Thô thiễn lm bàn về tỉnh Ninh B́nh, cố đô Hoa Lư, Đinh, Tin Lê…

GS Tôn Thất Tŕnh

Có ông B Lĩnh h Đinh

Con quan thứ sử ở thành Hoa Lư.

Khác người tự thuở c̣n thơ

Rủ đoàn mục tử mở  cờ bông lau.

Dập d́u kẻ trước người sau…

 

         Vị trí , lảnh thổ

Ninh B́nh là một tỉnh nhỏ, ŕa phía Nam và Tây Nam Đồng bằng sông Hồng.. Tây Bắc giáp Ḥa B́nh, ( ranh giới chung dài 66 km ). Tây Nam giáp Thanh Hóa ( 79.km ), Đông và Đông Bắc giáp Nam Đinh và Hà Nam ( 84 km ), Nam là Vịnh Bắc Bộ, với chiều dài đường biển là 16.5km.

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 1387,3 km2 . Năm 1992 , khi tái lập tỉnh Ninh B́nh từ tỉnh Hà Nam Ninh, dân số chỉ có 802600 người. Dân số năm 1999  là 891 500 người. Mật độ dân cư  là 637ngừời/km2 , thưa nhất các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. Năm 2005 tăng lên  918 500 người.  Ninh B́nh là địa bàn xuất cư. Năm 1995 và năm 1996 đă vận động được gần 10 000  người đi xây dựng vùng kinh tế mới. Tuy nhiên, việc di dân ít có ư nghĩa đối với sự hạ thấp tỉ lệ tăng trưởng dân số.  V́ vậy muốn thật sự giảm mức tăng dân số, trước hết tầm quan trọng hàng đầu là giảm tỉ lệ sinh. Nhờ vận động kế hoạch hóa gia đĩnh, tỉ suất sinh đă giảm được 5.39 phần ngàn từ năm 1991 đến năm 1997. Tuy nhiên  cần đẩy mạnh  cuộc vận động  giảm tỉ lệ sinh hơn nữa, ngay cả ở  hai thị xă Ninh B́nh, Tam Điệp và huyện Hoa Lư,  những nơi có tỉ suất sinh thấp hiện nay. Đáng quan tâm  là các huyện có tỉ suất sinh từ 2.3% đến 2.5%  như Kim Sơn, Nho Quan và Yên Khánh.

Người Kinh chiếm 98.37 %  dân số toàn tinh. Phần c̣n lại  thuộc 23 tộc dân, đông nhất thuộc 2 tộc dân Thái và Mường , tập trung cư trú và sản xuất ở Nho Quan với 14 668 người, chiếm 1.63 %  dân số toàn tỉnh và 9.9 % dân số huyện.

Ninh B́nh nằm án ngữ  con đường giao thông  huyết mạch ( quốc lộ 1A ) nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc , trong đó có thủ đô Hà Nội,  với duyên hải miền Trung và Tây Nguyên , luôn  cả thành phố Sài G̣n và Đồng bằng sông Cửu Long ), liên lạc trực tiếp và ngơ giao lưu của các  tỉnh phía Nam  với vùng Tây Bắc giàu tiềm năng về tài nguyên, nhưng  thiếu nhân lực tay nghề, thiếu vốn, thiếu kỷ thuật.

Phân chia hành chánh.

Ninh Binh nguyên là đất phủ Trường Yên vào đời Lư. Thời Lê sơ chia làm hai phủ : Trường Yên và Thiên Quan.  Đời Lê Trung hưng là Thanh hoa ngoại trấn. Năm 1906  đổi là đạo Thanh B́nh. Năm 1821 đổi là đạo Ninh B́nh. Năm 1829, đổi là trấn Ninh B́nh. Năm 1831 đổi là tỉnh Ninh B́nh. Tháng 12 năm 1975, sáp nhập với tỉnh Nam  Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh. Năm 1992, Ninh B́nh được tách ra từ tỉnh Hà Nam Nịnh

Ninh B́nh có 2 thị xă , 6 huyện với 125 xă và 11 phường, thị trấn. Thị xă Ninh B́nh là tỉnh lỵ, trung tâm chánh trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh; nằm ngay trên quốc lộ 1A  và tuyến đường sắt Bắc - Nam, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Thị Xă Tam Điệp  chạy dài dọc theo quốc lộ 1A  là cửa ngơ Ninh B́nh sang thành phố Thanh Hóa. 6 huyện của tỉnh là Nho Quan , Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh và Kim Sơn. Nho Quan là huyện có diện tích lớn nhất, nhưng số dân chỉ đứng thứ hai, sau huyện Kim Sơn. Huyện có số dân ít nhất là Yên Mô. Huyện có mật độ dân cư cao nhất là Yên Khánh. 

 

Chút ít đa h́nh , thy văn, khí hu

Địa h́nh Ninh B́nh nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam , từ vùng núi Nho Quan,Tam Điệp tới miền đồng bằng Hoa Lư ,Yên Khánh rồi thấp dần  ra vùng biển Kim Sơn . Đông bằng chiếm phần lớn diện tích, c̣n vùng đồi núi chỉ khoảng 20% diện tích ṭan tỉnh . Phía Tây và Tây Bắc của tỉnh là khu vực  cacxtơ xâm thực Cúc Phượng, tiếp đó là giải đồng bằng tích tụ xâm thực  Nho Quan , kéo tới Đồng Giao - Tam Điệp.  Khu vực lớn nhất là  vùng đồng bằng tích tụ  trũng Gia Viễn . Hoa Lư và  đồng bằng tích tụ ( cao )  Yên Khánh . Vùng ven biển Kim Sơn  là đồng bằng duyên hải  được bồi tụ do sông - biển, quá tŕnh bồi tụ phát triễn mạnh mẽ, hàng năm tiến ra biển với tốc độ lớn ( 80 đến 100 m một năm) .

Sông ng̣i Ninh B́nh có lượng nước  khá dồi dào,  ḍng chảy trung b́nh đạt 30l/giây / km2. . Mạng lưới sông suối của tỉnh phân phối tương đối đều , gồm hàng chục  con sông lớn nhỏ, với tổng chiều dài khoảng 1000 km. Những con sông  chánh là sông Đáy , sông Bôi , sông Nho Quan, sông Hoàng Long, sông Đằng, sông Vác, sộng Vân . Độ sâu trung b́nh 1.0 m và và độ rộng ḷng sông trên10m.  Sông Hoàng Long và sông Đáy  là đường giao thông thủy quan trọng nhất, nối liền các vùng trong tỉnh  và mở rộng giao thông với các tỉnh xung quanh, đặc biệt với đồng bằng sông Hồng. Ngoài hệ thống sông,  Ninh B́nh c̣n có nhiều hồ đầm, cảnh quan đẹp nằm ngay chân các núi đá  vôi như đầm Cút ( Gia Viễn ) , hồ Thường Sung , hồ Đồng Liêm ( Nho Quan ), hồ Đông Thái, hồ Yên Thắng ( Yên Mô ) .

Khí hậu Ninh B́nh chia ra 2 mùa , mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau , mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 . Mùa đông có gió mùa Đông Bắc lạnh , làm cho 2- 3 tháng nhiệt độ trung b́nh xuống dưới 18 độ C . Khu vực đá vôi Cúc Phương lạnh hơn cả . , nhiệt độ  trung b́nh có tháng dưới 15 độ C. Lượng mưa trung b́nh là  1870mm, mùa mưa chiếm 86- 91 % lượng mưa cả năm,  Độ ẩm trung b́nh là 85 % . Trở ngại lớn nhất cho sản xuất là mùa mưa bảo . Năm nào mùa này cũng xảy ra úng lụt , ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải,  và sinh hoạt nhân dân, đặc  biệt ở vùng trũng Nho Quan, Gia Viễn và Hoa Lư . Ngoài úng lụt,  Ninh B́nh cũng thường xuyên  chịu ảnh hưởng một số ngày nóng nắng, khô kiểu gió Lào  vào mùa hè . 

 

          Suôi ḍng thời gian

Những trang sử không tên tuổi lịch sử Việt Nam, kể từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất cách đây  2-  3 triệu năm, cũng đă kéo dài hàng chục vạn năm, mở đầu bằng người vượn nay hóa thạch  t́m thấy trong hang động Bắc Sơn, những sơ ḱ đá cũ Núi Đọ ( Thanh Hóa ),  ở lưu vực sông Đồng Nai , cho đến những di tích thời đại đồng thau. Di tích người vượnThẩm Khuyên và Thẩm Hai ở dăy núi đá vôi theo quốc lộ số 13, từ  Lạng Sơn đi đến huyện lỵ B́nh Giả, sau 2 năm khai quật  1964- 64, t́m thấy 10 chiếc răng người hóa thạch, có  những nét đặc trưng gần với người vượn Bắc Kinh ( Sinanthropus ), cùng với nhiêu răng của đười ươi ( Pongo ), gấu tre ( Ailuropoda ), voi răng kiếm ( Stegodon )  và vượn khổng lồ ( Giganthopithecus ) v.v… , niên đại trung kỳ Pleistocene cách ngày nay chừng 300 000 năm. Đây là di cốt người vượn biết sớm nhất trên đất nước ta ( theo các giáo sư Phan huy Lê , Hà văn Tấn , Hoàng xuân Chinh,  Hà Nội năm 1989 ). Nhắc lại là châu thổ sông Hồng, mà Ninh Binh là một thành phần, chỉ mới bắt đầu lồi  từ từ ra khỏi mặt biển chừng 7000 năm nay thôi. Cũng v́ vậy, Ninh B́nh không có được nhiều di tích  văn hóa tiền sử nước ta  thuộc thời đại đồ đá  và đầu thời đại kim khí :  như văn hóa Sơn Vi công cụ đá cuội  quartzit đồi g̣ Trung du , văn hóa Ḥa B́nh-Bắc Sơn ( các nhà khảo cổ Pháp phát hiện những năm 20 thế kỷ thứ 20,  nơi tộc dân Mường , một tộc dân c̣n khá đông ở Ninh B́nh , đuợc xem là người Việt cồ, ngôn ngữ  rất gần với tiếng Việt cồ, cư trú  chánh ở núi rừng tỉnh Ḥa Bịnh.

Tiếp theo văn hóa Ḥa B́nh- Bắc Sơn là văn hóa Sông Hồng , diễn biến liên tục  từ giai đoạn Phùng Nguyên, mở đầu với những công cụ và ṿng trang sức  dá mài tinh xảo  cũng những mảnh xỉ đồng; qua giai đoạn Đồng Dậu - G̣ Mun  với những  đồ đá đẹp bên cạnh  bên cạnh một số  lượng đáng kể công cụ  sản xuất nhỏ bằng đồng;đến đỉnh cao Đông Sơn, với  sự vắng mặt  công cụ đá và sự xuất hiện  hàng loạt công cụ  vũ khí và đồ dùng bằng đồng kích thước lớn, hoa văn độc đáo, mà tiêu biểu là trống đồng, tháp đồng , ŕu xéo …  Các nhà khảo cổ học gọi là văn minh Sông Hồng  của người Việt cỗ.miền Bắc . Tương đương niên đại với văn hóa Sa Huỳnh ( niên đại xác nhận như văn minh Sông Hồng bằng  đồng vị phóng xạ C14 ) ở các tỉnh ven biển miền Trung đến miền Đông Nam Bộ. Hay văn hóa lưu vực Đồng Nai, trên các đồi đất đỏ  trung du miền Đông Nam Bộ  ven sông Đồng Nai , sông Sài G̣n, sông Vàm Cỏ.  Quá tŕnh phát triễn diễn ra từ cuối thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên  đến buổi đầu công nguyên, phản ảnh h́nh thành nhà nước đầu tiên  dân tộc ta là  nước Văn Lang của các vua Hùng.

 

        T thi đi các vua Hùng , đến thành C Loa , c đô Hoa Lư

Thời đại các vua Hùng ( Hùng Vương )  tổ tiên chúng ta đă xây dưng  một nền văn minh cao,  trước khi bị  văn ḥa Hán ( Tàu, Trung Hoa )  xâm nhập.  Khởi đầu thời đại này theo truyền thuyết, huyền thoại  cách đây  4000 năm,đă được xác định kỳ thú, theo phương pháp than phóng xạ C14.  Đặc điểm là cư dân thời đó  sống chủ yếu bằng nghề  trồng lúa nước , giống lúa hột tṛn , phần lớn là nếp .  Đă khảo cổ t́m thấy những chơ đồ xôi bằng gốm , phần nồi đựng nếp gắn liền với phần nồi đáy đựng nước . Ban đầu làm ruộng bằng cuốc đá . Đến đỉnh Đông Sơn dùng cày, lưỡi đúc bằng đồng sức kéo là trâu ḅ , gặt bằng dao đá hay đồng. Cư dân thời các vua Hùng cũng đă biết nuôi chó, gà heo, trâu,  ḅ, voi, nhưng chưa t́m thấy dấu vết của ngựa. Nghề săn bắn và đánh cá đă xuống địa vị thứ yếu.  Các nghề thủ công đa dạng  và phát đạt.  Nghề làm nông cụ đă phát triễn trước giai đoạn Đông Sơn, sau đó chuyễn thành nghề làm đồ trang sức. Nghề làm đồ động đă phát triễn cao  trong giai đoạn Đồng Dậu. Đến giai đoạn Đông Sơn, đă có những đồ đồng lớn, đẹp như thạp đồng, trống đồng. Nghề rèn và đúc sắt bắt đầu thực hiên.  Nghề gốm khá thịnh vượng, nhưng hết thời đại này, vẫn chưa có đồ sành sứ. Nghề mộc và đan lát để lại nhiều dấu vết, với nhiều kiểu đan lóng một, lóng đôi, lóng thúng, lóng nia… giống hệt ngày nay.  Con người thời đại vua Hùng đă biết làm mắm, nấu rượu làm các loại bánh như bánh chưng, bánh dầy.  Đời sống tinh thần phong phú. Để chơi nhạc , tổ tiên chúng ta thời này đă biết trống đồng lớn, trống da nhỏ, khèn ngắn, khèn dài sáo , cồng, chuông , lục lạc. .. biết nặng tượng, biết vẽ, biết khắc lên nhà, lên thuyền, lên đồ vật , lên cả ḿnh mẫy . Dần dần các cộng đồng đă nảy sinh sự phân hóa giàu nghèo. Qua những ngôi mộ Đông Sơn, sống chết cũng có thân phận khác nhau.  Bắt đầu có phân tầng xă hội. Văn hóa Đông Sơn phân bố trên một vùng rộng lớn hơn trước  đó, chứng tỏ một sự thống nhất văn hóa trên quy mô quốc gia. Thế thống nhất chính trị trong thời đại các vua Hùng đă tạo ra sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt để có thể trường tồn qua những thể thức ghê gớm,  dưới  ách thống trị ngh́n năm của người Hán sau đó .

Cổ Loa đô thi thủy lợi miền châu thổ,”Mỵ Châu - Trọng Thủy- mất nước v́ thật bụng tin người” .

Sau cuộc kháng chiến lâu dài chống nhà Tần xâm lược, bành trướng, Thục Phán lên ngôi thay vua Hùng, đổi tên nước là Âu Lạc, dời đô từ vùng Bạch Hạc - Việt Tŕ xuống vùng Cổ Loa, di chuyễn  trung tâm chính trị từ miền trung du xuống miền châu thổ, khia phá thêm  thành miền trồng lúa phát triễn cao.  Thục Phán cho xây đắp ở Cổ Loa trên bặc thềm đất cổ cuối cùng mở xuống một đồng bằng phù sa mới  một ṭa thành nổi tiếng. Một đô thị thủy lợi,   kết hợp  một quân trấn của bộ binh giỏi cung nỏ với một quân cảng của thủy binh dùng thuyền, bản sắc  quân sự thủy bộ của người Âu Lạc .Ở Cỗ Loa , khảo cổ học đă t́m thấy  hàng vạn mủi tên đồng, hàng trăm lưỡi cày đồng các loại và mấy chiếc trống đồng.Trống đồng Cổ Loa  phát hiện năm 1982,  được xếp cùng trống đồng Ngọc Lũ ,  trống đồng Hoàng Hạ thành  bộ ba trống đồng  to và đẹp nhất  trong ḍng trống đồng Đông Sơn.  Đây là ṭa thành cổ nhất và lợi hại bậc nhất  hiện biết ở nước ta. Cổ Loa là quê hương truyền thuyết  Mỵ Châu -Trọng Thủy. Triệu Đà đánh vua Thục Phán ( An Dương Vương ) ở thành Cổ Loa , mấy lần không thắng , lấy kế sai con trai là Trọng Thủy  sang làm “ con tin”  giữa hai đối phương, mượn cớ cầu hôn con gái vua Thục Phán là Mỵ Châu, ở rễ ba năm tại Cổ Loa, điều tra t́nh h́nh Cổ Loa và nội bộ Âu Lạc , rồi trốn về nước, báo vua cha xuất quân đánh chiếm Cổ Loa và Âu Lạc . Nước ta mất  vào tay giặc phương Bắc  từ đó, vào năm 179 trước công nguyên. Truyền thuyết “ thật bụng tin người , bị người làm hại “  của Mỵ Châu, đánh dấu một chặng đường bi tráng  lịch sử Việt Nam cổ đại . Sau chiến thắng vĩ đại sông Bạch Đằng năm 938 sau Công Nguyên , Cổ Loa lại trở thành  kinh đô đầu tiên của nước Việt phục hồi  quyền tự chủ, từ thế kỷ thứ 10 .( Theo Trần Quốc Vương - 1989, Hà Nội )

Cố Đô Hoa Lư, kinh đô trong 41 năm, 968-  1009, 12 năm thời nhà Đinh

Hoa Lư thi Đinh Tiên Hoàng ( 924- 979 )

Cổ Loa  hướng về  phát triễn  đồng bằng  phù sa Ninh B́nh phía  cực nam  châu thổ phù sa sông Hồng  này. Hoa Lư mới thật là một cố đô, thuộc Ninh B́nh. Năm 944,  Ngô Vương Quyền mất. Đất nước ta trải qua một thời loạn lạc , vô chánh phủ, trên 20 năm ( 944- 968 ),  sử cũ gọi là  “Loạn 12 sứ quân “. Đinh Bộ Lĩnh, sinh năm 924, nguyên quán động Hoa Lư, châu Đại Hoàng ( nay là huyện Hoa Lư ), cha là Đinh công Trứ, nha tướng của Dương Đ́nh Nghệ, giữ chức thứ sử Châu Hoan, mất sớm  Đinh Bộ Lĩnh vốn là con quan, đứng đầu một châu, thu phục nhân tâm bằng tài năng của ḿnh  và lại chiếm giữ được một vùng khe động hiểm trở, đă đứng ra đảm trách gánh vác sơn hà.  Một trong những sứ quân mạnh mẽ là Trần Lăm ( Trần Minh Công )  vùng  Bố Hải  khẩu (  cửa biển, nay là vùng thị xă Thái B́nh ) đă liên kết với ông.  Đinh Bộ Lĩnh đă dùng mưu t́nh cảm  thu phục 2 sứ quân khác  là Ngô Nhật Khánh, chiếm giữ  Đường Lâm ( nay thuộc huyện Bà V́ , ngoại thành Hà Nội)  và Ngô Xương Xí, con cháu Ngô Vương chiếm  B́nh Kiều ( Triệu Sơn , Thanh Hóa ).  Nhờ dân dân giúp sức, Đinh Bộ Lĩnh đă dùng cung kiếm, mưu lược, phá tan hai sứ quân mạnh là Đổ Cảnh Thạc chiếm vùng Đổ Đông Giang ( Thanh Oai , Hà Sơn B́nh ) , và Nguyễn Siêu  chiếm Tây Phù Liệt ( Thanh Tŕ , Hà Nội ). Các sứ quân khác như Kiều Công Hăn, Kiều Thuận, Nguyễn Thủ Tiệp , Phạm Bách Hổ …. đă bị đánh bại  ngay từ trận đầu của Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh  được suy tôn lên ngôi vua, lấy hiệu là Tiên Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy Hoa Lư làm kinh đô.  Tháng 10 năm 979, ông bị nội nhân Đổ Thích giết, thọ 56 tuổi, táng ở sơn lăng Trường Yên.

Hoa Lư thời Lê Đại Hành ( 941- 1005 )

Triều đ́nh sau khi giết Thích, tôn vệ vương Đinh Toàn, mới 6 tuổi, lên ngôi vua,  cử Lê Hoàn thập đạo tướng quân - điện tiền đô chỉ huy sứ ( tống chỉ huy quân đội Đại Cồ Việt ) làm nhiếp chính.  Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loạn, nhưng bị Lê Hoàn dẹp tan.  Sứ quân cũ, pḥ mă nhà Đinh Ngô Nhật Khánh,  bỏ trốn vào Nam,  rước vua Chiêm Thành cùng hơn ngh́n chiến thuyền  toan cướp kinh đô Hoa Lư , nhưng bị bảo d́m chết.  Lợi dụng triều đ́nh rối ren, Trung Quốc lộ ngay ư định thôn tính nước ta.  Tháng 6 năm 980,  nhà Tống họp quân bốn mặt, theo hai đường thủy bộ rắp tâm  cướp nước ta. Thái hậu Dương Vân Nga, cử Lê Ḥàn chọn tướng.  Đại tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh khác đồng thanh tôn Lê Hoàn làm vua ( Lê Đại Hành ).  Mùa xuân năm 981, ông đă đem chiến thắng trở về,  tái tạo một Bạch Đằng, sáng tạo một Chi Lăng lịch sử, thắng lớn trên cả hai mặt thủy bộ,: thủy của tướng Lưu Trừng gần sông Bách Đằng;  bộ giết tướng Tống đầu sỏ Hầu Nhân Bảo ở ngă Ôn Châu, tiêu diệt quá nữa quân Tống, bắt vô số tù. Khiến Vua Tống phải xuống chiếu lui quân. Đại thắng mùa xuân 981, c̣n lớn hơn cả chiến thắng trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền  phá quân Nam Hán, giết Hoằng Tháo, và  mở đầu kỷ nguyên Đại Việt, một dân tộc phục hưng sau hơn ngàn năm Bắc thuộc, bách thắng bọn xâm lược Phương Bắc.

Nhờ một phần tư thế kỷ đứng đầu đất nước, Lê Hoàn là người công đầu Nam Tiến, dù   răng vua Tống Thái Tông, Trung Quốc , quyết tâm ngăn cản  Đại Cồ Việt, không cho đánh Chiêm Thành, Chămpa. Năm  982, sau khi thắng quân Tống xâm lăng,  vua Lê Đại Hành cất đại quân  chinh phạt Chiêm Thành , chém chết trận tiền vua Chiêm Tùy Mi Thuế ( Paramec vara Varman ), tiến phá thành b́nh địa kinh  đô Chiêm Đồng Dương- Indrapura , Quảng Nam, chia quân  đánh các nơi xung yếu Chiêm Thành đến tận thành Vijaya - Đồ ( Chà ) Bàn tỉnh B́nh Định , lưu lại một đạo quân trú pḥng chiếm đóng phần phía Bắc  nước Chiêm Thành, từ Hoành Sơn đến mũi Đèo Cả - Cap Varella. Năm 992, vua Tiền Lê lại sai Phụ Quốc Ngô Tử An đem 30 000 người mở đường bộ từ cửa Nam Giới ( Cửa Sót, tỉnh Hà Tĩnh ) vượt Đèo Ngang  và  xuyên suốt châu Bố Chính  đến thẳng châu Địa Lư ( miền giữa tỉnh Quảng B́nh ), 77 năm trước khi Chế Cũ  dâng 3 châu , Bố Chính,  Địa Lư và Ma Linh, năm 1069 đời vua Lư Thánh Tôn .         

Tam Điệp chiến tuyến pḥng thủ quân bộ, cho đại thắng Thăng Long năm 1789

Từ xa xưa , đường thiên lư qua Tam Điệp vẫn là trục đường lớn chủ yếu quan trọng nhất nối liền Nam Bắc , chạy thẳng từ Thăng Long vào Thanh Hóa. Con đường độc đạo này phải qua đèo Tam Điệp c̣n gọi là đèo Ba Dội , nữ sĩ Hồn Xuân Hương đă khen :

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo…

Nh́n tù xa mạch núi khép kín dần như cái miệng, Ngô Th́ Sĩ đă coi là “ miệng đó  của Trời chặn lấy cửa ải Cửu Chân “ .  Địa h́nh đặc sắc Tam Điệp có giá trị như bức thành  ngăn cách Giao Chỉ và Cửu Chân. Ở đời Lư, Trần, đây là địa đầu của lộ Trường Yên ngăn cách với đất Ái Châu hay làm ranh giới  phân Thanh Hoa nội và Thanh Hoa ngoại.  Cuối năm 1788, 290 000 quân Thanh tràn vào xâm lược nước ta.  Quân Tây Sơn lúc bấy giờ chỉ  có 10 000 quân  đồn trú ở Thăng Long và Bắc Hà. Trước lực lượng quá chênh lệch , Ngô Th́ Nhậm chủ trương rút quân về  lập pḥng tuyến  Tam Điệp - Biện Sơn.  Quân thủy đóng đồn tại hải phận Biện Sơn ( Thanh Hóa ). Chuẩn bị sẳn địa bàn mai phục  cho đại quân. Ngày 20 tháng chạp, đại quân Quang Trung từ Phú Xuân ra đến Tam Điệp , cho quân lính ăn Tết Nguyên Đán trước ngày. Rồi  ngày năm tháng giêng năm kỷ dậu ( 30- 1- 1789 ), quân Tây Sơn  kéo  về đại phá quân Thanh Thăng Long, kết thúc thắng lợi  cuộc tiến công  thần tốc, làm sáng măi tên Tam Điệp - Ninh B́nh

 

Phần II:  phát trin Ninh B́nh :

Tổ chức ngành du lịch chưa xứng đáng với danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử 

         “Hạ Long cạn” núi đá vôi và hang động cácxtơ nhiệt đới
  Tuy vùng đồi núi Ninh B́nh chiếm khoảng 20% diện tich tự nhiên toàn tỉnh, nhưng địa mạo theo dạng địa h́nh cacxtơ - relief karstique  đặc trưng , độc đáo của Ninh B́nh  có ư nghĩa to lớn về  kinh tế , du lịch . Độc đáo nhất là khu vực cố đô Hoa Lư và Tam Cốc - Bích Động .  Nhiều người cho rằng  kiểu cácxtơ Ninh B́nh là  cácxtơ vịnh Hạ Long hay “Hạ Long trên cạn “, trưóc đây là một vịnh biển nông, như Hạ Long ngày nay. Hạ Long trên cạn gồm hàng trăm ḥn đảo xinh xắn với đầy đủ h́nh dạng đặc sắc, rải rác trong một vùng đồng chiêm trũng. Chân các núi đá vôi  có nhiều hàm ếch và  hang động ngập nước , vết tích hoạt động mài ṃn  của biển trước đây như khối núi đá vôi Thiên Tôn ( Ninh Mỹ )  và các núi đá vôi  ven đường 12 B  từ Cầu Đế đến  thị trấn Nho Quan. Địa h́nh cacxtơ Ninh B́nh là  đặc trưng cácxtơ  nhiệr đới  gồm dạng ṿm, dạng tháp ( Núi Tṛn, Núi Ông Trạng - Trường Yên ), dạng đồi  ( Gia Sinh , Sơn Lai ), dạng xiêng( Hoa Lư , Tam Cốc - Bích Động ), dạng phểu, dạng cánh đồng cácxtơ ( xă Ninh Ḥa, Ninh Nhất , Ninh Tiến - Hoa Lư ) …Đặc biệt trong hang động cácxtơ có nhiều bồi tụ vú đá - thạch nhủ tạo cảnh đẹp huyền ảo nổi tiếng như Bích Động, Thiên Động, động Hoa Lư, Hang Dơi ( Hoa Lư ), Địch Lộng, động Người Xưa, động Trăng Khuyết ở rừng Cúc Phương …

 

Danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử

     Cố đô Hoa Lư, một kiến trúc đặc biệt nước  nhà ( phỏng theo  kiến trúc sư Đoàn Đức Thành, Hà Nội 1989 )

Đáng kể ở Ninh B́nh  là cố đô Hoa Lư. Hoa Lư  được Đinh Tiên Ḥang chọn làm kinh đô nước Đại Cồ Việt, thuộc xă Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách Hà Nội 100 km, là một di tích lịch sử lớn, có thành cổ, cung điện , đền ,chùa, lăng vua và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng  có sông ng̣i, núi non, hang động. Thành Hoa Lư nằm trong thung lũng bằng phẳng, rộng chừng 300 ha, ba mặt có vách núi đá vôi  của dăy Tràng An bao bọc. Mặt Tây Bắc thưa núi hơn, có ḍng sông Hoàng Long án ngữ . Những đoạn trống không có núi, được  chắn bằng trường thành nhân tạo  nối từ chân núi này đến chân núi kia.  Đoạn dài nhất 500m, đoạn ngắn nhất 65m, cao ngót 10m, rộng khoảng 15m. Các nhà khảo cổ đă t́m thấy những viên gạch xây thành  có khắc nổi h́nh phựợng vờn,  bướm hoa sen  và ḍng chữ “ Đại Việt quốc quân thành chuyên “ và “Giang Tây  quân “ niên đại thế kỷ 10- 11. Hai ṿng thành không lồng vào nhau mà ở cạnh nhau, liên hệ qua một ngách núi ở giữa là Quền Vơng. Thành Ngoại ở phía Đông rộng chừng 150 ha , nơi xây dựng cung điện nhà vua, nay thuộc làng Yên Thành. Vua Đinh Tiên Hoàng đă dựng cột cờ ở cung điện Thành Ngoại. Thành Nội ở phía Tây, nơi hoàng gia sinh sống, nơi  dạy dỗ và bảo vệ trẻ em. Hinh như cung điện nhà vua hinh chữ Vương , như Dinh Độc Lập nay là Dinh Thống Nhất ở Sài G̣n vậy ( theo kiến trúc sư Ngô Viêt Thụ ?, người họa kiểu dinh, thay cho dinh Toàn quyền, dinh Norodom cũ ?).

Theo thư tịch cỗ th́ sau 41 năm dưới triều nhà Đinh và nhà Tiền Lê ở kinh đô Hoa Lư  có nhiều cung điện lầu gác, đ́nh tạ. Chính vua Lê Đại Hành mới xây dựng nhiều cung điện và làm cho Hoa Lư  đẹp đẽ thêm, lộng lẫy thêm. Đẹp nhất là cung điện Bách Bảo Thiên Tuế, dát vàng, dát bạc nguy nga lộng lầy. Tiếc rằng thời gian đă hủy hoại tất cả. Nhưng sau hơn 1 ngàn năm,  có lẽ chúng ta nên tim cách tái tạo những đặc sắc kiến trúc , xây dựng  Thành Nội, Thành Ngoại, Thành Nam cố đô Hoa Lư, như đă làm ở Huế, Hà Nội ?

  Sau khi lên ngôi,  Lư Công Uẩn xuống chiếu dời đô, năm 1010, về Thăng Long ( Hà Nội ngày nay ). Dân chúng đă dựng lên ở Hoa Lư, trên nền cũ cung điện, hai ngôi đền thờ  vua Đinh và vua Lê.  Đền vua Đinh ở làng  Yên Trung, c̣n gọi là đền Thượng cách đền Hạ,  đền vua Lê ở làng Yên Hạ, 500m.  Cả hai đền đều bố cục theo kiểu “ Nội công , ngoại quốc “ , công tŕnh bố trí qua đường  thần đạo.  Đền thờ có nhà bái đường,  thiên hương ( thờ các quan ) và chánh cung ( nơi có tượng vua Đinh Tiên Hoàng ). Bên trái tượng này  là  con cả vua Đinh Liễn,  bên mặt là  các tượng Đinh Hạng Vương và Đinh Toàn. Mỗi bên bàn thờ đều  có h́nh  rồng bằng đá, tương tự  các h́nh rồng long sàng .  Ngoài ra c̣n có nhà Khải Thánh ( thờ cha mẹ vua Đinh ), vọng lâu Ngọ Môn ( sau cổng vào này, có h́nh con Nghê đứng canh hai bên một long sàng, giường vua  ngũ bằng đá ) , trụ cổng, sân rồng, hồ sen,  vườn cảnh, bể cạn, núi giả … Đền vua Lê cũng tương tự, nhưng quy mô nhỏ hơn, có bái đường, Thiên Hương và bàn thờ vua Lê.  Ở giữa là tượng Lê Đại Hành, bên trái là hoàng hậu Dương Vân Ngà, bên mặt là  Lê Ngọa Triều. Từ đền vua Đinh, lần theo bậc đá lên đỉnh núi Yên Ngựa ở gần đó, là lăng vua Đinh, khiêm nhường, giản dị. Dưới  chân núi Yên Ngựa về phía Nam có lăng vua Lê.

 Sông núi Hoa Lư là một danh lam thắng cảnh, gắn truyền thuyết vua Đinh, vua Lê. Trên đỉnh Yên Ngựa, nh́n sang bên kia sông Hoàng Long là thôn Kim Lư, nơi Đinh Bộ Lĩnh ra đời. Nơi đây có Thung Lá, Thung Lau đă từng chứng kiến “ ông vua mục đồng “ phất cờ lau tập trận, mổ trâu khao quân. Mơm đá Ghềnh Tháp bên con ng̣i Sào Khê  đă in đậm h́nh ảnh Đinh Bộ Lĩnh đứng duyệt thủy quân thuở nào. Về hướng nào cũng  có thể chiêm ngưỡng  những hang động và cảnh đẹp. Làng Yên Hạ có am Tiêm Động ở lưng chừng núi, bên trong có thạch nhủ h́nh cây tiền, cây lúa óng ánh và hang rồng sâu thẳm.     

 

            Bích Động - Tam Cốc

            Năm 1773 , Nguyễn Nghiêm, cha của nhà đại thi hào Nguyễn Du, thăm viếng hang động thuộc dăy núi Ngũ Nhạc, đă đặt tên hang động này là Bích Động, động Ngọc bích Xanh biếc.Bích Động đă được nhiều nhà vua xem là hang động đẹp thứ hai, sau hang động Hương Tích, có thể trụt xuống hàng thứ ba  (? ) sau khi khám phá nhiều hang động  mới dài, rộng hơn ở vùng Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng B́nh. Chùa Bích Động, tỉnh Ninh B́nh, cũng được xem là chùa đẹp thứ hai ở Việt Nam, sau chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Chùa cách thị xă Ninh B́nh 11 km, có thể đến bằng đ̣ hay xe ô tô. Chùa này  chia ra làm ba mức : Chùa Hạ, Chùa Trung cà Chùa Thượng xen trong sườn núi.   Từ Chùa Thượng,  nh́n phong cảnh tuyệt vời, thơ mộng  trên phương diện kiến trúc và lịch sử núi đồi, sông suối  vùng Hoa Lư. Vị trí chùa Bích Động được hai nhà sư lựa chọn năm 1428 , mến cảnh sông núi vùng này . Sau đó vào thế kỷ thứ 18, vua Lê Cảnh Hưng  đă viết một bài thơ ca tụng  phong cảnh chùa Bich Động và gọi chùa này là thắng cảnh thứ hai, sau chùa Hương.

            Viếng Bích Động th́ không thể bỏ qua động Tam Cốc, cách chùa  2 km  và cách bến Văn Lâm 3km.  Tam Cốc là ba hang động: Hang Cả, Hang Hai và Hang Ba, ở làng Ninh Hải , huyện Hoa Lư. Ngă vào duy nhất vào ba hang là đi đ̣ sông, mất ba tiếng đồng hồ  từ Đ́nh Các ở bến  Văn Lâm. Sau khi rời đường bộ,  hàng trăm đ̣ nhỏ chờ đợi đón mời du khách  vào ba hang Tam Cốc. Đi đ̣ th́ du khách  sẽ bị  cảnh đẹp  thiên nhiền núi đá to lớn dọc theo sông và rải rác những cánh đồng lúa xanh tươi thơ mộng, quyến rũ. .. Sáng tinh sương phong cảnh  mù dày dặc  bao phủ, khiến du khách không phân biệt đó là Hạ giới hay Tiên cảnh. Nếu cũng là buổi sáng từ Văn Lâm, du khách sẽ đến Hang Cả;  nơi đây  một cầu ṿng trên nước chào mừng khi mặt trời lên cao  trên Hang Múa,  đẫy du khách  ra khỏi thực tế , lạc vào mộng ảo Hư Vô.  Núi đá vôi đă bị nước biển mài ṃn, tạo ra một loạt hang động  ở vùng này.  Khi nước biển rút đi, th́ c̣n lại hang động. Nước mưa  giúp bào láng hang động và biến sông ng̣i thành  sông ngầm. Hang Cả  dài 127 m dưới  núi lớn, trải dài hai bên sông Ngô Đồng. Khi chạm núi, sông xuyên qua hang động. Hang im lặng như tờ, chỉ c̣n nghe tiếng chèo khua. Đ̣ ra khỏi hang, du khách sẽ ngac nhiên  thấy tuồng như một ngư phủ già râu bạc  ngồi đánh cá. Trên trời cao. mây lững thửng bay. Thiên nhiên hoàn tất  bằng vài nông phu thu lượm củi  và vài con dê trắng  gặm cỏ trên đồi. Sau đó sẽ đến gần Hang Hai, ,cũng đẹp như vùng Hang Cả . Nước  sông không chút gợn sóng nào, phản chiếu chi tiết hoa, cây, đá, dọc  bờ sông trên trời xanh ngắt, mây trắng lưng lờ bay qua. Hang Hai cũng đầy nước và mây bay. Cách  đó 100m là Hang Ba, lạnh nhất, v́ thấp nhất. Điểm hút dẫn ở đây là  ánh sáng thiên nhiên  trong hang do nước phản chiếu. Những tảng đá lớn, bằng phẳng  ngay ở ḍng sông  cũng thể làm bàn dựa cho ai muốn tắm sông. Truyền thuyết  gọi ḍng sông là Suối Tiên, v́ đă có lân bầy tiên xuống tắm. Thật hay ảo, tắm nơi vùng hoang dă, kềm theo tiếng động rừng sâu và hương thơm hoa đồng cỏ nội là một kỷ niệm khó quên.  Cả ba hang đều có thạch nhũ đa dạng, đa h́nh óng ánh như châu báu.

 

Tam Điệp , một khu di tích lịch sử

 Tam Điệp nay là một thị xă tỉnh Ninh B́nh. Ngoài việc đóng vai tṛ chiến tuyến pḥng thủ, Tam Điệp  c̣n là thắng cảnh di tích, đă đi vào lịch sử và thơ văn. Đây là  nơi dăy núi đá vôi xen lẫn  các đồi đất chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, ranh giới  hai tinh  Ninh B́nh và Thanh Hóa.  Địa h́nh và cảnh trí thiên nhiên, đa dạng, hùng vĩ, khép kín, tạo ra ṿng cung  khu rừng nguyên thủy Cúc Phương với những núi đá vôi  muôn h́nh muôn vẻ, vách dựng đứng , những đồi đất hiền lành  chen giữa những thung lũng bằng phẳng, những ḍng suối uốn quanh. Trà Tu, Tam Giao là những hang động đẹp nổi tiếng của Tam Điệp.  Đại Nam Nhất thống Chí mô tả : “ mạch núi từ huyện Thạch Thành kéo đến liên tiếp  chạy ngang suốt cả bải biển “.  Phan huy Chú ( Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí ) nh́n địa thế Tam Điệp “ núi cao nhất, cỏ xanh tốt, đứng trên đỉnh núi thấy biển cả. Núi ở chung quanh, đường đi ở giữa,  trông về hai bên tả hửu, núi như chậu úp một,  chỗ gần hết núi th́ hai bên như bức vách  đứng thẳng lên.. . “  Từ lâu Tam Điệp đă xuất  hiện  trong thơ văn Lê HửuTrác, Ngô Th́ Sĩ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Thiệu Trị, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến.  Ngô Th́ Sĩ, khi qua Tam Điệp, đă tức cảnh bài thơ chữ Hán, so sánh  với thói nham hiểm của ḷng người, tạm dịch:

              Núi non sừng sửng,  cây im hơi

               Đường đá cheo leo lên được thôi.

             Duy chốn gập ghềnh không thể biết

              Dầu hơn cơi thế với ḷng người.

 Nguyễn Du cũng có bài thơ Tái Du Tam Điệp , tạm dịch :

            Chạm mây núi Ba Dội

            Bên trời, khách lại qua

            Mắt đưa, trùm bốn cơi

 Ngoài khơi chiếc thuyền xa.

Sương tan, đồi núi trọc,

Trời lạnh , cây cỏ già .

Bồn chồn khách ngoảnh lại,

Càng thêm nhớ quê nhà.

 

Công viên quốc gia , rừng nguyên thủy Cúc Phương ( phỏng theo Trần Tuyền , Hà Nội,  1989 )

 Diện tích  25 000 ha này tuy trực thuộc tỉnh Ninh B́nh, nhưng nằm gối trên địa phận ba tỉnh là Ḥa B́nh, Ninh B́nh và Thanh Hóa. Cúc Phương, cách Hà Nội 140 km về phía Tây Nam, cách Biển Đông 60 km, là một khu bảo tồn thiên nhiên, không phải chỉ riêng cho Việt Nam mà cho cả thế giới  nữa. Rừng nguyên thủy  nhiệt đới trên đá vôi Cúc Phương, chủ yếu là rừng mưa  luôn luôn xanh ( vạn niên thanh ), rừng rụng lá chiếm tỉ lệ nhỏ,  được phát hiện năm 1960 và trở thành công viên quốc gia hai năm sau.  Rừng mưa nhiệt đới điển h́nh  có cấu trúc thực vật 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ. Công viên gồm  hơn 2000 loài - species thực vật ( cây cỏ ) trong số trên 16000 loài thực vật rừng kiểm kê,  định danh ở Việt Nam và 262 loài động vật,  chim chóc và ḅ sát, 20 bộ côn trùng mà bướm là bộ đặc sắc nhất.  Bướm địa phương hay bướm lạ bay về , nhiều đàn khổng lồ , sặc sở đủ màu bay lượn trong nắng; nhiều loài mang tên  thơ mộng như bướm Nàng Tiên , bướm  Phượng Hoàng , hoa văn cánh làm say mê nhà sưu tập. Tưởng cũng nên nhắc lại bộ sưu tập bướm Đông Pháp, thời bộ nông nghiệp  c̣n dưới tên là Tổng Thanh tra Canh Nông, đă vang danh thế giới một thời.  

   Bộ sưu tập thực vật  vừa có những  tên gọi quen thuộc nước ta như kim giao , cḥ, gie, dẽ, mun, cẩm hương, sấu, táu, gụ, đinh …  nhiều loài  cổ thụ lạ, hiếm,  gỗ qúy như  nghiến Burretiodendron hsienmu,  hoàng đàn Cupressus torulosa… ;  vừa qui tụ một luồng thực vật di thực  từ vùng nhiệt đới khô Ấn độ - Miến Điện đến sinh cơ lập nghiệp ở đây, như những cây thuộc họ Bàng Combretaceae : cḥ  xanh, cḥ nhai; họ Gạo  Bombacaceae , rụng lá mùa khô.  Leo lên sườn núi, luồn lơi qua những ngách đá lô nhô ta bắt gặp cây cḥ cao hơn 50 m,  sừng sững ngút trời xanh, gốc rộng  16 người ôm mới xuể. Cḥ chỉ tên khoa học là Parashorea chinensis  ( cḥ chỉ Trung Quốc ), c̣n cao hơn nữa,  đến 70m, thân lớn  dựng đứng đến 60 m ( thân đứng này có lẽ cao hơn cả cây sao đen Hopea odorata,  thân thuộc các rừng quanh Sài G̣n  hay trang điểm vài đường phố Sài G̣n  trước đây và có khi c̣n gặp ở rừng Hà Giang, Tuyên Quang hay  Lâm Đồng ), x̣e tàn lá một vùng, cũng đến tuổi 1000 năm, thuộc họ cây dầu Dipterocarpaceae , đặc điểm rừng mưa ẩm nhiệt đới Mă lai - Inđônêxia.  Cây kim giao, bên đường ṃn  thân gốc xù x́  cỗ kính. Kim giao tên khoa học là  Podocarpus neriifolius, c̣n gọi là thông tre, kim giao trước ( Trúc )  đào - faux pemou, đôi khi có thể gặp ở rừng Yên Bái, Vinh Phú, Đà Lạt - Bảo Lộc. Đủa gỗ kim giao cũng như đủa gỗ mun, theo truyền thuyết có thể phát hiện thức ăn nhiễm độc ( ? ) . C̣n cây gù hương Hopea  mollissima c̣n gọi là  sao mềm, sao mặt quỷ, gù táu,  hoa đo đỏ  bao phủ  một vùng thơm ngát  hương đưa.  Cây sấu ( tía )  hay long cóc  Dracuntomelon duperreanum , thân bạnh ra , xù x́ như thành quách rêu phong, ṿng gốc 60m, ngang tuổi cây cḥ.  Có lẽ không nên quên trên 50 loài phong lan  quư hiếm, màu sắc  kỳ lạ,  treo  trên cành cao như  những chùm đèn sáng một góc rừng.  Có loài phong lan Cúc Phương hoa nở bốn mùa.             

Cúc Phương  có 255 loại động vật có xương sống, trong số này chim chiếm 140 loài, thú 64 loài, ḅ sát 36 loài, lưỡng thể 17 loài  và một số loài cá.  Động vật quư hiếm gồm có  cá niếc hang, hươu sao, cheo cheo, khỉ vàng,  vẹt “ quần đùi “, chồn,  trăng gấm, báo gấm, gấu ngựa, sơn dương, tắc kè, khỉ, phượng hoàng đất, gà lôi, chim trĩ, công, cu li, heo rừng, hồ cáo .., và đặc biệt hai loài rất hiếm trên thế giới là  sóc bay bộ cánh là làn da mỏng căng ở bốn chân và thằn lằn bay màu xanh mướt cánh như sóc bay, khiến  du khách tưởng lầm là chiếc lá liệng từ những rừng cây rậm rạp la đà  giữa từng không. Trăn gấm, báo gấm  là những thú dữ c̣n rất ít  ở vùng Đông Nam Á.

Cúc Phương c̣n mang trong ḷng  cả suối nước nóng. Nước Suối Thường Xung nóng trên 37 độ C. Cúc Phương c̣n  giữ nguyên những di chỉ hoang sơ đất nước, hang động  kỳ thú  nhủ thạch  huyền ảo, thần thoại: động Trăng Khuyết, động Vui Xuân, động Chua, động Thành Minh, động Con Moong…  Đường vào động Người Xưa ( hang Đăn )  ṿng vèo , cheo leo .  Leo cao 223 bậc thang, đến nơi gặp gió hun hút, tạo dựng không gian sinh sống  của người thời cỗ đồ đá. Du khách c̣n có thể nghe kể sự tích Quèn Voi , nơi vua Quang Trung cùng binh sĩ và đàn voi  nghỉ chân.  Vết chân voi c̣n như in dấu một thời chinh chiến trên thảm cỏ, trên bờ khe.    

 

Thắng cảnh Cánh Diều  hay Ngọc Mỹ Nhân - Phát Diệm

Là một dăy núi huyền thoại phía Tây tỉnh lỵ Ninh B́nh, cách Hà Nội 90 km về phía Nam . Truyền thuyết là hiện thân của danh tướng phù thủy Cao Biền, nhà Đường. Người ta thường thấy ông  bay như một cánh diều, do thám và phá hoại  phong cảnh đẹp đẻ nước ta. Ông bị  một ẩn si Lảo giáo tài năng bắn hạ và các cánh  rơi rụng trong dăy núi, nên dăy núi này mới có tên là Cánh Diều.  Thât ra dăy núi gồm ba đỉnh, đỉnh cao nhất nằm giữa  hai bên dăn ra hai đỉnh khác như cánh diều hâu.  Nhà bác học Lê Qúy Đôn ( 1726- 1784 ), quê ở Thái B́nh kế cận,  đă  khắc một bài thơ ở vách phía Đông, ghi những đặc điểm phong cảnh dăy Cánh Diều. Năm 1821, vua Minh Mang  thăm viếng Bắc Hà đă  dừng nơi đây và cũng đă ghi khắc ở vách chênh lênh phía Bắc,  xem phong cảnh núi như thể một bức tranh, vua cúi đầu  nh́n xuống rủ “ bụi đời, phong sương “. Về lại Huế, Vua Minh Mạng đă nghĩ đến lao lực phong sương nông nghiệp vùng Ninh B́nh -Thái B́nh,  nghĩ ra kế hoạch Dinh điền và giao phó công tác thực hiện cho Nguyễn Công Trứ. Cũng có  truyền thuyết  cho rằng Nguyễn Công Trứ  đă lựa chọn một khu đông dân cư  đặt tên là Phát Diệm, nơi phát ra Người Đẹp; v́ “ khám phá “ ra một mỹ nhân trẻ tuổi, ngực trần, nằm trải  lưng dài  suốt dăy núi, mắt ngước nh́n trời cao vô tận, như đóng dây chuyền cả thân h́nh vào dăy núi. V́ vậy núi Cánh Diều c̣n có tên là Ngọc Mỹ Nhân, mặt đẹp mỹ nhân hướng về Biển Đông, ở vùng Dinh điền Kim Sơn, nơi phát ra diện mạo đẹp đẽ  Ngọc Mỹ Nhân ( Phát Diệm )

 

 Hai xây dựng thờ phụng  tôn giáo nguy nga tỉnh Ninh B́nh.

Chùa Bải Dinh (? ) đang xây cất có là chùa lớn nhất Việt Nam không ?

Ngoài các chùa Bích Động, Nhất Tự ở cố đô Hoa Lư…   cũng nên viếng Chùa Cần Linh, chùa Bành Long , và  nhất là chùa Bái Dinh tại làng Gia Sinh, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh B́nh. Chùa đang xây cất,  hy vọng sẽ hoàn tất vào năm 2010, kỷ niệm  một ngàn năm ngày dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Hà Nội. Tuy chỉ mới làm phân nữa chùa vào giữa tháng 9 năm 2009, mà đă có  rất nhiều khách thập phương thăm viếng mỗi ngày, dưới dàn giáo 500 thợ nề làm việc ngày đêm. Một điện thờ trong chùa chứa một tượng Phật bằng đồng  nặng 100 tấn, có lẽ là tượng phật đồng lớn nhất  Đông Nam Á. C̣n các đền khác  chứa ba  tượng Phật cũng bằng đồng, nhưng chỉ nặng 50 tấn. Cả 4 tượng  đều do những nghệ sĩ danh tiếng tỉnh Nam Định đúc, từ đồng nước  Nga chế tạo.  Chùa cũng  c̣n có  thêm hai chuông đồng thau, nặng  27 và 36 tấn  cũng do nghệ sĩ tài ba ở Huế đúc  ra. Chuông 27 tấn đă được chuyễn đến  hai năm trước và đă đặt trên đỉnh núi. Chuông 36 tấn, cao 5.4 m,  là chuông lớn nhất Đông Nam Á ( ? ). Ở một  cảnh đồi khác, chùa đặt  200 tượng phật la hán - arhats, mỗi tựợng cao 2m. 300 tượng la hán khác sẽ được chuyễn đến cuối năm nay. Khi hoàn tất, chùa núi  Bải Dinh sẽ là chùa chứa nhiều tượng la hán nhất vùng. Một đặc điểm khác của chùa là có thêm hai  đền thờ khổng lồ, cạnh núi  cao 200 m. Hinh như ngày mồng 6 tháng 6  năm 2009, Phật Ngọc Buddha Saririkaidhatu, từ chùa Giác Quan - Sài G̣n, sau khi đến chùa  Quán sứ Hà Nội, đă đến  chùa Bải Dinh  để cho hơn 10 000 tín đồ  sùng  bái, chiêm ngưỡng và 1000 nhà sư ngày đêm tụng niệm.  

 

Nhà thờ Phát Diệm đă hoàn toàn trùng tu

       Nhà thờ Phát Diệm cách Hà Nội  130 km về phía Nam  và cách  tỉnh lỵ Ninh B́nh 28 km về phía Đông Nam. Xây dựng từ năm 1875 đến năm 1899, là một mạng lưới ao, hồ, nhà thờ và các động nhân tạo.  Nhà thờ Phượng Đ́nh, một thành phần cơ sở Phát Diệm khổng lồ hoàn toàn  bằng đá.  Rất nhiều chạm trỗ trên đá tường trong và tường ngoài. Tháp chuông chứa một chuông to lớn, đúc vào thập niên 1890, nặng gần 2 tấn. Năm 1891,  nhà thờ  Phát Diệm có 4 mái  và sáu hàng cột gỗ lim cứng như sắt thép.  Hai bên nhà thờ  lớn là  bốn nhà thờ nhỏ, diện mạo khác nhau.  Ở cuối gốc Bắc  là ba hang động bằng đá.  Hang động đẹp nhất là  hang động Đức Mẹ Lộ Đức. Nhà thờ Phát Diệm là Trung Tâm Thiên Chúa Giáo  Cơ Đốc Bắc Việt. Nhà thờ không mấy thay đổi,  kể từ khi nhà văn Graham Greene  mô tả ; … những cột làm bằng chỉ một cây  lim và  công tŕnh sơn mài đỏ  ở các bàn thờ  trông có vẽ là Phật Giáo hơn là Thiên Chúa Giáo,  trong cuốn truyện cổ điển xuất bản năm 1955  “ Người Mỹ Thầm Lặng - The Quiet American “. Thật tế, với mái  nhà  uốn cong, đa tầng và 48 cột gỗ lim ( cột lớn nhất nặng 7 tấn ), Phát Diệm  khác hẳn các nhà thờ lớn Âu Châu . Vài thiên thần đá khắc nổi, vươn  lên trên các con rồng  điêu khắc và chuông hai tấn của nhà thờ lại kèm theo một  cồng ( chiêng ) đồng thau  khổng lồ. Ở khu bao quanh nhà thờ đá và gỗ lim,  trên những cánh đồng lúa,  rải rác nhiều nhà thờ đá nhỏ hơn.  Dị biệt với nhà thờ nhỏ do  các người Âu  xây cất, nhà thờ lớn Phát Diệm do Cha Sáu, người Việt họa kiểu từ năm  1875 đến năm 1899, như đă nói trên . Cha Sáu đă hô hào dân địa phương góp công xây cất nhà thờ lớn, năm nơi thờ phụng cạnh bên , ba động nhân tạo, một hồ nhân tạo và một tháp chuông. Năm hoàn tất  khu nhà thờ cũng là năm cha Sáu qua đời.  Dân chúng Thiên Chúa Cơ Đốc địa phương coi việc sống sót nhà thờ Phát Diệm là một phép lạ.  Một trận ném bom năm 1972  đă làm sập hai nơi thờ phụng cạnh  và làm  chánh ṭa nghiêng 20 độ.  Tuy nhiên công cuộc trùng tu đă khởi sự ngay khi c̣n chiến tranh và nay dấu vết bom thả chỉ  c̣n ở vài  chạm trỗ điêu luyện trên đá thôi  .   

Dù có nhiều loại h́nh thái cho du lịch, ngành dịch vụ này ở Ninh B́nh c̣n kém xa  nhiều tỉnh khác.  Hành hương tôn giáo  chùa  Nhất Tự, chùa Bích Động thua hẳn chùa Hương, các chùa Hà Nội, các chùa Huế như Từ Đàm, Thiên Mụ, Vĩnh Nghiêm Sài G̣n. Phát Diệm dù có hang Đức Mẹ Lộ Đức , quần thể kiến trúc Cơ Đốc giáo Pháp ( Âu ) Việt giao liên,  c̣n thua nhà thờ  lớn Đức Bà  Sài G̣n, nhà thờ đức Mẹ La Vang Hải Lăng. Viếng thăm  nghiên cứu công viên Cúc Phương  không mấy hơn công viên Cát Tiên, Bạch Mă, Bản Đôn và cố đô Hoa Lư thua xa cố đô Huế  trên phương diện trùng tu cung điện, đền đài, lăng tẩm, nhạc múa ( vũ )  cung đ́nh. Hạ Long cạn- Ninh B́nh thua xa Hạ Long  biển- Quảng Ninh . Tổng số du khách năm 1999 là  406 000 hành khách, trong đó  chỉ có 96 400 khách ngoại quốc. Tuy có mức gia tăng đáng kể những năm kế tiếp, nhưng vẫn  kém cỏi, so với  con số  du khách đến Quảng Ninh là 2 600 000 người năm 2005 và 3 600 000 người năm 2007.  Khó ḷng  chấp nhận một công nghệ  dịch vụ dễ làm, có sức thu hút nhân  lực cao, ở một tinh nhỏ dân quá đông đúc,  mà năm 1999 chỉ tạo ra  346 lao động  ở 6 cơ sở quốc doanh lớn của tỉnh, khách sạn Hoa Lư 2 sao, khách sạn Ninh B́nh và  Nhà Khách Ủy Ban Nhân dân tỉnh… H́nh như năm 2008, Ninh B́nh đă nâng cấp hệ thống khách sạn tỉnh, nay đă đếm được 300 khách sạn ( năm 1999 chỉ có 25 khách sạn ), 3  (Bích Động , Hoa Lư , Tam Cốc ? ) đạt tiêu chuẩn 3- 5 sao.

Sở dĩ như vậy là v́ Ninh B́nh chưa tận dụng khai thác đủ  các ưu  điểm du lịch tỉnh nhà (  cảnh quan thiên nhiên, môi trường tự nhiên ); du lich khảo sát, mạo hiểm thể thao  ( leo núi đá vôi vách đá cheo leo,  xuống sâu  các hang động thăm thẳm mới, cũ, khảo sát các động vật , thực vật hiếm Cúc Phương…) ;  du lịch  truyền thống dân tộc (  cố đô Hoa Lư , hành hương phật giáo, thiên chúa giao cơ đốc , Bich Động - Tam Cốc , Tam Điệp , khu Voi Quèn Cúc Phương …) , những quần cư nông thôn đắc sắc:  “ làng đồi “   đẹp  trên sườn núi  hay thung lũng, rải theo các tuyến giao thông đường bộ  ở Yên Mô, Gia Viễn, Nho Quan, “các làng ven biển”  xây cất chắc chắn chống bảo tố, song song với bờ biển nh́n xuống các kênh ngang, các làng “ dệt chiếu cói “ , mái ngói hiên nhà rộng, có vẽ khang trang, trù phú,  làng “nấu rượu nếp  ( nay đă sạch,  không c̣n chất độc ô nhiễm, nhờ trang bị dung cụ chưng cất Nhật )  vùng  đất Kim Sơn…  ;  lịch sữ văn hóa, nghệ thuật cá tính Ninh B́nh ( không rỏ lễ hội Thái Vù - Ninh Hải, Hoa Lư mỗi trăng khuyết  hạ tuần  tháng ba âm lịch, lễ hội Trường Yên, lễ hội Yên Cư, lễ hội Non Khê…  có những ǵ sáng tạo văn hóa, văn nghệ địa phương ?);  chưa có du lịch nghỉ ngơi, chửa bịnh ( dù có nhiều suối nước nóng , nước khoáng bổ dưỡng như suối nước nóng Kênh  Gà, huyện Gia Viễn, nhiệt độ 53 độ C, phun mạnh, đều, lưu lượng 5m3 /giờ, suối nước khoáng Kỳ Phú,  huyện Nho Quan  20 loại hóa chất ḥa tan, có khả năng chửa bệnh … ) hay giải trí  ( chẳng hạn tại sao rặng núi Ngọc Mỹ  Nhân- Cánh Diều lại không tổ chức thi đua quốc tế, trong nước thả diều như Vũng Tàu, cho du khách  nhảy -  lượn dù giải trí như ở nhiều thị trấn du lịch Thái Lan,  múa hát giữa thành phố hay ở  tŕnh diễn  kịch định kỳ ở các cung điện xưa điệu tân, cổ nhạc như ở thành phố Avignon, miền nam nước Pháp và thiết lập những công viên đóng xi nê, kịch ti vi…. kiểu tiểu Hồ Ly Vọng Nam Ca Li, Cinecitta, Ư; công viên “  hí trường thể thao  tiêu khiễn kiểu quốc tế ngày nay tựa các Disneyland, Disney World, nhưng nhỏ, ít phí tổn hơn và cộng thêm  nhiều đặc sắc văn hóa Việt Nam .).  Tóm lại, cần h́nh dung, quan niệm lại từ cơ cấu, tổ chức, đầu tư tân trang cận đại hệ thống đón mời, kể luôn cả mau lẹ hoàn tất tân trang  giao thông đựng sông ( 284 km, lượng luân  chuyễn lớn hơn, tuy hàng hóa vận chuyễn  chỉ phân nữa đường bộ vào năm 1999 ), đựng bộ (  hương lộ và huyện lộ, tỉnh lộ,  quốc lộ tổng cọng 2927 km, đường sắt ( Ninh B́nh chỉ có 20km tuyến Bắc Nam từ cầu Non nước đến Dốc Xây - thị xă Tam Điệp  với các ga Ninh B́nh , Cầu Yên, Ghềnh , Đồng Giao ).  Hầu mở rộng nối liền,  chung sức khai thác các  vùng  chánh   du lịch  cùng các tỉnh lận cận hay xa xôi sang tận các nước bạn Lào, Miên, Miến  Điên, Thái Lan... ( quốc lộ 1A,  quốc lộ. 10,  các tỉnh lộ  12A, 12B, 12C , 59…) .  Việc khánh thành các  trạm khang trang bên đường - road side stations  năm 2008 (h́nh như với viện trợ Nhật JICA ? ) là một hướng mới đáng tiếp diễn ở những khía canh tăng cường, cập nhật khác tăng cường cho ngành dịch vu tạo nhiều công ăn việc làm này.

 

  Quan niệm lại đê điều khai khẩn đất lấn biển và hệ thống “ chuyễn đổi “ nông nghiệp ?

Theo lệnh vua Minh Mạng , Nguyễn Công Trứ đốc xuất dân chúng hoàn tất  cuối năm 1829 , cách đây  180 năm, 14 620 mẩu ta ( một mẩu  3600 mét vuông ) lấn biển và lập ra huyện Kim Sơn ( hay là huyện Núi Vàng )..Một kỳ công  tăng quỷ đất nông nghiệp  cho tỉnh Ninh B́nh,  thiếu đất trồng trọt nặng nề. Quá tŕnh 3 bước 1ấn biển:  bước 1 dựa vào các cồn cát ven biển đắp đê, đào kênh “ chắn mặn “; bước 2 đào kênh tưói rữa măn kết hợp với trồng cói trong đồng và trồng rừng chống sóng triều ngoài đê; bước 3  đất ngọt đến đâu trồng lúa đến đó.  Tiến tŕnh xây dựng này kéo dài trên dưới 10 năm. Điển h́nh là nông trường B́nh Minh, bắt đầu lấn biển năm 1958, 40 năm sau  tạo thêm B́nh Minh 2 và các xă mới. Tuy nhiên kỷ thuật áp dụng đă xưa cũ gần 200 năm rồi . Nay đă có kỷ thuật mới tinh xảo lấn biển, chống bảo lụt, ô nhiễm, lập cảng sông cảng biển, đô thị trấn hóa các làng huyện,  hồ nước nhân tạo, cải thiện đất bùn phèn chuyễn đổi loại cây trồng như ở các châu thổ Hạ Hà Lan ( như công tŕnh Delta Works đă hoàn tất năm 1997,  hy sinh nhiều khía cạnh môi sinh hơn ) và châu thổ sông Mississipi (của quân đoàn kỷ sư công binh Corps of Engineers Hoa Kỳ, ít hy sinh môi trựng hơn) (  theo tiến sĩ Trần Đăng Hồng ở tạp san Nông Nghiệp Hải Ngoại Việt Nam, Ca Li , 2007- 2008 ). Nay chúng ta đă có  đủ xi măng, sẽ đủ sắt thép và nhiều vật liệu xây dựng khác,  nhiều chuyên viên, nhân công thủy lợi, công chánh  cập nhật và khá tinh tường kỷ thuật mới thế giới (đă thực hiện đườngTrường Sơn công nghiệp, tổng công ty sông Đà làm nhiều nhà máy thủy điện lớn.. )  ngân sách có thể đủ tiền tài trợ, đầu tư kích cầu cải thiện  hạ tầng cơ sở, ít sợ lạm phát  vào một  giai đoạn kinh tế quốc tế, nước nhà suy thoái. Các hồ đập  thủy điện thượng nguồn sông Hồng ở Trung Quốc và chi lưu  chẳng hạn ở sông Đà như các đập Ḥa B́nh, Sơn La... cũng  đă thay đổi ḍng chảy, đất bồi tụ, từ của sông Đáy đến cửa Thần Phù; hệ thống đê điều  quan niệm  từ thời nhà Lư, e không c̣n  bao nhiêu giá trị bảo vệ và giao thông, thêm đất lấn biển Ninh B́nh… thế kỷ 21,  cũng như toàn thể châu thổ sông Hồng ?  
          Việc chuyễn dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp  tạo thế cân đối giữa trồng trọt, chăn nuôi ( tính luôn cả ngư nghiệp ) và dịch vụ nông nghiệp, tuy được quan niệm từ hơn  10 năm nay, vẫn chậm ŕ  so vói mức tiến triễn ở miền Nam và Tây Nguyên. Năng xuất lúa c̣n  chưa đến  6- 7 tấn/ mỗi vụ/ ha,  dù rằng nay đă có các giống lai cao năng tiềm năng 12- 13 tấn/mỗi vụ / ha; phân đạm hóa hoc urê - muối diêm lạnh cho lúa đă  sản xuất khá dồi dào trong nước, bón  ruộng thay  thả bèo hoa dâu - azolla loại bèo chứa vi khuẩn  có khả năng tổng hợp đạm, nhưng tổng hợp này  không đủ  sức  cung ứng đầy đủ đạm cho lúa cao năng, siêu năng ngày nay, mà lại  có cơ choáng mất đất, mất vụ. Ninh B́nh cũng như miền Bắc có lạnh thích hợp cho các loài lúa Japonica cao năng, hột tṛn hột dẻo  và sửa soạn thị trường xuất khẩu nay mai sang Nhật, Đại Hàn, Bắc Trung Quốc…  lại ít được khảo cứu.phổ  biến hơn cả  ở An Giang  không có lạnh, đồng bằng sông Cửu Long . Năng xuất ngô ( bắp  ) lai c̣n tệ hại hơn nữa trong khi trên thế giới tân tiến,  ngay cả ở một vài vùng Tây Phi Châu, các giống ngô - bắp lai  lại có năng xuất trung b́nh cao hơn cả lúa lai nữa.  Nhóm cây công nghiệp hàng năm ( đậu phụng - lạc chưa có phát triễn các giống mới nhóm Virginia hột to , bổ sung nhóm Spanish nước nhà, mía, cói  thật ra  là  lác chiếu- lác gon tên khoa học là Cyperus tegetiformis  Roxb. , tên Anh là chinese mat grass, tuy đă tuyễn chọn được giống cói bông trắng Nhật năng xuất gần gấp đôi, phẩm giá tốt hơn các giống Kim Sơn, Thanh Hóa , Trung Quốc , Đại Hàn du nhập, đay , mè- vừng chưa cái thiện như các giống mè  tân tuyễn Thái Lan,  đậu tương - đậu nành, thuốc lá ) cũng không mấy cải thiện năng xuất từ nhiều năm nay, dù trên thế giới  cũng đă có nhiều kỷ thuật mới cải thiện năng xuât., phẩm giá .

 Mở mang thêm quỷ đất nông nghiệp, ngoài việc khai khẩn đất lấn  biễn, nên tận dụng  đất đai thích hợp cho cây ăn quả ( ăn trái ) và cây công nghiệp lâu năm , đặc biệt xét lại  việc trồng  và chế biến chè- trà, khi mà  sản phẩm trà khô tỉnh nhà không có thị trường xuất khẩu. Cần tái xét  đất lâm nghiệp hiện chiếm đến  gần 20 %  diện tích đất tự nhiên.  Chương tŕnh trồng lại rừng 5000 ha , tăng bao phủ rừng thêm, từ sác xuất  9 % đến 31 % , nên  dùng cây vừa ăn  trái vừa làm gỗ tốt , thay thế cây rừng chỉ công dụng  làm gỗ; dưới tàn cây trồng, phát triễn chăn  nuôi hay trồng cây lương thực hàng năm, chờ đợi thu hoạch cây lâu năm.  Con số 4000 ha cây ăn quả năm  2000- 2001 của tỉnh Ninh B́nh có thể tăng lên gấp 3 gấp 4,  nếu  triễn khai đại trà hơn thể thức nông truờng, lâm trường,  nhiều loại cây ăn trái bán ôn đới, bán nhiệt đới,theo thế nông lâm mục đa năng , đa tầng. Vùng  Cúc Phương đă  nhận diện  nhiều loài hồ đào  như Mày Châu Carya tonkinensis , Mày Thanh Hóa  Carya anamocarya, Mày Trung Quốc Carya sinensis  hột ngon,  tương tự các giống  Carya pecan hay illinoensis Mỹ - pecan nut,  sao chưa thấy  khuếch trương ở  các sườn đồi, vườn tượt “làng đồi Ninh B́nh  “ những giống pecan lai - hybrids gỗ tốt  ở các tiểu bang Hoa Kỳ?  Cũng không thấy  nói ở vùng đồi  ráo nước không úng thủy, đất vôi, trồng ngay cả dẽ bi- macadamia  nut hay Úc châu kiên quả,  mới đây đă thành công ở Ban Mê Thuột , Lâm Đồng, ngoài Lạng Sơn…; các giống hồ đào óc chó- walnut Ba Tư , Anh Quốc , Pháp .. các giống dẽ, sồi dẽ - chestnut ; các giống cây bơ -avovado  ( cần tránh nơi  đồng băng ven biển hay bảo tố v́ cành bơ dễ găy  ); các cây sung ngot- ficus carica  loại không cần ong đặc biệt thụ phấn, các cây kiwi dương đào (  ruột xanh , ruột vàng )  cần đôi chút lạnh; các  cây hạnh nhân loại ngọt Ca Li cần đôi chút khô hạn, nơi vùng Ninh B́nh  gió Lào khô  thổi qua. Quanh đồi núi ngoài chùa Bích Động sao không thấy bóng dáng những vườn trái mơ ( mai ) -apricots cải thiện làm ô mai mơ hay ăn trái tươi, làm mứt… như rừng mơ nhiều loại quanh  chùa Hương.  

Trong 3 món khoái khẩu dân Ninh B́nh là Rượu Kim Sơn, Thịt dê và  Cơm cháy , sao trong thế nông lâm mục vừa kể, không thấy đề cao nuôi dê giữa các hàng cây; có lẽ nên thêm các giống dê sửa nhiều thịt nhiều sửa trên thế giới hơn là giống dê Bách Thảo ? Hay nuôi “ ḅ mini “ Hoa Kỳ, nhất là nuôi trâu sửa Murrah, lấy sửa làm phó mát  buffalo mozzarella ngon, làm sửa tươi, sửa chua yogourt, cà rem, bánh ga tô phó mát - cheese cake, dân Á Đông ưa chuộng …  như ở  gần thủ đô Roma , thành phố Napoli tỉnh Campania nước Ư ( tuy cần xét lại cơ cấu tại sao chăn nuôi trâu sửa ở Mộc Châu không mấy phát đạt ). Có lẽ bên cạnh thịt dê khoái khẩu nên  nghỉ cách làm những món  thịt thỏ hầm- civet de lapin trộn môn, khoai, hô đào, dẻ,  nấm, đặc sản tỉnh nhà, v́ nay ngành nuôi thỏ đă khởi xướng,  đặc biệt ở Nho Quan,  nhờ  mới t́m được thị trường xuất khâu  cả triệu con  sang Nhật (? )

        Lạ lùng thay,  Ninh B́nh có nhiều hang động ẩm thấp , lạnh lẽo  lại không nghe nói tới nuôi trồng đại trà các loại nấm như nấm mỡ Agaricus sp., nấm rốn to bự  Portobello, nấm kim châm, nấm đinh enoki, nấm đông cô , nấm hương, nấm cỏ dày , nấm da báo, nấm ngân nhĩ  (mộc nhĩ trắng ), ngoài nấm rơm, nấm mộc nhĩ ( tai mèo ) , bào ngư … nhiều nấm dược liệu là các nấm linh  chi  Ganoderma sp.   Chuyễn đổi ngành rau đậu, hoa kiểng, ngoài việc phụ thêm các loài nhiệt đới nội địa ( như rau đay , rau sắng, rau muống, rau dền… ) phải  bổ sung  mạnh bằng các loài giống bán ôn đới mới mẽ nguồn gốc Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bổn và cả Bắc Ấn Độ nữa . Nếu cần thiết  trồng rau hoa trong  các ṿm, nhà kiếng nhựa dẻo điều ḥa không khí thích nghi, nuôi trồng theo kỷ thuật thủy sinh - hydroponics . Ơ các đất thấp không trồng cói nữa, hay đất trũng đầm lầy c̣n mặn, ngoài việc tăng cường nuôi tôm nuôi cá, các loại ngư sản khác, có lẽ cũng nên nghĩ đến các loài  rong - tảo - algae mới cao năng , không chỉ để làm thực phẩm nuôi  súc vật, nuôi cá, trích dâu diesel,  mà c̣n để ăn tươi, ăn  sấy khô  đă thông dụng ở Nhật , Hàn Quốc …  Nếu đưa được khí thải chứa CO2 , khí hâm nóng địa  cầu các nhà máy chạy than đá Ninh B́nh qua các hồ, ao, ruộng nuôi tảo  thích nhiều thán khí này ( thay vi đưa các khí qua các mạch mỏ ngầm ) có cơ giải quyết khía cạnh ô nhiẻm các nhà máy chạy than đá dơ bẩn; dù rằng trồng thêm cây cổ thụ  bóng mát đường phố,  công viên thị trấn hay  gây tao rừng cũng đă góp phần làm sạch vụ ô nhiễm, hâm nóng địa cầu này rồi.

 

Chuyễn đổi cơ cấu loại công nghệ

Ngành công nghệ Ninh B́nh cần thoát ly quản trị quốc doanh, cả địa phương lẫn trung ương, chuyễn đổi  mau đến các công nghệ  khai thác  tri thức mủi nhọn, công nghệ liên hệ quốc pḥng và  tương lai hướng về biến chế dầu khí  vinh Bắc Bộ nữa .

 Năm 1996, công nghiệp Ninh B́nh chỉ chiếm 8, 83 % lao động, đóng góp 23.63% tổng sản xuất  và 17.1 GDP ( so với năm 1994 ) của tỉnh, dừ trù tăng 14- 16 %  GDP  trong thời gian 2001- 2010 , 33- 34 % năm 2010 . Công nghiệp Ninh B́nh thuộc loại nhỏ, so với cả nước ( ngoài nhà máy xi măng Tam Điệp công xuất 1, 4 triệu tấn thiết lập năm 1999 và nhà máy  nhiệtđiện chạy than đá tỉnh lỵ Ninh B́nh ) hay với các tỉnh  thành phố của đồng bằng sông Hồng, tập hợp thành 3 nhóm : công nghiệp chế biến , công nghiệp điện nước và công nghiệp khai thác. Toàn bộ những ngành quan trọng đều do Trung Ương quản trị, như điện, hóa chất phân bón ( phân nung chảy )  sản xuất sản phẩm phi kim loại, khai thác đá.  Các ngành chế biến kim loại, sản xuất máy móc thiết bị , khai thác than qua lữa, xuất bản , in …   do quốc doanh địa phương quản lư, chiếm 19,8 % công nghiệp toàn tỉnh. Công nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm giữ  vai tṛ đáng kể  trong hoạt động tiểu thủ công nghiệp  ở cấp huyện, tuy mảng công nghiệp nhỏ nhưng  lại rất linh hoạt,tạo ra nhiều sản phẩm và thu hút nhiều lao động trẻ. Chẳng hạn ngành tiểu thủ công nghệ  ở Yên Khánh đă đẩy mạnh chế biến  cói, thêu ren , chế tác đá mỹ nghệ…  Phải khích lệ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh  khai thác các khoáng sản  như than nâu , than mỡ, than bùn ở Đồng Giao , Thạch Bích , Sơn Hà ( Nho Quan ), đá vôi  có cường độ chịu lữa  và tinh nguyên khối cao làm  đá ốp lát trang trí các xây dưng; đôlômít  phong hóa  làm gạch không nung  cựng độ  chịu nén cao  ở Hoa Lư và Tam Điệp, bột màu xây dựng ở Văn Phú ( Nho Quan ) , khai thác các  nưóc nóng  hay nước khoáng tốt chữa bệnh hay làm nước đóng chai uống giải khát, các ḷ gạch ngói ở những nơi  có nguồn đất sét làm  gạch ngói tốt ở Sơn Hà, Xích Thổ ( Nho Quan ) Đồng Giao, Ghềnh (Tam Điệp), khai thác cát vàng, cát đen ở các bải bồi và ḷng sông dùng cho xây dựng, cát trắng với hàm lượng ôxyt silic cao  thích hợp  sản xuất thủy tinh, gạch ngói silicat ….Cân thêm nhiều cố gắng đẩy mạnh đầu tư tư nhân, tư bản  ngoại quốc vào   hai khu công nghệ Tam Điệp ( 62 .2 ha ) ở thị xă Tam Điệp  và nhất là khu công nghệ  Ninh Phúc ở huyện Yên Khánh diện tích đến 350 ha.

Tương lai công nghiệp Ninh B́nh phải duyệt xét các ngành sản xuất cơ khí ( từ lâu máy bơm đă  không xuất khẩu được ?), điện tử và hóa chất bổ sung bằng những công nghiệp  phục vụ quốc pḥng diện địa đă có truyền thống  lịch sử ( và v́ Ninh Binh không có nhiều bờ biển làm quốc pḥng bảo vệ Biển Đông ), những  công nghiệp phục vu trang trí  thiết bị nhà cửa theo đà đô thị hóa và tiện nghi hóa gia cư khang trang, đúng vệ sinh, ít phá hại môi sinh hơn, cũng như tiết kiệm năng lượng, công nghệ dược phẩm  cả âu dược tân tiến ( sản xuất thuốc chủng, thuốc tương thích chung -generic ) lẫn Nam - Bắc Đông Y,  công nghiệp viễn thông, truyền thông, bưu điện máy computer , phần mềm phần cứng , robot , nanô … Giải quyết mau lẹ tranh chấp vấn đề khai thác 7 bồn trũng khí  dầu Vịnh Bắc Bô đă khám phá,  hay cố t́m  cho được giếng khí dầu gần lảnh thổ, lảnh hải Ninh B́nh - Thái B́nh hơn,  hầu h́nh dung một cụm công nghệ điện khí đạm  như đă làm ở Phú Mỹ - Bà Rịa , Cà Mau  hay chung sức nới rộng cụm phức tạp lọc dầu, chế biến  sản phẩm lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa kế cận ?       

 GS Tôn Thất Tŕnh

(Irvine ,Ca Li ngày 16 tháng 6 năm 2009 )          

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 07/04/09