Sức mạnh từ niềm tin cái thiện
Thích Thanh Thắng
Trí thức Phật giáo ở đâu trong
bước đồng hành với dân tộc tiến vào thế kỷ thứ 21? Nh́n quẩn, nh́n quanh
trên mảnh đất chữ S này để đặt một câu hỏi mà biết chắc rằng sẽ có những câu
trả lời không thỏa. V́ cả hai h́nh thức: Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị
sự của Phật giáo Việt Nam đều có những biểu hiện vừa thừa vừa thiếu cả về
tŕnh độ tu tập và tŕnh độ học vấn, dẫn đến t́nh trạng cả nước có 40.000
Tăng Ni, 10 triệu Phật tử mà để xảy ra t́nh trạng kiêm nhiệm chức vụ không
đáng có.
Ngày càng nhiều các bạn sinh viên,
học sinh quan tâm đến Phật giáo mà không cần để ư đến cái chứng minh nhân
dân: “tôn giáo: không”, hay cái “thẻ đoàn”, “thẻ đảng” của ḿnh. Đó là một
thực tế đáng mừng, sau nhiều năm người ta “ngại” nhắc đến những cụm từ
“theo… tôn giáo” (như một loại thuốc phiện). Sức mạnh đang được bắt đầu từ
niềm tin cái thiện, đ̣i hỏi Phật giáo phải có những điều chỉnh mạnh mẽ...
Trong khi chúng ta hàng ngày vẫn
đang phải cảm thông cho những nhận thức sai lầm đă qua và đang tồn tại về
tôn giáo, th́ trên bục giảng của các trường đại học, Phật giáo gần như vẫn
chưa “ly dị” với “thuốc phiện”. Không ít người người “vận dụng” khái niệm
“tôn giáo” và cách nh́n của Mác về Thiên Chúa Giáo để gắn vào tất cả
các đạo khác nhằm lư giải cái điều mà vốn dĩ thời ấy (thế kỷ 19), Mác chưa
biết ǵ nhiều, đó là triết học phương Đông (cụ thể là Phật giáo trong các
mối quan hệ đồng nguyên đặc thù).
Sở dĩ tôn giáo được “thừa nhận”
tràn lan là do cái khái niệm “tôn giáo” ấy từ lâu đă bị người ta cào bằng,
đánh đồng dưới nhiều h́nh thức. Và không biết từ hôm nảo hôm nao, v́ lư do
ǵ, Phật giáo lại trở nên nhạy cảm trong các mối quan hệ xă hội đến vậy:
nhạy cảm với chính quyền, nhạy cảm với báo chí, nhà in, nhà xuất bản, nhạy
cảm với việc tổ chức lễ hội, treo cờ, tu tŕ và nhạy cảm cả với sinh viên,
học sinh.
Đạo Phật gắn bó keo sơn với dân
tộc suốt 2.000 năm lịch sử, để lại cho dân tộc một gia tài văn hóa, ngôn
ngữ, tư tưởng… đồ sộ, nhưng trong kiến thức của rất nhiều học sinh, sinh
viên, đạo Phật ở Việt Nam vẫn giống như một đứa trẻ mới ra đời. Bởi vẫn có
những sinh viên năm thứ hai, thứ ba trường Đại học Khoa Học Xă Hội và Nhân
Văn hỏi một cách hồn nhiên rằng: “Đạo Phật là đạo Bà la môn đúng không?”,
“Thần tài có phải là Phật không?”, “Những ông Phật to cao đứng ở cửa chùa có
phải là Thần hủy diệt không?”…
Nhưng đâu phải ngạc nhiên, v́
thực tế ngay cả những người trực tiếp làm công tác giảng dạy ở những trường
gọi là “Đại Học” c̣n thiếu một kiến thức tối thiểu về Phật học. Bởi đă có vị
giáo sư, tiến sĩ triết học nói một cách tự nhiên rằng: “Ông Phật ông ấy có
vợ, nhưng không hiểu sao ông ta lại căm thù phụ nữ đến thế?”. Của đáng tội,
cái quyền được "nói sai" ấy không dành chung cho tất cả mọi người mà chỉ là
đặc quyền của một thiểu số nào đó mà thôi. Nhưng phải nói Phật giáo Việt
Nam vẫn chưa có một hệ thống phân tích và đối thoại với các tư tưởng chung
quanh, nên có khá nhiều những câu chuyện bi hài về đạo Phật tương tự diễn ra
trong các trường đại học, sách báo…
Việt Nam đang bước vào thế kỷ 21,
thế kỷ mà các luồng tư tưởng, các giá trị tinh thần nhân văn, tiến bộ của
loài người đang có những tiến tŕnh dịch chuyển, điều chỉnh giao thoa, đắp
đổi cho nhau. Không ít người đă hùng hồn gọi đó là “toàn cầu hóa”. Việt Nam
đă có “toàn cầu hóa” trong lĩnh vực kinh tế cụ thể qua việc gia nhập WTO.
C̣n văn hóa Việt Nam đă “toàn cầu hóa” hay chưa? Áo dài, nước mắm, hoa sen,
đạo Phật, đạo ông bà hay một cái ǵ đó, câu trả lời vẫn để ngỏ ở phía trước…
Có điều công nghệ thông tin đă và
đang làm ngắn tiến tŕnh ấy. Mọi tư tưởng đều được con người biết đến chỉ
trong một từ khóa và cái nhấp chuột. Mọi “tô hồng” hay “bôi đen” đều không
thể che lấp được người biết sàng lọc, nhận thức về sự thật. Trong khi đó,
cách nh́n nhận về các giá trị tư tưởng của chúng ta vẫn chưa bước chân ra
khỏi những năm đầu thế kỷ 20: “bế quan” tư tưởng và “tỏa cảng” với cái mới.
Nói như nhà văn Nguyên Ngọc: “Suốt nhiều chục năm nay, chúng ta đă tập
trung toàn lực, cao độ, nhằm đào tạo ra con người biết vâng lời, thuộc ḷng
một số chân lư có sẵn, và từ đó người được học suốt đời cứ thế mà làm theo
cho đúng” (Tuổi Trẻ, 3-10-2007). “Làm theo cho đúng”, giống như người
bệnh phải uống thuốc, bác sĩ cho thuốc ǵ th́ uống thuốc ấy, cho đúng th́
khỏi bệnh, cho sai, cho nhầm th́ không những bệnh không khỏi mà c̣n nguy
hiểm đến tính mạng.
Cần phải nhắc thêm, mối quan hệ
giữa Phật giáo và chính quyền suốt trong lịch sử dân tộc là mối quan hệ đồng
nguyên đặc thù, tôn trọng và gắn bó, thúc ước và chi tŕ lẫn nhau. Mối quan
hệ ấy biết sử dụng những “bài thuốc đặc hiệu” để trị bệnh cho nhau. Chứ
không phải mối quan hệ “ban phát”. Bởi có ban phát là có “xin” và “cho”, mà
“xin-cho” th́ không phải phong cách của người học Phật. Đáng buồn, sự “ban
phát”, xin chức, cho quyền lại là một trong những biểu hiện của Phật giáo
Việt Nam hiện nay.
Một xă hội “biết vâng lời”, nói
gần giống như Khổng Tử “khắc kỷ phục lễ vi nhân” (nén ḿnh theo lễ là nhân),
điều đó có phần đáng quư. Nhưng một xă hội “nén”, “nín”, “cả tin” tuyệt đối
th́ không đáng quư chút nào. “Nén”, “nín”, “cả tin” th́ sẽ thiếu những con
người có dũng khí, thiếu “những con người tự do, dám và biết tự ḿnh đi t́m
lấy chân lư, sống và làm việc theo chân lư ḿnh đă chọn, chịu trách nhiệm về
sự lựa chọn ấy” (Nguyên Ngọc).
Bài học “dũng khí” từ trong lịch
sử dân tộc c̣n nằm nguyên vẹn trên trang giấy mặc dù trải qua bao nhiêu rách
nát, mâu thuẫn của ḷng người. Nguyễn Trăi, một nhân cách văn hóa lớn của
dân tộc, trong cuộc đời, đă từng phải thốt lên: “Ta dư cửu bị Nho quan ngộ”
(Bấy lâu ta đă bị cái mũ nhà Nho nó chụp làm cho sai lầm) và ông cũng từng
phát biểu “Lâm kỳ ngă diệc thượng thừa thiền” (Biết đâu gặp dịp tôi cũng sẽ
đi tu thiền). Và Ngô Th́ Nhậm, một sĩ phu Bắc Hà từng viết "Trúc Lâm tông
chỉ nguyên thanh" và tự xưng ḿnh là Đệ Tứ tổ… Người trí thức ấy đă dám nói
và dám sống. Người trí thức ấy ra vào trong các hệ tư tưởng và góp nhặt tinh
hoa cho ḿnh. Và người trí thức ấy đă cống hiến hết sức ḿnh để phục vụ dân
tộc.
Bây giờ, bóng dáng của người trí
thức ấy vẫn c̣n đó trong mỗi tâm hồn Việt. Mỗi người nên đào luyện tinh thần
ấy để hóa giải sự tự ti của dân tộc ḿnh suốt bao nhiêu thế kỷ. Nhưng không
phải bằng vũ khí và bạo lực. Bởi sức mạnh bắt đầu từ niềm tin vào cái thiện
và vào một nền tảng văn hóa tâm linh vững chắc. T́nh trạng “chưa đánh đă
đau” của trí thức Phật giáo đang là một hiện trạng đáng buồn, làm cùn nhụt ư
chí, mất đi những bản “sớ tấu” đả hôn Tăng, nghịch đạo, mất đi những ng̣i
bút tôn trọng sự thật. Và đó chính là khởi nguồn của mọi nhu nhược, sai lầm,
nhiễu nhương...
Đáng nói, vẻ ngoài hào nhoáng với
chùa to cảnh lớn, người ra kẻ vào, lên xe xuống ngựa, lễ lạc quanh năm đă
khiến cho nhiều người cứ ngỡ rằng đó là một “giấc mơ”, là “sự phát triển
vượt bậc”. “Giấc mơ” ấy tuy đẹp nhưng đẹp cỡ nào th́ cũng vẫn là một giấc
ngủ dài, mà ngủ dài là vẫn chưa tỉnh, chưa tỉnh mà cứ nói cứ làm th́ đó là
mộng du, mộng du th́ hư ảo, không thật. Hóa đi đi một ṿng trở lại mới thấy
cái gọi là bề thế ấy vốn “không thật”. Như vậy, muốn tụ hội người trí thức
Phật giáo th́ phải có niềm tin và sức mạnh để bước ra khỏi cái màn hư ảo ấy.
Trí thức Phật giáo ở đâu trong
bước đồng hành với dân tộc tiến vào thế kỷ thứ 21? Nh́n quẩn, nh́n quanh
trên mảnh đất chữ S này để đặt một câu hỏi mà biết chắc rằng sẽ có những câu
trả lời không thỏa. V́ cả hai h́nh thức: Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị
sự của Phật giáo Việt Nam đều có những biểu hiện vừa thừa vừa thiếu cả về
tŕnh độ tu tập và tŕnh độ học vấn, dẫn đến t́nh trạng cả nước có 40.000
Tăng Ni, 10 triệu Phật tử mà để xảy ra t́nh trạng kiêm nhiệm chức vụ không
đáng có.
Từ đó sinh ra những “đặc quyền,
đặc lợi” và tệ toan. Trong khi nhiều tổ chức chính trị xă hội cố gắng quy
định tuổi tác để có chiến lược đào tạo người kế cận một cách bài bản và có
tuyển chọn th́ Phật giáo vẫn chưa bước ra khỏi cái vỏ “thâm niên”, “hạ lạp”
của ḿnh, từ đó tŕ trệ trong các quyết sách và tổ chức thực hiện. Điều đáng
nói, cái “thâm niên”, “hạ lạp” ấy lại có một bức b́nh phong cố hữu là “kinh
nghiệm ngồi lâu” bảo vệ.
Và để không “vi phạm” vào các
nguyên tắc “đạo đức tu hành”, người trên nói ǵ, không cần đúng hay sai, phù
hợp hay không phù hợp, người dưới cứ thế nhắm mắt vào làm, không phản ứng,
không tranh luận v́ đó là chân lư của “thâm niên” tu hành. Người dưới chỉ
rào đón ư kiến người trên để làm việc sao cho không mất ḷng, dẫn đến t́nh
trạng xu phụ, nịnh nọt, tâng bốc làm mát ḷng nhau. Một số người trong hàng
lănh đạo không đủ đức tài, nhờ sự can thiệp nào đó mà có đường đi tắt, có
chức vụ cao.
Tư tưởng vùng miền phần lớn chi
phối phần nhiều hàng lănh đạo, dẫn đến t́nh trạng kết vây kéo cánh, phủ
quyết những việc làm của nhau không v́ lợi ích chung. Thiếu bản lĩnh nh́n
nhận trước các diễn biến Phật giáo, dẫn đến phát ngôn không cân nhắc, hoặc
“có chỉ đạo” gây chia rẽ Phật giáo không đáng có. Thiếu những động thái ḥa
giải, t́m ra tiếng nói chung v́ lợi ích của Phật giáo và dân tộc, nên để sự
chia rẽ Phật giáo kéo dài trong nhiều năm nay, đó là một vết đau thương chưa
được ư thức mà lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ c̣n nhắc măi. T́nh trạng thừa
kiêm nhiệm thiếu đầu óc tổ chức, thừa thâm niên thiếu sáng tạo đang làm mất
dần niềm tin, ư chí phấn đấu của nhiều thế hệ kế cận và những người có cảm
t́nh với đạo Phật.
Hăy nh́n vào những nhược điểm cố
hữu đó để tạm quên đi những lời chúc tụng mà tiến bước. Bước vào đâu? Bước
vào thế kỷ 21 với những tiến bộ và khủng hoảng mang tính toàn cầu. Bước vào
“ḷng trong sạch” (Tịnh độ nhân gian) mà Trần Nhân Tông đă nói đến. Muốn
song hành như vậy th́ nên điều chỉnh mạnh mẽ, dám nói, dám làm, dám từ bỏ sự
ôm đồm danh lợi và quan trọng là lắng nghe những ư kiến trái ngược, nh́n vào
sai lầm, yếu kém của chính ḿnh.
Bởi một người tu hành tốt và một
người lănh đạo tốt, một người có kiến thức và một người biết tổ chức không
phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau. Nhận thức như vậy để điều chỉnh cơ cấu
tổ chức, để giá trị “xuất thế”, “nhập thế” không bị chồng chéo như hiện nay,
người già phải được an dưỡng, người trẻ phải được dẫn dắt để thử sức. Có như
vậy mới tận dụng được sức người và phát huy được tinh thần Phật giáo Việt
Nam: “Khi đi gió cuốn mây bay. Khi đứng núi yên non vững”.
http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article&sid=2569