Động lực
cạnh tranh tạo nên hành vi kinh doanh cũng giống động lực từ chọn lọc tư nhiên
tạo ra loài nai sừng tấm.
Theo thuyết “bàn tay vô h́nh” của Adam Smith, con người tham lam trao đổi trên
thị trường tự do v́ lợi ích của chính ḿnh, bị dẫn dắt bởi một bàn tay vô h́nh
sẽ đem lại lợi ích lớn nhất cho xă hội.
Darwin, cha đẻ thuyết tiến hóa, không
phải một nhà kinh tế. Nhưng quan điểm của ông về đấu tranh sinh tồn lại giống
Smith về bản chất. Ngày càng có nhiều lư do cho rằng quan điểm của Darwin sát
thực hơn nhiều trên lĩnh vực kinh tế.
Trọng tâm thuyết của Darwin là cạnh
tranh ưu ái cho những đặc điểm và hành vi nào giúp cá thể thành công, chứ không
phải loài hay các nhóm khác.
Theo Adam Smith, đặc điểm có lợi cho
cá nhân đôi khi cũng có lợi cho cả nhóm. Ví dụ đột biến về thị giác tinh tường ở
loài diều hâu không chỉ có lợi cho bất kỳ con diều hâu nào sở hữu nó, mà c̣n
khiến toàn bộ loài diều hâu thành công hơn.
Tuy vậy, trong một số trường hợp, các
đặc điểm có lợi cho cá thể lại có hại cho các cộng đồng lớn hơn.
Ví dụ như đột biến khiến gạc lớn hơn
có lợi cho một cá thể nai sừng tấm đực khi sinh sản, v́ nó giúp con nai này
chiếm ưu thế trước các con đực khác khi t́m kiếm bạn t́nh.
Nhưng khi đột biến này lan rộng, nó
khởi động một cuộc “chạy đua vũ trang” khiến cuộc sống của toàn bộ nai sừng tấm
đực nguy hiểm hơn. Gạc của nai đực nay đă dài tới hơn 5 foot. Và bất chấp lợi
thế khi lâm trận, chúng thường biến thành điểm yếu chết người khi bị thú săn mồi
truy đuổi trong rừng rậm.
Khi đó, theo Darwin, bàn tay vô h́nh
của Adam Smith chỉ c̣n là một trường hợp cá biệt thú vị. Cạnh tranh, chắc chắn
đôi khi hướng hành vi của cá nhân tới lợi ích của toàn xă hội. Nhưng không phải
lúc nào cũng vậy.
Lợi ích của cá nhân và cộng đồng gần
như lúc nào cũng xung đột khi phần thưởng cho cá nhân phụ thuộc vào thành tích
tương đối, như cuộc chạy đua về gạc của các con nai đực.
Trên thị trường, những cơ cấu thưởng
như thế là tương đối phổ biến, chứ không phải ngoại lệ.
Ví dụ như thu nhập của các nhà quản
lư đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào số lượng tiền họ quản lư, số tiền này lại phụ
thuộc vào thành tích tương đối của quỹ đầu tư.
Thành tích tương đối tác động tới rất
nhiều phần thưởng trong cuộc sống hiện nay. Ví dụ nó quyết định cha mẹ nào có
thể gửi con ḿnh tới các trường công tốt. V́ các trường này thường nằm ở những
khu dân cư đắt đỏ, cha mẹ nào muốn cho con tới học tại các trường này phải trả
nhiều tiền hơn để có nhà tại các khu dân cư đó.
Trong những trường hợp như thế, cơ
cấu khuyến khích làm xói ṃn bàn tay vô h́nh. Để làm quỹ của ḿnh hấp dẫn nhà
đầu tư hơn, nhà quản lư tiền tệ tạo ra các loại chứng khoán phức tạp gây ra nguy
cơ nghiêm trọng nhưng lại được ngụy trang khéo léo đối với xă hội. Nhưng khi tất
cả các nhà quản lư đều làm như vậy th́ chẳng ai c̣n lợi thế. Kết quả là lợi ích
th́ không ai được hưởng nhưng nguy cơ khủng hoảng tài chính th́ lại tăng mạnh.
Tương tự như vậy, để kiếm thêm tiền
mua nhà tại các khu vực có trường tốt, các bậc cha mẹ thường làm việc nhiều giờ
hơn và chấm nhận các công việc có nhiều rủi ro hơn. Nưng khi gia đ́nh nào cũng
làm vậy, chẳng có tác dụng ǵ trừ việc đẩy giá nhà tăng.
Nếu nai sừng tấm đực có thể bỏ phiếu
giảm kích cỡ gạc đi một nửa, chúng sẽ làm vậy, v́ chỉ có kích thước tương đối
của gạc mới có ư nghĩa. Đương nhiên, chúng không thể thông qua những quy định
kiểu như vậy.
Nhưng con người có thể. Khi chú ư tới
xung đột giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, Darwin đă nhận ra nhân tố căn bản
trong phần lớn quy định của xă hội hiện đại như cấm sử dụng chất kích thích, an
toàn lao động, số giờ làm, các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm, hàng loạt hạn chế
trong khu vực tài chính.
Sự tán dương một chiều bàn tay vô
h́nh từ các môn đồ của Adam Smith đă làm xói ṃn những nỗ lực pháp lư để dung
ḥa lợi ích của cá nhân và tập thể trong nhiều thập kỷ gần đây, gây ra tác hại
to lớn cho xă hội.
Động lực cạnh tranh tạo nên hành vi
kinh doanh cũng giống như chọn lọc tư nhiên đă tạo ra loài nai sừng tấm. Cả hai
trường hợp đều có ví dụ về dung ḥa được lợi ích chung. Nhưng không thể quả
quyết rằng lợi ích cá nhân và xă hội lúc nào cũng ḥa hợp.
Bàn tay vô h́nh
là một phép ẩn dụ, một tư tưởng kinh tế do nhà kinh tế học
Adam Smith đưa
ra vào năm 1776. Trong tác phẩm
Tài sản của các quốc gia
và những bài viết khác, Smith đă tuyên bố rằng, trong
nền kinh tế thị trường
tự do, mỗi cá nhân theo đuổi một mối quan tâm và xu hướng lợi ích riêng cho cá
nhân ḿnh, và chính các hành động của những cá nhân này lại có xu hướng thúc đẩy
nhiều hơn và củng cố lợi ích cho toàn cộng đồng thông qua một "bàn tay vô h́nh".
Ông biện luận rằng, mỗi một cá nhân đều muốn thu lợi lớn nhất cho ḿnh sẽ làm
tối đa lợi ích của cả cộng đồng, điều này giống như việc cộng toàn bộ tất cả các
lợi ích của từng
cá nhân lại.
Smith chỉ sử dụng
thuật ngữ "bàn tay vô h́nh" ba lần trong ba tác phẩm của ông. Nhưng sau này,
thuật ngữ này đă được sử dụng rộng răi trở thành một lư luận
kinh tế học.
Nội dung
Theo lư luận này, th́
hoạt động của mỗi thành viên trong
xă hội chỉ
mang mục đích bảo vệ lợi ích của riêng ḿnh; thông thường, không có chủ định
củng cố lợi ích công cộng và cũng không biết ḿnh đang củng cố lợi ích này ở mức
độ nào. Tuy nhiên khi đó, hệ thống
thị trường và
cơ chế
giá cả sẽ hoạt
động một cách tự phát v́ lợi ích của tất cả mọi người như thể có một bàn tay vô
h́nh đầy thiện ư điều khiển toàn bộ quá tŕnh xă hội và sự điều khiển tự phát
này c̣n có hiệu quả hơn cả khi có ư định làm việc này.
Thuyết của Smith
chống lại
tư tưởng của
chủ nghĩa trọng thương
(yêu cầu có sự can thiệp của
nhà nước vào
kinh tế), là mầm mống cho đ̣i hỏi được tự do kinh doanh, có sự thích hợp với
chủ nghĩa tư bản
trong một thời ḱ dài. Tuy nhiên sau này, thực tế đă cho thấy những điểm chưa
hoàn toàn hợp lư của thuyết này, và người ta vẫn phải dùng đến nhà nước là "bàn
tay hữu h́nh" thông qua
luật pháp,
thuế và các
chính sách kinh tế
để điều chỉnh nền kinh tế xă hội kết hợp với cơ chế tự điều chỉnh theo thuyết
bàn tay vô h́nh để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế xă hội của đất nước.
Lư thuyết tổng
quát về việc làm, lăi suất và tiền tệ
(tên gốc
tiếng Anh:
The General Theory of Employment, Interest, and Money) là một cuốn sách của
nhà kinh tế học nổi tiếng
người AnhJohn Maynard Keynes
(1883-1946).
Tác phẩm này thường được xem là cuốn sách gối đầu giường của các nhà kinh tế học
ở Anh và được
cho là đă đặt nền móng cho môn
kinh tế học vĩ mô
hiện đại.
Ngay từ lần xuất bản
thứ nhất vào tháng 2 năm
1936, tác phẩm
đă gây tiếng vang mạnh mẽ bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế cũng như bởi sự
quan tâm tới tính khả thi của các
chính sách kinh tế
và sự can thiệp vào
tổng cầu.
Người ta hay gọi đây là "Cuộc cách mạng của Keynes". Những tư tưởng nêu ra trong
tác phẩm này trở thành ḥn đá tảng trong
kinh tế học Keynes.
Nó phê phán
kinh tế học cổ điển
và
tân cổ điển.
Nó đưa ra các lư luận quan trọng về
hàm tiêu dùng,
về
nguyên lư số nhân,
về hiệu suất
biên của
vốn và về sự
ưa thích
tính thanh khoản.
Một số luận điểm
chính mà Keynes tŕnh bày trong cuốn Lư thuyết tổng quát gồm:
Tiền công có
tính cứng nhắc. Mức tiền công được thỏa thuận giữa chủ và thợ là
tiền công danh nghĩa
chứ không phải
tiền công thực tế
và mức tiền công này được ghi trong hợp đồng, được công đoàn và được luật
pháp bảo vệ. Do đó, mức tiền công không phải là linh hoạt như giới học thuật
kinh tế vẫn giả định. Giới chủ chỉ tăng thuê mướn lao động khi
tiền công thực tế
giảm; mà muốn thế th́ tiền công danh nghĩa phải giảm nhiều hơn mức giá chung
của nền kinh tế. Song nếu vậy, th́
cầu tiêu dùng
sẽ giảm, kéo theo tổng cầu giảm. Đến lượt nó, tổng cầu giảm lại làm tổng
doanh số
giảm,
lợi nhuận
giảm làm triệt tiêu động lực
đầu tư mở
rộng sản xuất- việc cần thiết để thoát khỏi suy thoái.
Kỳ vọng về giảm
tiền công và giá cả sẽ khiến người ta giảm chi tiêu do nghĩ rằng tiền trong túi
của ḿnh đang tăng giá trị. Cầu tiêu dùng và tổng cầu giảm. Cứ thế, ṿng xoáy đi
xuống của nền kinh tế h́nh thành.
Lăi suất giảm
không nhất thiết dẫn tới đầu tư tăng. Lăi suất giảm, nhưng tiết kiệm chưa chắc
đă giảm theo do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của giảm lăi suất triệt
tiêu lẫn nhau. Và khi tiết kiệm không giảm, th́ đầu tư không tăng. Thêm vào đó,
đầu tư cố định
là đầu tư có kế hoạch dựa vào những dự tính dài hạn; nên không v́ lăi suất giảm
mà đầu tư tăng.
Cái quy định lăi
suất, nhất là trong ngắn hạn, chính là cung và cầu về
tiền.
Lăi suất không nên
xuống thấp hơn một mức nào đó, v́ ở mức thấp đó, các nhà đầu tư không c̣n muốn
giữ
trái phiếu mà
chuyển sang giữ tiền mặt, tạo nên t́nh trạng
tiết kiệm quá mức
trong khi đầu tư lại thiếu. Cầu đầu tư giảm sẽ khiến tổng cầu giảm theo.
Thắt chặt chi tiêu
trong thời kỳ
khủng hoảng
chỉ làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng. Khi kinh tế suy thoái, chính phủ nên
đẩy mạnh chi tiêu nhằm tăng tổng cầu như một chính sách chống suy thoái. Và nói
chung, chính phủ nên tích cực sử dụng các chính sách
chống chu kỳ,
chứ đừng nên trông mong vào sự tự điều chỉnh của thị trường.