
Con Số
Hàn Lâm
Nguyễn Phú Thứ
(Trich dẫn từ trang 838 đến trang 853 quyển Tử-vi & Địa-Lư
Thực-hành
của Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ )
Phàm người
đời thường cho rằng, tất cả hiện hữu có được trên quả đất này từ con người đến
thú vật cũng như cây cỏ và vật dụng...đều có số hết cả.
Đó là, con số đáng cho chúng ta suy ngẫm, riêng đối với con người
khi lọt ḷng mẹ sanh ra cũng tính bằng con số, bởi v́, từ khi người mẹ thụ thai
đến khi lọt ḷng mẹ phải mất một thời gian khoảng 9 tháng 10 ngày, rồi khi chúng
ta lớn lên đến khi ĺa đời cũng phải mất một thời gian dài hay ngắn, nếu người
chết có số tuổi cao xem như chết già tức có số trường thọ, c̣n trái lại, người
đó chết tuổi thấp xem như chết non tức có số chết yểu, hoặc người sanh ra được
số sung sướng giàu sang phú quư hay bị số bất hạnh, nghèo khó...
Đó cũng là con số mà người đời hoặc thú vật, cây cỏ và vật dụng
đều phải nhận lảnh khi hiện hữu trên quả đất này. Nhưng nếu để ư, sẽ thấy sự
sanh sống của chúng ta bao bọc bởi những con số, bởi v́ mỗi thứ đều mang con số
và chúng ta bắt buộc phải tính toán cũng bằng con số để sanh tồn, từ cái ăn, cái
mặc, cái nhà, cái xe, cho đến cái bịnh, cái đau và đưa đến cái chết... ví như,
đi mua giày hay cái áo hoặc cái quần chúng ta phải biết số nào mặc vừa, c̣n
không biết con số th́ không thể hài ḷng được.
Do vậy, con số đó là con số ǵ ?
Nếu chúng ta xét cho kỹ, th́ thấy con số đó chỉ là con số chẵn hoặc con số lẻ đă
được các nhà khoa học t́m ra cho chúng ta sử dụng sau này, nhưng nó chỉ đóng
khung 10 con số căn bản. Đó là: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 (bởi v́, số 0
cũng là con số) . Từ đó, chúng ta ghép nối để có những con số lớn hơn. Đây là,
năm con số chẵn : 0, 2, 4, 6, 8 và năm con số lẻ : 1, 3, 5, 7, 9. Viết đến đây
tôi lại nhớ. Căn cứ theo Hà Đồ Tiên Thiên Bát Quái gồm có 10 con số là : 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10.
Nhưng được phân định như sau :
- Năm con số dương = Trời tức số lẻ như đă dẫn ở trên là : 1, 3,
5, 7, 9. Nếu chúng ta đem cộng tất cả này th́ có kết quả như sau : 1+3+5+7+9 =
25.
- Năm con số âm = Đất tức số chẵn như đă dẫn ở trên là 2, 4, 6,
8, 10 (v́ 1 ghép nối với 0 = 10) .
Nếu chúng ta đem cộng tất cả này th́ có kết quả như sau : 2+4+6+8+10
= 30 và nếu chúng ta cộng kết quả của số dương và số âm th́ có được như sau : 25
+ 30 = 55, con số này gồm chung cả thiên địa rất công bằng, v́ mỗi thiên và mỗi
địa đều có 5 lại tương đắc, công bằng với nhau, v́ : " Thiên số ngũ, Địa số ngũ,
ngũ vị tương đắc nhi các hữu hiệp " (Số trời có năm số, số đất có năm số, năm
ngôi cùng tương đắc mà điều hạp nhau).
Ngoài ra, theo Lăo Tử đă viết : Nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật
Và theo Kinh Dịch đă viết : Tam thiên, lưỡng địa (bởi v́, tiên âm hậu dương) tức
Trời 3, Đất 2.
Từ đó, người đời thuờng nói : "Trời cao, Đất rộng" hay "Trời tṛn, Đất Vuông" là
thế đó. Nếu chúng ta cộng Trời 3 là dương với Đất 2 là âm th́ nó có số thành là
5 và cộng thêm vạn vật 2, th́ trở thành 7 tức con số tối đa của nguyên số trong
các con số lẻ đầu tiên kể từ 1, 3, 5, 7 đến 9, bởi v́ con số 9 không phải là
nguyên số, v́ nó có thể chia chẵn làm ba lần, với 1, với 3 và với 9.
Hơn nữa, nếu chúng ta để ư lấy số lẻ của 5 số dương là : 1, 3, 5,
7, 9 đem cộng lại như đă thấy ở trên, có kết quả là 25 và rồi lấy số 25 tức 2
với 5 cộng lại th́ lại có kết quả : 2 + 5 = 7, th́ cũng có kết quả là 7.
Viết đến đây, tôi nhớ những kích thước đáng lưu ư, về con số 3/2 tức Trời Đất
ghép lại đă được trong dân gian người Việt-Nam chúng ta đă áp dụng cho việc xây
cất nhà, bằng chứng căn nhà Việt-Nam xưa kia thường cất nhà có 3 gian và 2 chái.
Ngoài ra, con số này cũng áp dụng cho kích thước của cái bàn, cái
cửa nhà nữa, ví như cửa có chiều cao 3m, th́ chiều ngang phải 2m mới cân xứng,
c̣n rất nhiều trường hợp như : thân h́nh, bàn tay, cái mặt và các lănh vực khác
nữa, ở đây không thể kê ra hết được.
Để t́m hiểu thêm về con số đă dẫn thượng đưa vào phong tục tập quán
dân gian cũng như văn-học Việt-Nam chúng ta, xin lần lượt trích dẫn như sau :
Con số 1 là con số thông thường để chỉ sự tối thượng của
đấng tạo hóađ
trong vũ trụ. V́ thế, chúng ta đă thấy con số 2 là Đất và con số 3 là Trời như
đă dẫn ở trên kia.
Dưới thời xa xưa c̣n chế độ quân chủ, thường dành con số 1 để chỉ
nhà vua, bởi v́ vua là thiên tử tức con trời để cai trị thiên hạ tức nhứt nhơn
(người ở đầu, người lớn hơn hết), từ đó trong thiên hạ khi sanh con đẻ cái cũng
không thể gọi đứa con đầu ḷng là con 1 mà chỉ gọi con trưởng hay con 2 hoặc con
cả, v́ sợ húy kỵ đến nhà vua, bằng chứng ở Việt-Nam không có nhà nào gọi con đầu
ḷng là con số 1 hết là thế đó.
Con số 2 là con số sau con sốđ
1 tức 2 con số 1 cộng lại (1+1= 2) và trong thiên hạ gọi đứa con đầu ḷng bằng
anh hai hay chị hai, viết đến đây tôi nhớ đến Bà Trưng Nhị (bởi v́, Bà sanh sau
Bà Trưng Trắc, nên có tên Bà Trưng Nhị) Bà cùng Bà chị là Bà Trưng Trắc sanh đôi
vào ngày mùng 1 đến tháng 8 năm Giáp Tuất nhằm năm 14 sau Tây Lịch tức thế kỷ
thứ nhứt, đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc làm cho Thái Thú Tô-Định thua chạy
về Tàu và chiếm được 65 thành, đến ngày rằm tháng Giêng năm Tân Sửu 41 mới xưng
vương.
Riêng về tên của hai Bà phải gọi Trưng Trắc là Trưng Chắc và Trưng
Nhị là Trưng Nh́ mới đúng, bởi v́ quê quán của hai bà Trưng có nuôi tằm để cung
cấp cho ngành dệt vải, cái kén dày được gọi là cái kén chắc, c̣n cái kén mỏng
được gọi lá cái kén nh́, cho nên song thân của hai bà lấy tên trong nghề nuôi
tằm để đặt tên cho hai bà. (nếu quư bà con đồng hương cần t́m hiểu thêm về hai
Bà Trưng xin t́m đọc T́m Hiểu Các Danh Nhân cùng tác giả Nguyễn-Phú-Thứ, từ
trang 228 đến 245).
Ngoài ra, mỗi khi trong dân gian có lời thề với nhau, th́ gọi là : hai bên vai
vác tức nhờ tả và hữu thần chứng giám lời thề là sự thật. Đối với con người, nếu
chúng ta thấy người nào đó có "cái mặt chiều dài bằng phân nửa chiều ngang hai
vai", th́ thế nào cũng thấy gương cân xứng, bởi v́ đúng với câu : nhất diện phân
lưỡng kiên.
Hơn nữa, theo Kinh Dịch đă viết : tam thiên, lưỡng địa tức Trời 3,
Đất 2. Ngày nay, nhân vật số 2 thường chỉ Phó Tổng Thống hoặc là nước đó có Tổng
Thống tức số 1, mà không có Phó Tổng Thống, th́ Thủ Tướng chính là nhân vật số
2.
Con số 3 cũng để chỉ Trời và trongđ
văn học cũng như luật lệ xa xưa thường có thấy những từ ngữ như : Tam tài tức
Trời, Đất và Vạn vật trong đó có con người; Tam cang tức 3 giềng mối quan hệ ở
đời của người xưa là : Quân vi thần cang (Vua tôi), Phụ vi tử cang (Cha con),
Phu vi thê cang (Chồng Vợ); Tam tùng dành cho người con gái là : Ở nhà phải chịu
phép Cha Mẹ, có chồng th́ theo chồng, chồng chết theo con; Tam Qui là luật lệ
của người đạo Phật đối với Phật Tử phải : qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng;
Tam Giác là h́nh có ba cạnh .v.v.
Con số 4 có các từ ngữ như sau : Tứ Đứcđ
là 4 đức tính của con người đạo đức dành cho đàn Ông phải biết : Hiếu, Lễ,
Trung, Tín và đối với đàn Bà phải biết Công, Dung, Ngôn, Hạnh; Tứ Linh là 4 con
vật được xem thiêng liêng là Long (Rồng), Lân, Quy (Rùa), Phụng (Phượng); Tứ Quư
là 4 mùa trong năm Xuân, Hạ, Thu, Đông; Tứ Phương là 4 hướng Đông, Tây, Nam,
Bắc; Tứ Đại tức 4 đời trong gia tộc ruột thịt là : Ông Nội, Người Cha, Con và
cháu, nhà nào có được tứ đại xem như nhà đó có phước; Tứ hải giai huynh đệ .v.v.
Con số 5 có các từ ngữ như sau : Ngũ quan gồm có : Tai (nhỉ
), Mắtđ
(mục), Mũi (tị), Miệng (khẩu), Lưỡi (thiệt); Ngũ phước gồm có : Phú (giàu có),
Thọ (sống lâu), Khương ninh (sức khỏe), Du háo Đức (đức hạnh), Khảo chung (trọn
thân sống); Ngũ Hành gồm có: Kim, Mộc,Thủy,Hỏa, Thổ; Ngũ cúng gồm có: Hương,
Đăng,Trà, Hoa, Quả; Ngũ Thường gồm có : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; Ngũ giới cấm
là 5 điều ngăn cắm của đạo Phật đối với người Phật Tử là : Sát sanh, Đạo tặc, Tà
dâm, Uống rượu, Nói dối. (Nếu chúng ta nh́n kỷ và so sánh Ngũ Thường của Nho
Giáo và Ngũ Giới của Phật Giáo th́ thấy có sự liên hợp giống nhau, bởi v́ : Nhân
= Không sát sanh; Nghĩa = Không đạo tặc; Lễ = Không tà dâm; Trí = Không uống
rượu và Tín = Không nói dối) ; Ngũ Quả gồm có các trái cây như : Măng cầu, Chùm
sung, Dừa tươi, Đu đủ, Xoài, Ngũ Giác là h́nh có năm cạnh, Ngũ Châu gồm có Á
Châu, Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu và Úc Châu v.v.
Ngoài ra, con số 5 là con số kết hợp Trời và Đất, bởi v́, tam Thiên,
lưỡng Địa và một đặc điểm đáng lưu ư nữa, trong dân gian ḿnh thường tín ngưỡng
cứ mỗi tháng có 3 ngày kỵ xuất hành. Đó là:
Mùng năm, mười bốn, hăm ba,
Đi chơi cũng lỗ, lọ là đi buôn.
Nhưng nếu chúng ta b́nh tâm mà xét theo con số th́ có kết quả ba
ngày ấy cũng là số 5, bằng chứng là con số 14 tức 1 và 4, nếu đem 1+4 = 5. Con
số 23 cũng vậy, tức 2+3 = 5. Do vậy, 3 ngày đó đều có số thành là 5.
Nhân đây, xin trích dẫn bài viết CON SỐ 5 viết chung với Gs Toàn Phong
Nguyễn Xuân Vinh sau đây :
... Nhiều tổ chức và kiến trúc thời cận đại cũng có căn bản là số 5. Ví như, cơ
quan đầu năo quân sự lớn nhất thế giới tại Hoa Kỳ được đặt tại Ngũ Giác Đài.
Nói về quân sự, khi có binh lực thật mạnh, người xưa chia việc chỉ
huy ra cho ngũ quân là : Tả quân, Hữu quân, Tiền quân, Hậu quân và Trung quân.
Dưới thời nhà Nguyễn, chức vụ vơ quan cao cấp nhất là Chánh Vơ Nhất Phẩm được
gọi là "Ngũ Quân Đô Thống".
Nếu thời xưa là cái ǵ thuộc dĩ văng, cổ hủ th́ trở lại nói chuyện
ngày nay. Tại Hoa Kỳ khi được vinh thăng cấp bậc Thống Chế tột bực trong quân
đội như Dwight David Eisenhower (1890-1969) th́ được dùng 5 ngôi sao cho cấp
hiệu.
Riêng ở Pháp cũng có tướng năm sao, xin đơn cử tướng Général
d’Armée Jean-Pierre KELCHE, Grand Chancelier de la Légion D’Honneur,
Président D’Honneur, ngài đă chụp h́nh lưu niệm và giới thiệu tác phẩm 4000
Từ Ngữ Thực Hành (4000 Mots Pratiques) sáng ngày 3 tháng 6 năm 2008 của tác
giả Giáo Sư & nhà văn Hàn Lâm NGUYễN-PHÚ-Thứ, huy chương Pháp : Chevalier
dans l’Ordre de la Légion D’Honneur et Chevalier dans l’Ordre des Palmes
Académiques (Bắc Đẩu Bội Tinh và Đệ Ngũ Hàn Lâm) trong đại hội Bắc Đẩu Bội Tinh
Quốc Gia Société d’entraide des Membres de la Légion d’Honneur (SEMLH) tại Cité
Internationale des Congrès - Nantes Métropole (France) 5, rue de Valmy - BP
24102 - 44041 Nantes Cedex, từ ngày 2 đến 4 tháng 6 năm 2008.
Ảnh tướng
Jean-Pierre KELCHE 5 sao giới thiệu sách và chụp h́nh lưu niệm với tác giả
3-6-2008.
Trong vạn
vật, con số 5 cũng luôn luôn được hiện h́nh như theo luật thiên nhiên của tạo
hóa. Nhiều loài hoa hồng quư giá, hay cả những hoa thường như hoa bông bụt, khi
nở cũng xoè ra năm cánh.
Ngôi sao bể là một loài thủy tộc cũng có năm nhánh thay v́ bốn
nhánh hay sáu nhánh.
 
Một trái khế cũng có năm khía ch́a ra như muốn mời mọc con người tiền sử lần đầu
tiên nếm thử mùi vị chua nồng của loại trái cây mới.
Con người ta lúc đầu tiên tập đếm cũng chỉ tới số 5, v́ dùng đầu ngón tay cũng
chỉ tới được năm ngón.
Khi loài
người bắt đầu thu nhập những âm hưởng của thiên nhiên, tiếng chim hót thông reo,
tiếng gió thoảng bên khe núi và tiếng suối chảy lưng đèo, để đặt ra cung bậc,
cũng xếp thành năm cung là : Cung, Thương, Giốc, Trủy và Vũ. Như tả về tài đánh
đàn của Kiều, cụ Nguyễn Du đă viết :
"Cung thương lầu bực ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương"
Khi tả đến đoạn nàng Kiều gẩy đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe, cụ Nguyễn Du cũng viết
là:
"Bắt nàng thị yến dưới màn,
Giở say lại ép cung đàn nhật tâu.
Một cung gió thảm, mây sầu,
Năm cung giỏ máu năm đầu ngón tay"
Con số 6 có các từ ngữ như sau : Lục súc gồm sáu con thú nuôiđ
trong nhà là : Trâu, Ngựa, Dê, Gà, Chó, Heo; Lục khí là 6 khí : Gió, Lạnh, Nắng,
Ẩm, Khô, Lửa; Lục kinh là 6 kinh : Thi, Thơ, Diệc, Lễ, Xuân Thu, Tứ Thơ; Lục bộ
thượng thơ gồm 6 bộ là : Lại (Nội Vụ), Lễ (Ngoại Giao), Binh (Quốc Pḥng), H́nh
(Tư Pháp), Công (Công Chánh), Hộ (Kinh tế tài chánh); Lục nghệ tức 6 nghề là :
Lễ, Nhạc, Săn bắn, cỡi Ngựa, Học chữ, Học tính; Lục dục tức là sáu sự ham muốn
do Lục căn mà ra. Đó là, Tai, Mắt, Mũi, Lưỡi, Thân và Ư; Lục nhâm tức 6 Can có
chữ Nhâm đứng đầu là : Nhâm Tư, Nhâm Dần, Nhâm Th́n, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm
Tuất.
Ngoài ra, chúng ta c̣n thấy Lục Giáp tức 6 con Giáp là : Giáp Tư và Giáp Ngọ
thuộc mạng Kim, Giáp Tuất và Giáp Th́n thuộc mạng Hỏa, Giáp Thân và Giáp Dần
thuộc mạng Thủy.
Con số 7 cũng là con số đặc biệt, bởi v́ nó kếtđ
hợp Trời Đất và vạn vật để thành 7 và nó có các từ ngữ như sau : Thất bảo là 7
vật quư : Vàng, Bạc, Mă năo, Hạt trai, Ngọc lưu li, San hô, Xa cừ; Thất t́nh là
Hỉ (vui), Nộ (giận), Ai (buồn), Cụ (sợ), Ái (thương), Ố (ghét), Dục (muốn); Thất
sơn tức 7 núi ở Châu Đốc là : Két (Anh Vũ sơn), Dài (Ngũ Hồ sơn), Cấm (Thiên Cẩm
sơn), Tượng tức Voi (Liên hoa sơn), Trà Sư (Thủy Đài sơn), Bà Đội Ôm, và Cô Tô
Thủy ; Thất phách là 7 vía, viết đến đây tôi nhớ người xưa thường áp dụng : Ba
Hồn 7 Vía hay Bảy hồn chín Vía? hay Nam Thất Nữ Cửu? tôi xin góp ư như sau :
Tại Sao gọi Bảy hồn chín Vía hay Nam Thất Nữ Cửu ?
Ở miền Nam Việt-Nam xa xưa trước kia chưa có thuốc Tây, nhứt là quư
bà con đồng hương ở nông thôn, thường dùng lá cây để trị bịnh hay băng bó mỗi
khi bị té...
Nếu người bị bịnh là nam th́ dùng 7 và nữ th́ dùng 9 hoặc là, mỗi
khi con cháu bị vấp té, th́ ông bà hay cha mẹ thường hú "7 hồn 9 vía" cũng áp
dụng phương thức "nam thất nữ cửu", nhưng ít người hiểu biết hoặc giải thích tại
sao có con số sai biệt giữa nam và nữ?
Theo thiển nghĩ của tôi, phàm con người dù nam hay nữ đều có 9 bộ phận (người
xưa thường gọi là cửu khiếu) được phân chia như nhau là :
- Phần trên gồm có 7 bộ; phận là : 2 mắt, 1 miệng, 2 tai và 2 mũi.
- Phần dưới gồm cóó 2 bộ phận là : 1 lỗ tiêu và 1 lỗ tiểu.
Hơn nữa, chúng ta đă thấy ở trên kia, số 7 là con số tối đa của
nguyên số thuộc thiên là số dương tức nam và nó cũng là 7 bộ phận nằm phía trên
của thân thể, cho nên người xưa thường dùng con số 7 để chỉ cho dương nam tức
thiếu dương là số hạp cho phái nam và con số 9 là chỉ chung bộ phận trên cộng
với bộ phận dưới của thân thể cộng lại tức 7 + 2 = 9 cho nên người xưa thường
dùng con số 9 để chỉ cho dương nữ tức lăo dương là số hạp cho phái nữ, từ đó, áp
dụng mọi trường hợp, nhứt là các thầy thuốc Đông y, không biết ư kiến này có
đúng hay sai? xin các bậc cao minh bổ khuyết để được đầy đủ hơn.v.v.
Con số 8 là con số đă thấy các từ ngữ như sau : Bátđ
Cạy ở đây chỉ hướng đi cho ghe tàu về đêm thời xa xưa, lúc bấy giờ không có đèn
những vẫn đi trên sông rạch, nếu nói bát là đi phía bên mặt, nếu nói cạy là đi
phái bên trái, thế mà người xưa đă ăn ư nhau, cho nên không bị tai nạn xảy ra;
Bát Quái là 8 quẻ trong Kinh Dịch có nói : Thái cực sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi
sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái. Đó là : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly,
Khôn, Đoài; Bát giới là 8 điều răn của Đạo Phật là : Không sát sanh, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không ngồi giường cao, không
mang nữ trang (vàng), không múa hát vui vẻ quá lố; Bát cú là để chỉ luật thơ
Đường, mỗi bài gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ; Bát Chánh Đạo là 8 con đường chánh của
người Phật Tử theo Đạo Phật cần phải tu luyện hằng ngày để giải thoát. Đó là,
chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn, chánh niệm, chánh định.v.v.
Con số 9 là con số lẻ cao nhứt tính từ 1,đ
3, 5, 7 và 9. Số 9 tức cửu cho nên có những từ ngữ như sau : Cửu Trùng ngôi vua
ngự cao xa, ví như 9 từng mây; Cửu Thiều là Nhạc chín chặp của vua Thuấn bày ra;
Cửu Đỉnh là 9 cái đỉnh đúc bằng đồng xưa kia do Vua Hạng Vơ thực hiện để thờ tổ
tiên tộc họ, đến triều đại nhà Nguyễn chúng ta cũng thấy cửu đỉnh đặt tại Thái
Miếu ở Huế để thờ tổ tiên Việt Nam; Cửu H́nh chín h́nh phạt kẻ phạm tội thời xưa
gồm có : khắc chữ vào trán (mặc), cắt mũi (tị), chặt chân (phi), thiến (cung),
chém đầu (đại lích), cho đi đày (lưu), đem của đến chuộc tội (thục), đánh bằng
roi (tiên), đánh bằng roi gỗ (phác); Cửu Tuyền là chín suối, để chỉ người chết
đem chôn xuống đất; Cửu Long Giang là sông Cửu Long có 9 cửa; Cửu đại hơn ngoại
nhân là ư nói quan hệ máu mủ là thân thuộc hơn hết, dù có họ hàng xa c̣n hơn
người dưng.
Viết đến đây, tôi nhớ Ông Bà ḿnh thường thờ Cửu Huyền Thất Tổ.
Vậy, Cửu Huyền Thất Tổ là ǵ ?
Theo thiển ư của tôi là Cửu Huyền tức 9 đời và Thất Tổ tức 7 tổ ?
Bởi v́, con số 7 và 9 ở đây để phân biệt nam và nữ như đă dẫn ở trên. Đó là ư
kiến, xin quư bậc cao minh bổ túc chỉ dạy thêm.
Cửu Huyền hay Cửu Tộc hoặc Cửu Đại tức ḍng họ gồm 9 đời tính từ cao
đến thấp đối với ḍng họ trong gia tộc, được tính từ đời Ông Bà Sơ trở xuống đến
các Chút như sau : Ông Bà Sơ (Huyền tổ), Ông Bà Cố (Tằng tổ), Ông Bà Nội hay
Ngoại (Tổ phụ/Hiền tổ), Cha Mẹ (phụ thân), bản thân, các con (tử), các cháu
(tôn), các chắt (tằng tôn) và các chút (huyền tôn).
Có người nói : Cửu Huyền gồm 9 bậc, nghĩa là ḿnh đứng ở giữa có trên 4 bậc và
có dưới 4 bậc tức là : Cao, Tằng tổ, Tổ, Khảo, Kỷ, Tử, Tôn, Tằng tôn, Huyền tôn.
C̣n Thất Tổ là ǵ ?
tức là tổ tông 7 đời, bởi có câu Thất Thế Phụ Mẫu cũng căn cứ sự dẫn chứng ở
trên, được tính từ Ông Bà Nội trở lên đến Ông Bà Kỷ : 1.- Ông Bà Nội (Tổ Phụ/
Hiền tổ), 2.- Ông Bà Cố (Tằng tổ), 3.- Ông Bà Sơ (Huyền tổ), 4.- Ông Bà Sờ (Lai
tổ), 5.- Ông Bà Sẩm (Côn tổ), 6.- Ông Bà Cẩm (Nhưng tổ) và 7.- Ông Bà Kỷ (Vân
tổ).
Do vậy, Ông Bà ḿnh thờ Cửu Huyền Thất Tổ là thờ cả ḍng họ nhiều
đời từ Ông Bà Kỷ (Vân Tổ) đến các Chút trong thân tộc, đáng cho người hậu thế
như chúng ta noi gương. Bởi v́, đó là căn bản đạo đức của dân tộc Việt-Nam đáng
ngưỡng mộ và biết ơn tiền nhân, không khác :
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây,
Uống nước nhớ kẻ đào giếng vậy!
Và lúc nào cũng tưởng nhớ đến quốc tổ Hùng Vương, bằng chứng
trong dân gian thường ghi nhớ nằm ḷng ngày giỗ tổ là :
Dù ai buôn bán gần xa,
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba, mùng mười
Hơn nữa, chữ Cửu Huyền Thất Tổ tức 9 huyền 7 tổ, nếu chúng ta
cộng 2 con số 9+7=16, rồi cộng tiếp 1+6 th́ có con số là 7 rớt đúng con số tối
đa của nguyên số gồm : Đất 2, Trời 3 và Vạn vật 2 .v.v.
Xin tạm chấm dứt ở đây, v́ tôi thấy bài Con Số 5 viết chung với Gs Toàn Phong
Nguyễn Xuân Vinh cũng nhắc lại bài Con Số của tôi, rồi bổ túc thêm phần của Gs
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nên quá dài, cho nên tôi chỉ trích đoạn bài Con Số
5 như đă trích dẫn ở trên.
Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ
 |