đă một thời thúc đẩy sự phát triển quốc gia. Nhưng ngày nay, cung cách suy nghĩ mới của phát triển đă vượt qua rào cản của ranh giới quốc gia và ngôn ngữ của các dân tộc trên
thế giới. Bây giờ và tương lai cần phải có một sự phát triển hài ḥa chung cho cả nhân loại. Tiến tŕnh toàn cầu hóa là một tiến tŕnh tự nhiên và là kết quả có được qua suốt chiều dài của lịch sử phát triển trong
tranh chấp của các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa không phải là từ bỏ bản sắc dân tộc của từng quốc gia mà là điểm hội tụ của tất cả mọi văn hóa dân tộc để đạt đến một sự phát triển
toàn diện cho nhân loại.
(Đối với chúng ta hiện đang sống tại hải ngoại, nếu có một nhận thức mới về tiến tŕnh toàn cầu hóa đang tuần tự xảy ra cho thế giới, chúng ta sẽ không c̣n cảm nhận một tâm trạng lưu vong nơi đất người.
Quê hương trong tương lai sẽ không c̣n ranh giới địa dư nữa và có chăng chỉ là những h́nh ảnh kỷ niệm một thời đă sống trên mảnh đất quen thuộc xưa cũ để hoài niệm mà thôi (h́nh ảnh một quốc gia trong
một quốc gia). Nếu
nghĩ như thế, các mặc cảm lưu vong, buồn nản, cảm thức lạc loài sẽ lần lần vơi đi, ít ra đối với thế hệ di dân thứ nhất của chúng ta. Và điều nầy sẽ mang lại cho chính chúng ta có thêm nhiều thời gian suy nghĩ
và hành động tích cực hơn trong cuộc sống.)
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết
Hội KH&KT V N (VAST)
West Covina 6/2008