|
GIÁ TRỊ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO TRONG TRUYỆN KIỀU
Thượng Toạ Thích Thiên Ân
Lời
BBT TVHS:
Bài tiểu luận này là bài viết của Thượng Toạ Thích Thiên Ân, Khoa trưởng Văn
Khoa Đại Học Vạn Hạnh, Trưởng Ban Sử Học Đại Học Văn Khoa Sài G̣n, được đăng
trong Văn Hóa Nguyệt San tháng 10 &11 năm 1965 do Nha Văn Hóa Tổng Bộ Văn Hóa Xă
Hội VNCH xuất bản (từ trang 1507 - 1527). Bài tiểu luận này cũng là bài diễn
thuyết tại Thính đường Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ, ngày Chủ nhật
21-11-1965 do Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hoá Á Châu và Phân Khoa Văn
Học Khoa Học Nhân Văn thuộc Viện Đại Học Vạn Hạnh tổ chức vào dịp “Kỷ niệm 200
năm thi hào Nguyễn Du”.
MỤC LỤC
A - DẪN NHẬP
1) Mục đích và ư nghĩa của đề tài
2) Giới hạn phạm vi đề tài
B - NỘI DUNG
I) Các thuật ngữ được xử dụng trong truyện Kiều
II) Định luật vô thường hữu hạn của vũ trụ nhân sinh
III) Thuyết nghiệp báo biểu hiện trong truyện Kiều
IV) Thuyết Nhân Quả
V) Những vần thơ đầy đạo vị trong thi ca truyện Kiều
VI) Giáo lư Tứ Đế
VII) Ư nghĩa của chữ Tâm
VIII) Một vài triết lư khác bàng bạc qua thi phẩm Kiều
C - KẾT LUẬN
A. DẪN NHẬP
Nếu
như ‘Thơ là người’ th́ qua tác phẩm truyện Kiều, chúng ta có thể thấy được một
Nguyễn Du đầy kinh nghiệm lịch lăm trên đường đời, một Nguyễn Du dồi dào t́nh
thương và ư chí dù phải gặp bao nhiêu trở ngại, gian truân và thử thách.
Cái
hay cái đẹp của truyện Kiều không những ở chỗ ngôn từ hoa lệ, văn chương thẩm mỹ,
ư tứ thâm trầm phong phú, mà c̣n ở chỗ tác giả đă mượn cốt người trong truyện để
miêu tả một cách khéo léo tài t́nh những thăng trầm vinh nhục của cuộc đời,
những vui buồn thương ghét của con người, và những tan hợp bèo mây của thực
trạng xă hội. Cao xa hơn nữa, Nguyễn Du đă dùng truyện Kiều để diễn đạt một
quan niệm triết lư nhân sinh, một giá trị triết học tôn giáo, theo ư của người
viết điểm đặc sắc của truyện Kiều là ở đó, và có lẽ v́ thế nên quần chúng Việt
Nam, nhất là các giới b́nh dân đă đón nhận truyện Kiều như một vật thương yêu
nếu không phải là chính của ḷng ḿnh, đời ḿnh.
Cổ
nhân nói: ‘Dĩ nhân tải đạo’ (lấy văn chương mà chở đạo lư). Câu nói ấy rất
thích hợp cho truyện Kiều. V́ lẽ ấy nên người viết không đồng ư với quan điểm
khe khắt của một số người đă phê b́nh: ‘Truyện Kiều là một tác phẩm khêu gợi
ḷng tà dâm, dục vọng, là vi phạm đến luân lư đạo đức.’ Trái lại đọc truyện
Kiều chúng ta thấy bàng bạc trong văn, trong lời, những đức tính hy sinh vô
cùng, những kham nhẫn tột độ của kiếp nhân sinh thống khổ.
Khi
đọc truyện Kiều dù tâm hồn có sắt đá bao nhiêu ta cũng không thể dằn ḷng rung
cảm, thương cho nàng Kiều v́ ‘tài hoa bạc phận’, thương cho Nguyễn Du ‘sinh bất
phùng thời’, thương cho ta, thương cho những người đă sinh ra trong cuộc đời phù
du ảo mộng! Ḷng thương ấy là ǵ? Nếu không phải là chữ ‘Nhân” của Khổng Tử,
chữ ‘Kiêm ái’ của Mặc Tử, chữ ‘Bác ái’ của Đức Chúa, và chữ ‘Từ Bi’ của Đức
Phật.
Tuy
nhiên ở đây người viết không có ư đề cao giá trị văn chương nghệ thuật của
truyện Kiều, cũng không có ư so sánh Nguyễn Du với những nhà đại văn hào của
nhân loại. Thiết nghĩ việc ấy coi như thừa, v́ chính tác phẩm và tác giả đă tự
chứng minh cho giá trị của ḿnh trong quá tŕnh văn học sử Việt Nam và thế giới.
V́
vậy ở đây người viết chỉ có ư khai thác một khía cạnh triết học tôn giáo trong
truyện Kiều, hầu góp một vài nhận xét về truyện Kiều trong văn đàn Việt Nam.
Đứng về khía cạnh triết học tôn giáo, chúng ta thấy : tư tưởng triết học tôn
giáo nổi bật nhất trong truyện Kiều là tư tưởng triết học của Phật giáo. Điều
này cũng không lấy ǵ làm lạ, v́ như chúng ta đă biết Nguyễn Du là một nhà nho
học uyên thâm và ở nước ta thời ấy từ Nho học bước qua Phật học rất gần, bởi lẽ
hầu hết kinh điển của Phật giáo đều viết bằng chữ Hán. Vả lại trong mảnh đất
’đất lành chim đậu’ với truyền thống ‘tam giáo đồng nguyên’ nầy, th́ không những
một ḿnh Nguyễn Du mà đến cả các nhà văn hóa đương thời hầu hết cũng đều ảnh
hưởng bởi tinh thần nầy.
Tuy
nhiên, riêng về truyện Kiều th́ chúng ta thấy, dù trong đó có nhiều đoạn đề cập
đến những đạo nghĩa luân thường của Nho học và những ước vọng tiêu dao phóng
khoáng của Lăo Trang, nhưng kỳ thật th́ ảnh hưởng của Phật giáo bao giờ cũng sâu
đậm hơn cả.
Thật vậy, điểm độc đáo của triết học Phật giáo là ở chỗ coi nhân sinh và vũ trụ
là vô thường, giả huyễn, hữu hạn và đau khổ để xây dựng cốt truyện và diễn đạt
t́nh cảm cuộc đời của các nhân vật trong truyện. Sau đây chúng ta sẽ cùng t́m
hiểu rơ ràng về nỗi đau khổ của kiếp người theo quan điểm của nhà Phật.
1)Mục
đích và ư nghĩa của đề tài:
Thi
phẩm truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng nhất trong thi đàn Việt Nam vào thế kỷ
thứ mười tám. Thi phẩm đă chuyên chở nhiều tư tưởng Phật học có giá trị sâu
sắc, nhưng thực tế trong các tài liệu nghiên cứu văn học Việt Nam đă có nhiều
cái nh́n khác nhau. V́ thế người viết trong phần biên khảo luận văn này đă nổ
lực đi t́m giá trị đích thực của triết học Phật giáo trong thi phẩm nói trên.
Giá
trị triết học Phật giáo đă biểu hiện khác nhau qua các giai đoạn của cuộc sống
mười lăm năm đoạn trường của Thúy Kiều. Người viết cố gắng phân tích đạo Phật
trong nhận thức của Nguyễn Du và ảnh hưởng của đạo Phật trong văn chương truyện
Kiều.
2)Giới
hạn phạm vi đề tài:
Trong phần biên soạn nầy, người viết chỉ đề cập đến một số nét nổi bật sau đây:
a)
Các thuật ngữ Phật giáo được xử dụng trong truyện Kiều
b)
Thuyết nghiệp báo biểu hiện trong thi phẩm
c)
Giáo lư nhân quả
d)
Ư nghĩa chữ tâm
e)
Giáo lư Tứ Đế
f)
Định luật vô thường hữu hạn của vũ trụ nhân sinh
g)
Các triết lư khác bàng bạc qua thi phẩm
B. NỘI DUNG
I-
CÁC THUẬT NGỮ ĐƯỢC XỬ DỤNG TRONG TRUYỆN KIỀU
Trong truyện Kiều có rất nhiều thuật ngữ liên hệ đến đạo Phật được tác giả xử
dụng với thâm ư chuyên chở một nội dung đạo vị. Những thuật ngữ này phần nhiều
xuất xứ từ các kinh Địa Tạng, Phổ Môn, Thủy Sám, Chẩn Tế khoa nghi ... Nhưng ở
đây người viết chỉ bàn đến một số thuật ngữ ít được lưu ư.
1)
Đoạn trường: Có thể đă được rút từ kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân: ‘Như
viên đề ái tử, thốn thốn đoạn can trường (như vượn khóc con yêu, đứt ra từng
khúc ruột)’. Lấy tích con vượn mẹ yêu con bị thương không nỡ rời, người ta bắn
cả hai mẹ con về làm thịt. Khi mổ bụng ra vượn con tuy bị thương mà ruột vẫn
lành lặn, c̣n vượn mẹ v́ quá thương con nên ruột đă bị đứt ra từng khúc.
2)
Trạc tuyền: là pháp danh của Thúy Kiều khi xuất gia. Tên này lấy tích từ
văn Thủy sám, bài tựa có câu: ‘Nhạn hạ hữu tuyền, minh đán trạc chi tức dũ’ (dưới
núi có ḍng suối, sớm mai xuống rửa mụt ghẻ sẽ khỏi ngay). Cụ Nguyễn Du đặt
cho Kiều cái pháp danh ấy, phải chăng dụng ư nói Kiều cũng có một oan hồn theo
báo đời như kiểu oan hồn của Triệu Thố mười đời theo dơi Ngộ Đạt quốc sư để báo
thù? Và oan hồn theo báo nàng Kiều không ai khác hơn là Đạm Tiên vậy. Cái suối
giải oan cho Kiều chính là sông Tiền Đường, nơi nàng nhảy xuống từ trần, và hồn
ma Đạm Tiên đă đến tỉ tê khi nàng vừa được vớt lên đang c̣n ‘mơ màng phách quế
hồn mai’.
‘Rằng tôi đă có ḷng chờ
Mất
công mười mấy năm thừa ở đây’
Rơ
ràng là hồn ma Đạm Tiên vẫn theo báo Kiều cho đến bây giờ khi nàng sạch nghiệp
mới chịu buông tha. Nó c̣n muốn cho Kiều phải chết trong tủi nhục và sống trong
đọa đày. Lần đầu tiên khi Kiều toan tự sát bằng con dao để khỏi rơi vào tay tú
bà, th́ hồn ma ấy lại hiện lên răn đe:
‘Số
c̣n nặng nợ má đào
Người dù muốn thác trời nào đă cho
Hăy
xin hết kiếp liễu bồ
Sông Tiền Đường sẽ hẹn ḥ về sau’
Nghĩa là khi Kiều đáng chết để khỏi nhục th́ hồn ma Đạm Tiên cản ngăn, làm cho
nàng phải sống nhục.
3)
Am mây: thường dùng trong truyện Kiều ‘am mây quen lối đi về đời hương’.
Do chữ trong Cao tăng truyện, thiền sư Nhất Biến cất am trên núi cao, tu thiền
có để lại bốn câu thơ:
‘Thiên phong đănh thượng nhất gian ốc
Lăo
tăng bán gian, vân bán gian
Tạc
dạ vân tùng phong vũ khứ
Đáo
đầu bất tợ lăo tăng nhân’
(Trên đỉnh núi cao cất một gian nhà, lăo tăng nửa gian, mây nửa gian. Đêm qua
mây theo mưa gió đi mất. Rốt cuộc không bằng lăo tăng nhàn.)
4)
Phiến mây: khi Kiều ở Chiêu Ẩn am với Giác Duyên, Nguyễn Du tả:
‘Sớm khuya lá bối phiến mây
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương’
Hai
chữ phiến mây thường được viết sai là phướng mây, chữ phướng giải thích là cái
tràng phan treo trong, chứ không được giải thích. Kỳ thực, phiến mây mới đúng
hoặc đọc miếng mây theo tự dạng chữ Nôm. Như ta biết lúc bấy giờ, Kiều đang ở
chùa làm chú tiểu. Công việc một chú tiểu vào buổi đại hồng chung. Thứ tự công
việc của chú tiểu được diễn tả đầy đủ trong câu thơ trên. Ban ngày (sớm) th́
chép kinh trên lá bối, khuya dậy th́ đánh mộc bảng hay ‘mộc ngư’ (tấm bảng bằng
gỗ mít thường khắc h́nh con cá tượng trưng sự tỉnh thức, v́ cá rất ít ngủ) để
làm hiệu lệnh khi thức dậy, kế đến là khêu đèn cho sáng (ngọn đèn khêu nguyệt)
rồi dóng đại hồng chung (tiếng chảy nện sương) không ai ṃ tới những tấm phướng
làm ǵ vào giờ ấy. Bởi vậy, phiến mây chỉ có thể là tấm ‘mộc ngư’ hay tấm bảng
bằng gỗ mít đánh lên để thức chúng dậy buổi khuya. Chữ ‘mây’ rút từ bài tựa
Kinh Địa Tạng và nhiều kinh khác. Chư Bồ tát tụ hội đông như mây, nên có danh
từ ‘vân tập’. Tấm bảng bằng gỗ mít thường gọi chung là ‘ngọc bảng’, khi được
dùng để đánh hiệu lệnh ở pḥng ăn gọi là ‘phạn bảng’, ở pḥng tắm gọi là ‘thủy
bảng’, treo ở chánh điện triệu tập tăng chúng th́ gọi là ‘vân bảng’. Chữ phiến
mây xuất phát từ chữ ‘vân bảng’ nầy. ‘Ngọn đèn khêu nguyệt’ rút từ khoa Mông
sơn thí thực;
‘Kinh song lănh tống tam canh nguyệt
Thiền thất hư minh toán dạ đăng’
(Cửa
kính trăng thảm lạnh lùng, nhà thiền leo lét đèn chong canh dài)
‘Tiếng chày nện sương’ xuất xứ từ bốn câu thơ của Trương Kế:
‘Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền’
Tản
Đà dịch:
‘Trăng
tà tiếng quạ kêu sương
Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San’
5)
Nhồi tâm hương: Lúc ở Quan Âm Các nhà Hoạn Thư, công việc của nàng được
Nguyễn Du tả như sau:
‘Ngày phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương’
‘Ngày phô thủ tự’ nghĩa là ban ngày bày ra chép kinh.‘đêm nhồi tâm hương’ thường
đọc sai là ‘nồi’ giảng sai thành đồt ḷ hương trầm .. kỳ thực ‘tâm hương’ ở đây
là ngũ phần hương, năm thứ hương của pháp thân là: giới, định, tuệ, giải thoát,
và giải thoát tri kiến. ‘nhồi tâm hương’ là ngồi thiền, tĩnh lự (làm lắng dịu
những lo nghĩ) để tô bồi năm phần hương của pháp thân.
6)
Giọt nước cành hương: khi tả tâm trạng Kiều ở Quan âm các, Nguyễn Du đă
viết:
‘Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
ḷng rưới tắt mọi đường trần duyên’
Bốn
chữ ‘giọt nước cành dương’ rút từ khoa Mông sơn thí thực và khoa nghi chẩn tế:
‘Bồ
tát liễu đầu cam lồ thủy
Năng linh nhất trích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tạn quyên trừ
Phổ
sái đạo tràng tất thanh tịnh’
(Nước
cam lồ đầu cành dương của Bồ Tát có thể làm cho một giọt rưới khắp được cả mười
phương có thể trừ sạch hết những nhiễm ô, rưới khắp cả đạo tràng được thanh tịnh)
7)
Quan pḥng: cuối cùng hai chữ bí hiểm chưa ai giải đúng là hai chữ ‘quan
pḥng’ trong câu:
‘Quan
pḥng then nhặt lưới mao
Nói
lời trước mặt rơi châu vắng người’
Đây
là giai đoạn Kiều tu ở Quan âm các: ‘Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia’. Thật
ra tam quy thập giới mới đúng. Có lẽ những người sao chép không rành giới luật
trong đạo Phật mà chỉ quen danh từ tam quy ngũ giới nên đă tự tay sửa lại tưởng
cụ Nguyễn Du viết lầm, nhưng ông, một người am tường Phật giáo sâu sắc, một
người đă từng đọc kinh Kim Cang cả ngàn lần (xem thơ chữ Hán Nguyễn Du ) và khi
chết đă chết tỉnh giác như một thiền sư th́ không thể nào không biết đến giới
luật sơ đẳng của người xuất gia là tam quy thập giới. Chính chữ Quan Pḥng chỉ
cho mười giới ấy. Chữ Quan có nghĩa là quan bế (đóng cửa) có thể t́m thấy trong
từ ngữ Bát quan trai giới (giới để đóng tám cửa) ’Pḥng’ là pḥng phi chỉ ác,
tức là đề pḥng việc sai trái, dứt hẳn điều ác, chỉ cho luật. Như vậy chữ
‘quan’ chỉ cho bốn giới trọng trong mười giới Sa di, được ví như cửa phải đóng,
không thể khai mở được. Đó là bốn giới ‘sát, đạo, dâm, vọng’. ‘Pḥng’ chỉ cho
sáu giới khinh tiếp theo. ‘Then nhặt’ (then cài kỹ đóng chốt) là bổ túc cho ư
nghĩa chữ ‘quan’, bốn giới không thể vi phạm. ‘Lưới mao’ (mao là lông, nhẹ như
lông). Đọc ‘mau’ là sai, bổ nghĩa cho chữ pḥng chỉ sáu giới nhẹ, có thể du di,
chẳng hạn giới không ăn chiều.
II.
ĐỊNH LUẬT VÔ THƯỜNG, HỮU HẠN CỦA VŨ TRỤ NHÂN SINH:
Theo triết học Phật giáo th́ vũ trụ nhân sinh đều là do nhân duyên ḥa hợp với
nhau mà sanh, không có một vật nào thật có cả. Nhân duyên ḥa hợp ở đây là chỉ
cho trạng thái ḥa đồng tương hợp giữa hai phần thể chất và tinh thần (con người)
vật thể và h́nh thể (sự vật) hay nói đúng theo danh từ của Phật giáo là tứ đại
và ngũ uẩn. V́ vũ trụ nhân sinh là do tứ đại và ngũ uẩn ḥa hợp lại thành, nên
tất cả đều là vô thường, giả huyễn, hữu hạn và đau khổ.
Dựa
vào quan điểm này của Phật giáo, nên cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều, cũng được
gọi là ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ đă mở đầu cho cuốn truyện của ḿnh bằng bốn câu
thơ sau:
‘Trăm
năm trong cơi người ta
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng’
Trong bốn câu thơ mở đầu này, chúng ta thấy tác giả đă phác họa ra trước mắt ta
một cảnh đời đau thương áo năo của những vô thường biến đổi,những thăng trầm
vinh nhục, những băi bể nương dâu của cuộc đời. V́ thế đă sinh ra kiếp người
không ai có thể tránh khỏi cảnh vô thường, đau khổ và chết chóc. Chết trẻ, chết
già, chết bịnh, chết hoạn, chết v́ bao nhiêu thử thách gian truân của cuộc đời,
ít người sống vượt khỏi giới hạn 100 năm. Đối với kiếp người ba vạn sáu ngàn
ngày, tuy là dài, nhưng đối với thời gian vô tận th́ nó ngắn ngủi làm sao!
V́
cảm nhận sâu sắc định lư vô thường nầy của kiếp người, nên có một triết gia Âu
tây đă nói: ‘Không có ai được diễm phúc đặt chân hai lần trên một ḍng sông.’
(One can not step twice in the same river) Vâng! Không ai có thể tắm được một
ḍng sông hai lần, v́ nước sông luôn luôn lưu động di chuyển, v́ các tế bào
trong con người luôn luôn sinh diệt, diệt sinh. Con người ngày hôm qua không
phải là con người ngày hôm nay. Ḍng sông của giờ phút trước không đồng với
ḍng sông của giờ phút sau, thay đổi khác nhau từng tích tắc sát na, như thế th́
làm sao mà đặt chân được hai lần trên một ḍng sông?
Tuy
nhiên, cũng nên nhớ thêm rằng: chính nhờ những trạng thái sinh diệt lưu động ấy
kế tục chuyền nối nhau, nên đă tạo ra kiếp sống hiện hữu của con người và sự tồn
tại của ḍng sông riêng về kiếp người với những vô thường biến đổi của nó, cụ
Nguyễn Du đă diễn tả nhận thức của ḿnh qua lời than của nàng Kiều sau đây:
‘Đau
đớn thay phận đàn bà!
Lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Phủ
phàng chi bấy hóa công
Ngày xanh ṃn mỏi má hồng phôi pha’
Và
kết quả của kiếp người vô thường biến đổi ấy,cụ Nguyễn Du trong lời thuật
chuyện của Vương Quan, gia nhân của họ Vương đă cho ta hay:
‘Đạm
Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi
danh tài sắc một th́
Xôn
xao ngoài cửa hiếm ǵ yến anh,
Phận hồng nhan có mỏng manh
Nửa
chừng xuân, thoắt găy cành thiên hương’
Một
người con gái đă mang nặng kiếp ‘hồng nhan bạc mệnh’ đă chịu chung số phận ‘Trâm
găy b́nh rơi ở giữa chừng xuân’ th́ làm ǵ có chồng con gia đ́nh, lấy ai mà săn
sóc hương khói, sớm viếng tối thăm? Đứng trước cảnh tượng vắng vẻ quạnh hiu của
nấm mồ bạc mệnh ấy, tác giả viết:
‘Sè
sè nấm đất bên đường
Dàu
dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh’
Rồi
th́:
‘Trải
bao thỏ lặn ác tà
Ấy
mồ vô chủ ai mà viếng thăm!’
Thật là thê lương áo năo,buồn thảm đau thương cho số phận của con người! Mà
không phải chỉ để dành riêng cho kẻ hồng nhan bạc mệnh.
Không những chỉ có những người con gái chịu số phận ‘trâm găy b́nh rơi ở nửa
chừng xuân’ như Đạm Tiên mới lâm vào cảnh ấy khi từ giă cuộc đời. Đến như cả
những người đàn bà khi sống nào chồng, nào con, nào gia đ́nh thân thuộc, nhưng
khi chết đi rồi th́ cũng chỉ một ḿnh một bóng, chôn vùi dưới ba thước đất lạnh
lẽo cô đơn mà thôi! Câu ca dao sau đây đă diễn tả cho số phận của những người
đàn bà ấy:
‘Sống
th́ làm vợ con anh,
Một
mai thác xuống,
Núi
rậm rừng xanh một ḿnh’
Nhưng nếu suy nghĩ cho kỹ th́ cảnh ‘Núi rậm rừng xanh một ḿnh’ ấy nào phải để
dành riêng cho số phận của những người đàn bà con gái mà thôi đâu, nó c̣n là
định mệnh chung của mọi người nữa. Xưa nay các vị công hầu vương bá, các bậc
nam nhi tài tử có ai tránh được cái chết đâu? Và khi đă chết th́ không c̣n phân
biệt nữa. Mọi người đều giống nhau trong cảnh trạng ‘Núi rậm rừng xanh một
ḿnh’. Suy người rồi ngẫm đến ta, ai mà không chạnh ḷng nghĩ đến số phận ḿnh
trong những giờ phút tử biệt ấy? Nhưng định lư vô thường của cuộc đời không
những chỉ hiển hiện trong lúc tử biệt mà thôi, nó c̣n đến với ta trong từng giờ
từng phút, trong những cảnh sinh ly nữa. Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đă lấy
Thúy Kiều và Kim Trọng làm điển h́nh để diễn tả cảnh sinh ly ấy qua hai câu thơ
sau:
‘Ông
tơ gàn quải chi nhau
Chưa vui sum họp đă sầu chia phôi!’
Rồi
khi nh́n thấy cảnh tai trời vạ gió, oan ức phân ly của gia đ́nh, em gái Kiều là
Thúy Vân cũng đă buột miệng than rằng:
‘Cơ
trời dâu bể đa đoan
Một
nhà để chị riêng oan một mỉnh!’
Cuối cùng cái ǵ sẽ đến đă đến với gia đ́nh họ Vương. Cụ Nguyễn Du đă dệt vào
trong cảnh sinh ly ấy giữa nàng Kiều với những người thân thích trong gia đ́nh
bằng mấy câu thơ sau:
‘Đau
ḷng kẻ ở người đi
Lệ
rơi thắm áo, tơ chia rũ tằm
Trời hôm mây kéo tối rầm
Dàu
dàu ngọn cỏ, đầm đầm canh sương’
Và
sau đó th́ những người thân thích trong gia đ́nh ‘hết cơn bỉ cực, đến thời thái
lai’, các tai biến hoạn nạn đều tiêu tan, mọi người đều được đoàn tụ vui vầy
trong vinh hiển th́ riêng chỉ có một nàng Kiều c̣n lận đận, lao đao,ch́m nổi
phiêu bạt trong bể khổ mênh mông không bờ bến:
‘Thương
ôi! Không hợp mà tan
Một
nhà vinh hiển riêng oan một nàng!’
Dựa
vào những nguyên tắc trên chúng ta thấy: v́ có gây ra nguyên nhân đau khổ nên
phải chịu quả đau khổ. Và kết quả khổ đau ấy được biểu hiện rơ ràng nhất ở kiếp
người vô thường giả huyễn này,v́ đă có thân th́ không ai tránh khỏi được khổ.
III . THUYẾT NGHIỆP BÁO BIỂU HIỆN TRONG TRUYỆN KIỀU;
Giáo lư nhà Phật khẳng định rằng :’Nước bao giờ cũng chảy xuống, tham muốn và
t́nh dục sẽ đưa con người vào ṿng trầm luân đau khổ.’ Vâng, chính tham muốn và
t́nh dục là một sức mạnh đẩy con người vào trong ṿng trầm luân đau khổ, hay nói
theo triết lư của nhà Phật là ‘nghiệp báo luân hồi’.
Là
một nhà Nho, học vấn thâm sâu, thông hiểu Phật lư, cụ Nguyễn Du đă một cách sâu
sắc thuyết nghiệp báo luân hồi nầy. Cho nên chúng ta thường thấy bàng bạc tản
mác trong truyện Kiều những câu thơ như sau:
‘Kiếp
xưa đă vụng đường tu
Kiếp này chẳng kẻo đến bù mới xuôi
Dẩu
sao b́nh đă vỡ rồi
Lấy
thân mà trả nợ đời cho xong!’
Hay
câu:
‘Người
này nặng kiếp oan gia
C̣n
nhiều nợ lắm sao đà thác oan!’
Hoặc là:
‘Làm
cho sống đọa thác đày
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!’
Hay
câu:
‘Cũng
là oan nghiệp chi đây,
Sa
cơ mới đến thế này chẳng dưng!
Kiếp này duyên đă phụ duyên
Dạ
đài c̣n biết sẽ đền lai sanh!
Đă
đành túc trái triền oan
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi!’
Dựa
vào thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật, chúng ta thấy rằng chết không phải
là hết, chết chi là một sự thoát xác, thay đổi từ một trạng thái sinh hoạt này
qua trạng thái sinh hoạt khác, đau khổ hoặc sung sướng hơn, tùy nghiệp nhân ḿnh
gây tạo ra ở kiếp trước. Người Việt Nam chúng ta nói riêng, các dân tộc Á đông
nói chung phần nhiều đều hấp thụ theo tư tưởng nghiệp báo luân hồi này của Phật
giáo, nên không bao giờ chúng ta tin rằng chết là hết, chết là mất hẳn.
Thật thế, một tiếng trống c̣n gây được vang âm trong những buổi chiều thâm trầm
ở những chốn núi rừng thung lũng; một viên đá rơi vào mặt nước c̣n khuấy động
lên được những làn sóng lăn tăn, lan dần đến nơi vô tận, huống nữa là một kiếp
người, kết tinh của nhiều động tác gây nên bởi hai phần vật chất và tinh thần.
Có
lẽ, v́ lẽ ấy nên người Việt Nam chúng ta thường có thói quen tin rằng: con người
sau khi chết, thể chất tan ră nhưng linh hồn vẫn c̣n tồn tại. Nàng Kiều cũng đă
tin như thế trong lời thơ sau:
‘Kiều
rằng những đấng tài hoa
Thác là thể phách, c̣n là tinh anh’
Để
chứng minh cho ḷng tin ấy, Nguyễn Du đă cụ thể hóa sự kiện xuất hiện mờ ảo linh
thiêng của Đạm Tiên trong buổi chiều Thanh minh, bên nấm mồ vô chủ của người con
gái bạc mệnh ấy. Sau đó, tiên sinh lại diễn tả thêm những phút ứng hiện gặp gỡ
trong mộng và những phút trùng phùng tái ngộ ở sông Tiền Đường giữa nàng Kiều và
Đạm Tiên. Điều này lại một lần nữa chứng minh cho ta thấy chết không phải là
hết là chấm dứt với cuộc đời. Nhất là những người chết oan, chết ‘bất đắc kỳ’,
chưa trả xong món nợ trần duyên, ở cuộc thế th́ lại càng không phải là hết hơn
nữa. Phần c̣n lại ấy của con người sau khi chết, chúng ta thường gọi là tinh
anh, là linh hồn. Và linh hồn ấy thường tồn tại ở thế giới vô h́nh, u linh,
hiển hách, phảng phất trong hương khói và thường hay trở về trần thế để viếng
thăm những nơi có nhiều liên hệ với ḿnh trong khi c̣n sống, nhứt là ở những
ngày húy kỵ, chạp giỗ v.v. Cũng v́ tin như thế, nên các gia đ́nh ở Việt Nam và ở
các nước Á Đông thường có tục lệ tổ chức những cuộc tế lễ đ́nh đám linh đ́nh
trong những ngày kỵ giỗ.
Cụ
Nguyễn Du đă diễn tả tập quán và ḷng tin ấy của giới b́nh dân Việt Nam qua lời
căn dặn của nàng Kiều đối với em là Thúy Vân:
‘Mai
sau dầu có bao giờ
Đốt
ḷ hương ấy so tơ phím nầy
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió là hay chị về
Hồn
c̣n mang nặng lời thề
Nát
thân bồ liễu đền ngh́ trúc mai
Dạ
đài cách mặt khuất lời
Rảy
xin chén nước cho người thác oan !’
Thúy Kiều đă có cái nghiệp nặng nằm sẵn ở trong ḿnh, cho nên từ lời nói cho đến
tiếng đàn đánh ra, đều có giọng đau đớn sầu khổ. Người đă có nghiệp như thế tức
đa sầu, đa cảm. Hai cái đó là cái mồi vô h́nh, cái dây vô tướng, để giữ người
ta vào chỗ đúng với cái nghiệp của ḿnh. Theo triết lư nhà Phật th́ ở đời không
có cái ǵ là không có nhân duyên, mà cái nhân duyên ấy kết thành cái nghiệp.
Cái phần tốt, phần hay của Kiều là ở chỗ dù khổ sở thế nào, cũng giữ được tâm
trong sạch, ḷng nhân nghĩa và sức phấn đấu với nghiệp chướng của ḿnh. Giá trị
của con người ở đời cốt ở chỗ ấy, mà cái nhân cách con người ta rơ rệt là cũng ở
chỗ ấy.
Cái
nghiệp đă định đi đến đâu mới hết, thi cứ phải đi cho đến cùng, chứ không sao
trốn được. Chẳng khác ǵ người có tội phải bị đọa trong một kỳ hạn đă định, nửa
chừng người kia muốn trốn, quan tư pháp không cho trốn, bắt phải chịu hết tội
mới tha.
Cái
thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật có vẻ giống như cái thuyết định mệnh
(déterminisme) của triết học phương Tây. Nhưng thực ra th́ cái định mệnh của
triết lư nhà Phật do ở tự ḿnh định ra chứ không phải do sức ngoài sai khiến.
Cái nghiệp tự ḿnh gây ra cho ḿnh chứ không phải là cái nghiệp từ đâu gây ra mà
bắt ḿnh phải chịu. V́ cái nghiệp bó buộc nàng Kiều chặt chẽ như thế, cho nên
cô phải chịu những sự đắng cay, như gặp sở khanh đánh lừa, bị tú bà bắt ra tiếp
khách. Thôi th́ ‘cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh’. Đến khi gặp Thúc lang,
tưởng thoát khỏi chỗ lửa hồng, ai ngờ lại bị Hoạn Thư hành hạ. Trốn nhà Hoạn
Thư đi ở chùa, tưởng là trút được nợ duyên, không may lai gặp bọn họ Bạc đem về
Châu Thai. Cứ hết ch́m lại nổi, nổi rồi lại ch́m. Ở Châu Thai gặp được Từ Hải
trong mấy năm nguôi nguôi, nhưng lại nghĩ đến việc binh đao hại người, xui Từ về
hàng ngờ đâu lại bị Hồ Tôn Hiến đánh lừa đem gả cho Thổ quan, giắt nàng đến sông
Tiền Đường là hết đời cô Kiều. Nhưng đời cô đến đó hết th́ cái nghĩa chữ nghiệp
không rơ là cái nghiệp do việc đă làm trước mà thành. Vậy nên tác giả làm nối
thêm đoạn tái hợp và đem lời sư Giác Duyên nói chuyện với sư Tam Hợp để định rơ
chỗ nghiệp nọ chuyển sang nghiệp kia. Việc cô Kiều hưởng thụ cái nghiệp khác,
đă rơ ra ở lời Đạm Tiên báo mộng cho Kiều ở sông Tiền Đường khi mới vớt lên, Đạm
Tiên nói:
‘Rằng
tôi đă có ḷng chờ
Mất
công mười mấy năm thừa ở đây
Chị
sao phận mỏng đức dầy
Kiếp xưa đă vậy ḷng nầy dễ ai
Tâm
thành đă thấu đất trời
Bán
ḿnh là hiếu, cứu người là nhân
Một
niệm v́ nước v́ dân
Âm
công cất một đồng cân đă già
Đoạn trường sổ rút tên ra
Đoạn trường thơ, phải đem mà trả nhau
C̣n
nhiều hưởng thụ về sau
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào’
Khi
nàng Kiều c̣n đang phải chịu cái nghiệp trước, th́ từ lời nói đến tiếng đàn, cái
ǵ cũng có cái giọng sầu khổ đau đớn. Thế mà Kiều đă trút hết cái nghiệp trước,
bước sang chịu cái nghiệp khác, th́ trong ḷng thư thái, không bồn chồn như
trước nữa, ngay tiếng đàn có đánh ra lúc ấy người ta nhận ra rằng: ‘Xưa sao sầu
thảm, nay sao vui vầy?’
IV- Thuyết Nhân Quả:
Theo triết lư của nhà Phật th́ ở giữa đời này không có một cái ǵ tự nhiên mà có,
ngẫu nhiên mà sanh. Nàng Kiều sở dĩ mang lấy nghiệp báo ‘sống đọa, thác đày’
như thế cũng không phải ngẫu nhiên mà có, tự nhiên mà sanh. Chính là do một túc
duyên tiền định, hay nói đúng theo danh từ Phật học là ‘luật nhân quả’ tức là
gây nhân ǵ th́ phải chịu quả ấy. Nhân lành th́ quả an vui, hạnh phúc:
Luật nhân quả này được Nguyễn Du diễn đạt qua lời báo mộng cho Kiều:
‘Rỉ
rằng nhân quả dở dang
Đă
toan trốn sự đoạn trường được sao?
Số
c̣n nặng kiếp má đào
Người dù muốn quyết trời nào đă cho?’
Ở
đoạn khác cụ Du lại diễn tả đạo lư nhân quả như sau:
‘Vả
trong thần mộng mấy lời
Túc
nhân âu cũng có trời ở trong
Kiếp này nợ trả chưa xong
Làm
chi thêm một nợ chồng kiếp sau ?’
Rồi
th́:
‘Cho
hay muôn sự tại trời
Phụ
người chẳng bỏ khi người phụ ta
Mấy
người bạc ác tinh ma
Ḿnh làm ḿnh chịu kêu mà ai thương ?’
Cũng cùng một quan điểm như trên, ở một đoạn khác, Nguyễn Du lại tŕnh bày
thuyết nhân quả một cách giản dị và phổ thông hơn nữa qua hai câu thơ sau:
‘Nàng
rằng: lồng lộng trời cao
Hại
nhân nhân hại sự nào tại ta ?’
Đấy
là ǵ nếu không phải là tŕnh bày một cách khác đi thuyết ‘thiện giả thiện báo,
ác giả ác báo’ (làm lành được quả tốt, làm ác th́ chịu quả báo xấu) của Nho học.
Có
nhiều người nghĩ rằng: nếu đúng như thuyết ‘nhân quả’ gây nhân ǵ chịu quả ấy
của Phật giáo và thuyết ‘thiện nhân, thiện báo, ác nhân, ác báo’ của Nho giáo
th́ tại sao ở đời này có nhiều người độc ác thất nhân mà vẫn được giàu sang,
sung sướng, cũng như có những người hiền lành lương thiện mà vẫn gặp bao điều
oan trái đắng cay (như trường hợp của nàng Kiều chẳng hạn) ? Như thế luật nhân
quả phải chăng là mâu thuẫn nhau? Muốn giải thích nghi vấn này, ta phải dựa vào
tiêu chuẩn sau đây:
Có
thứ nhân quả trực tiếp dễ thấy, có thứ nhân quả gián tiếp khó thấy, có thứ nhân
quả hiển hiện báo ứng trong hiện kiếp và cũng có những thứ nhân quả báo ứng qua
nhiều đời cách biệt thời gian và kiếp sống. Ở đây cũng thế, nàng Kiều dù hiện
tại là một người con gái hiếu nghĩa, biết hy sinh cho cha mẹ, gia đ́nh, nhưng
biết đâu ở quá khứ nàng đă gây ra các ác nghiệp? Những ác nghiệp ấy đă đến lúc
thuần thục th́ phải chịu quả báo đau khổ, về sau mới được thoát ly mà hưởng thọ
mọi điều an lạc phước báo nhờ nhân thiện ở đời này. Cho nên triết lư nhân quả
của nhà Phật có chia thành nhiều thứ như : nhân quả hiện tại, nhân quả nhiều
đời, nhất thế nhân quả, và tam thế nhân quả v.v..
Để
giải thích về đạo lư tam thế nhân quả này, trong các kinh luận của Phật giáo có
chép:
‘Dục
tri tiền thế nhân
Kim
sanh thọ giả thị
Dục
tri lai thế quả
Kim
sanh tác giả thị’
Nghĩa là:
‘Muốn
biết nghiệp nhân ở thời quá khứ
Xem
quả báo hưởng thọ ở đời này
Muốn biết kết quả ở đời vị lai
Xem
hành vi tạo tác ở hiện tại’
Những câu văn trên, ngoài việc chứng minh thuyết nhân quả hiển hiện báo ứng qua
nhiều đời ở quá khứ, hiện tại và vị lai, nó c̣n có tác dụng chứng minh cho ta
thấy thêm một lần nữa về định lư nghiệp báo luân hồi của đạo Phật vậy.
Ở
đây có điều chúng ta cần nghĩ rằng: đọc truyện Kiều và qua những câu thơ đă
trích dẫn trên cho thấy quan điểm nhân quả nghiệp báo của cụ Nguyễn Du không
những chỉ ảnh hưởng với thuyết ‘Nhân quả nghiệp báo’ của Phật giáo, mà c̣n ảnh
hưởng mật thiết với thuyết ‘Thiên mệnh’ của Nho giáo nữa. Thật vậy, chữ ‘Trời’
trong truyện Kiếu có nhiều nơi cụ Nguyễn Du đă thay thế cho chữ ‘Thiên mệnh’ của
Nho học và cũng có nhiều lúc đă thay thế cho chữ ‘nhân quả’ của Phật học. V́
tin ở ‘trời’ ở ‘thiên mệnh’ và ở luật ‘nhân quả’ nên nhân vật chính trong truyện
là nàng Kiều luôn tin rằng họa hay phúc, may hay rủi, vui hay buồn, tất cả đều
do thiên mệnh tiền định. Nàng cũng đă tự bào chữa cho cái tính đa sầu đa cảm
của ḿnh bằng hai câu thơ sau:
‘Rằng
quen mất nết đi rồi
Tẻ
vui thôi cũng tính trời biết sao’
Đối
với giới b́nh dân, không những tính t́nh là do thiên mệnh tiền định mà người ta
c̣n tin rằng mọi thăng trầm vinh nhục của kiếp người, mọi thay đổi biến thiên
của trời đất muôn vật, tất cả đều do thiên định. Có lẽ cũng v́ thế nên mỗi khi
có các tai nạn bất ngờ xảy đến như thiên tai, thủy nạn, hỏa hoạn, bệnh tật, mất
mùa.. họ thường tổ chức những cuộc sám tạ tế lễ, hay ăn chay nằm đất để cầu trời
khấn Phật. Có một điều lạ ở đây là dù Nguyễn Du là một nhà Nho học uyên bác
nhưng ông không chịu dừng lại ở thuyết ‘thiên mệnh’, hoàn toàn phó mặc số phận
con người cho tha lực như quan niệm của Nho giáo; trái lại, ông c̣n tiến xa hơn
về phương diện tư tưởng để đến gần với thuyết ‘nhân quả’, đưa con người đến tiêu
chuẩn tự túc tự cường của Phật giáo.
Thật ra, Kiều với ‘oan nợ túc khiên’ do tiền định và với những đọa đày lao khổ
muốn chấm dứt cuộc đời của nàng trong một kết luận buồn thảm đau thương và bất
công như thế. Ông đă muốn thể hiện đạo lư ‘thiện nhân thiện báo, ác nhân ác
báo’ của Nho giáo và Phật giáo trong hiện kiếp qua cuộc đời của nàng Kiều chứ
không phải chờ đợi đến lai thế như thuyết ‘tam thế nhân quả’ nữa.
V́
muốn chứng minh một cách rơ ràng rằng thuyết nhân quả báo ứng là một định lư
hiển nhiên thật có, và mọi người kể cả nàng Kiều đều có thể được đáp ứng tương
ứng với những hành vi, ngôn ngữ và ư nghĩ của ḿnh đă tạo ra trong kiếp sống
hiện tại nên tác giả của truyện Kiều đă làm cho Kiều sống lại thoát ly mọi oan
khiên tiền định ở sông Tiền Đường.
Dựa
vào sự kiện này ta có thể quan niệm rằng: đối với nàng Kiều, sông Tiền Đường là
một kết chung của cuộc đời hồng nhan bạc mệnh, cuộc đời phó mặc cho rủi may tiền
định, bất lực trước mọi hoàn cảnh éo le thử thách, nhưng đồng thời sông Tiền
Đường đối với Kiều cũng là khởi điểm cho một cuộc đời mới, cuộc đời hướng tới tự
lực nội tâm, rưới tắt những trần duyên tục lụy và ngày đêm trau giồi đức hạnh
giải thoát. Cuộc đời ấy theo Nguyễn Du là:
‘Phật
tiền thảm lấp sầu vùi
Ngày pho thủ tự đêm nhồi tâm hương
Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
ḷng rưới tắt mọi đường trần duyên’
Điểm đặc biệt của đạo Phật là ở chỗ phàm là con người dù tội lỗi bao nhiêu, nhơ
nhớp đến bực nào, nhưng nếu biết thành tâm sám hối, ăn năn tội lỗi th́ cũng có
thể trở thành người lương thiện trong sạch được. Bởi v́ theo Phật giáo th́ cái
tôi nhơ nhớp của con người không phải hoàn toàn do ở ngoại diện, mà lại căn cứ
vào những ư niệm tiềm tàng trong tâm thức của người ấy. Cho nên có người dù có
một bề ngoài hiền lành sang trọng, nhưng nếu trong ḷng ẩn chứa những bất lương
gian ác th́ đó là tội lỗi sâu xa, và trái lại, dù có một bề ngoài thấp kém thô
bạo, nhưng nếu trong ḷng ẩn chứa những đức tính hiền lương thiện mỹ th́ đó vẫn
là người trong sạch cao quư. Đức Phật ngày xưa cũng đă từng độ cho một người
chuyên làm nghề gánh phân, ở giai cấp hạ tiện bần cùng nhất của xă hội Ấn Độ.
Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa cũng thường kể lại câu chuyện có một người
suốt đời làm nghề đồ tể chuyên bán thịt heo, nhưng khi sắp lâm chung, biết hồi
tâm hướng thiện ăn năn sám hối nên cuối cùng cũng được giải thoát.
V. NHỮNG VẦN THƠ ĐẦY ĐẠO VỊ TRONG THI CA TRUYỆN KIỀU:
Ngoài việc chịu ảnh hưởng thuyết nhân quả và nghiệp báo nhà Phật, Nguyễn Du c̣n
viết ra những vần thơ đầy đạo vị Phật giáo. Ngôn ngữ thi ca vốn đă là rất biểu
tượng, ngôn ngữ thi ca Nguyễn Du c̣n biểu hiện trừu tượng hơn. Nguyễn Du, ngoài
rung cảm thi ca c̣n rung cảm trí tuệ Phật giáo. Nhà thơ núi Hồng Lĩnh đă nói
đạo Phật bằng tiếng nói của trái tim trần thế. Vần thi gợi lên ư ấy trong cảm
nhận của người viết trước tiên là:
‘Ai
ngờ lại hợp một nhà
Lựa
là chăn gối mới ra sắt cầm’
Mười lăm năm đoạn trường là một bài học về ‘Khổ đế’ mà nguyên nhân của nó, vừa
hợp với giáo lư Tứ đế vừa hợp với tinh thần giới luật nhà Phật, là ḷng khát ái,
dục ái:
‘Xót
trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc
điều t́nh ái, khỏi điều tà dâm’
Với
Phật giáo (tiêu biểu như các câu 1 và 2 trong kinh Pháp cú) th́ tâm làm chủ, tâm
tạo các nghiệp thiện và ác và sẽ nhận lấy quả báo tương ứng về sau. Với Kiều,
tâm cũng quyết định vui buồn và giá trị của đời sống:
‘Ngựi
buồn cảnh có vui đâu bao giờ’
‘Chữ trinh c̣n một chút này
Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan’
Hay
‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’
Với
Phật giáo, người phật tử mộ đạo, mến đạo quyết tâm sống đạo mà nếu không hiểu
đạo, không có chánh kiến th́ càng làm cô phụ giáo lư giải thoát mà thôi. Âm
hưởng giáo lư đó lại vọng vào trong vần thơ tái hợp mà không tác hợp với Kiều:
‘Người
yêu ta xấu với người
Yêu
nhau th́ lại bằng mười phụ nhau’
Ngay cả giáo lư Phật giáo minh bạch thế mà nếu hành giả chấp thủ nó (chấp giới,
định, tuệ như kinh Xà dụ tŕnh bày) th́ sẽ rơi ngay vào cảnh: ‘Yêu nhau th́ lại
bằng mười phụ nhau’.
Phật giáo, tiêu biểu như phẩm Kinh Hạt Muối, Tương Ưng Bộ kinh, bảo rằng người
với tâm từ bi rộng lớn th́ hầu như không chịu hậu quả của các việc làm nhỏ bị
sai trái. Với Kiều th́ Nguyễn Du xác định:
‘Như
nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi
nào cho đục được ḿnh ấy vay’
Kinh Kim Cang Bát Nhă, một bộ kinh nổi tiếng của Đại Thừa, th́ nh́n mọi hiện hữu
đều do duyên sinh, chúng không có tự ngă, thực sự ở ngoài các giá trị cấu, tịnh,
thiện, ác, thị, phi... chúng thực sự không gây trở ngại đến vấn đề tự do, giải
thoát của con ngựi. Trở ngại giải thoát nằm ở tâm con người, ở ḷng tham ái,
chấp trước của con người. Tư tưởng này như là có chuyển âm hưởng của nó vào vần
thi”
‘Duyên
kia có phụ chi t́nh
Mà
toan chia gánh chung t́nh làm đôi’
Với
người con Phật, khi tâm tham ái, chấp trước được khoá chặt, được kiểm soát, th́
các hành động thân, khẩu, ư trở thành các hành động giải thoát hết thảy. Với
Kiều, sau những ngày tháng đoạn trường th́:
‘Từ
ngày khép cửa pḥng thu
Chẳng tu th́ cũng như tu mới là’
Người tu tập đạo Phật, đặc biệt là các bậc Thánh hữu học, dù tâm đă tỏ tường đạo
lư, sự thật mọi hiện hữu, những tập quán sinh tử vẫn c̣n vương vấn thân sắc và
cơi ḷng. Nguyễn Du lại diễn đạt một tâm trạng của Kiều sao mà nghe như động đến
tâm hồn của một thiền sư vậy, khi nhà thơ viết:
‘Tiếc
thay chữ nghĩa cũ càng
Dù
ĺa ngó ư, c̣n vương tơ ḷng’
Nhưng khi thiền sư đă hất đổ hết các vọng tưởng, đốt cháy hết sầu bi th́ quả là
giờ phút đại phúc, nghe như vừa dựng đứng dậy cả khung trời giải thoát, bởi v́
bấy giờ Thiền sư đă phá tan hết sương vô minh đă nhiều đời che khuất ngơ ư và
làm tan hết mây dục vọng đă nhiều đời giăng bít trời tâm. Nguyễn Du đă chuyển
qua Kiều một cảm xúc của thời kỳ hội ngộ như là cảm xúc một thiền sư đang đối
diện với giải thoát:
‘Trời
c̣n để có hôm nay
Tan
sương đầu ngơ, vén mây giữa trời’
Thư
của Nguyễn Du nghe ra vừa thơ vừa đạo suốt cả tâm sự Thúy Kiều. Nếu ai đó t́m
hiểu kỹ giáo lư nhà Phật rồi đọc lại thi phẩm tuyệt tác Kim Vân Kiều th́ sẽ bắt
gặp rất nhiều, nhiều lắm các vần thơ lồng ư đạo. Thi ca của thiên tài Nguyễn Du
như h́nh thành một lúc hai bè nhạc: một bè của khúc đoạn trường, bè kia là âm
vang của trí tuệ giải thoát.
VI. GIÁO LƯ TỨ ĐẾ:
Đạo
Phật khi nói đến khổ chính là đang vẽ lại bức tranh hiện thực mà cuộc đời vốn
sẵn có. Cái sẵn có ở đây, thế nhân từ bao đời cũng tốn biết bao nhiêu giấy mực
để nghiên cứu và t́m hiểu. Nhưng chỉ hiểu mơ hồ mông lung .. Người đời thấy
khổ khi phải tiếp cận với nó để rồi than khóc rầu buồn mà vẫn không dứt ra được
ḷng chấp chặt theo nhân t́nh thế sự. Nguồn gốc sâu xa của khổ được giáo lư nhà
Phật đề cập tới trong Tứ Đế rất rơ ràng và khúc chiết. Sở dĩ có đau khổ (khổ đế)
là v́ đă gây ra nguyên nhân khổ đau (tập đế). Ngược lại cũng thế, sở dĩ có quả
vị Niết ban an vui (diệt đế) v́ đă thực hành theo phương pháp chánh đạo (đạo đế).
Triết lư về khổ xuất hiện rất đậm nét và đa dạng qua thi phẩm truyện Kiều, ở đó
Nguyễn Du đă xây dựng rất công phu về nhận vật Kiều. Và ông đă thành công khi
biết xử dụng cả ngôn từ lẫn ư nghĩa của đạo Phật để làm nổi bật tính cách của
nhân vật và cũng từ đó tác phẩm đă trở thành một kiệt tác trong thiên hạ. Mượn
thân phận của người con gái, một thành phần hứng chịu nhiều bất công và đau khổ
nhất của thời phong kiến xa xưa. Cái khổ ấy là do xă hội và con người mang lại
cho nàng, nhưng sâu xa hơn hết, chính là do bởi nơi nàng tự chuốc lấy bao phiền
muộn cho ḿnh, để rồi phải chịu kiếp long đong truân chuyên qua mười lăm năm
đoạn trường. Nguyên nhân tạo ra bao cảnh đoạn trường cho nàng là do ‘từ ái sanh
ưu, từ ưu sanh khổ’ t́nh ái vốn là điều tất nhiên của con người, nhưng điều tất
nhiên ấy đă khiến cho con người phải ch́m nổi măi trong sóng gió ba đào. Nếu
Kiều không v́ tấm ḷng thương cảm một nấm mồ bên đường, không nặng mối t́nh si
với chàng Kim và hơn thế nửa là t́nh thương của nàng đối với gia đ́nh cha mẹ th́
nàng có thể bước qua cuộc đời một cách ung dung tự tại hơn, trên bước đường
phong trần dày dạn và chữ t́nh cũng đă bao lần chịu cảnh thương sâu khóc hận cho
một kiếp hồng nhan.
‘Vẽ
chi chút phận bèo mây
Làm
cho bể ái khi đây khi vơi
‘Hương càng đậm lửa càng nồng
Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu đen’
Rơ
ràng hai chữ t́nh ái đă buộc chặt nàng với Thúc Sinh rồi Từ Hải, cuộc đời nàng
rơi vào ngơ cụt của tṛ đời ‘cởi ra rồi lại buộc vào như chơi’! Mấy phen những
tưởng đă thoát ra được hang hùm miệng cọp nhưng rồi lại cứ mắc vào. Rồi trên
bước đường dày dạn sương gió gặp được đấng anh hùng hào kiệt, tưởng đâu ngàn đời
gắn bó để t́m chữ sắt son với đời, nào ngờ t́nh tri kỷ đă biến thành thiên
trường hận, bên ḍng sông Tiền Đường, Kiều những muốn dứt cho rồi ṿng dây oan
nghiệt của kiếp người. Đến đây, Kiều cũng đă trả xong giai đoạn của kiếp hồng
nhan đa truân. Sợi dây t́nh ái cũng không buộc ràng nàng nữa, khi gặp lại Kim
Trọng, t́nh xưa dẫu nặng, nhưng nghiệp ái th́ ḷng đă tắt lịm, từ đây cơi ḷng
nàng mới thực sự hưởng được những giây phút b́nh an nhất của cuộc đời.
‘Từ
đây khép cửa pḥng thu
Chẳng tu th́ cũng như tu mới là’
Nếu
khổ đế của Phật giáo là chơn lư nói về cơ cấu khổ đau của con người: oán tăng
hội (thù oán mà phải gặp), ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải xa ĺa), cầu bất
đắc (mong cầu mà không được) v.v. th́ h́nh ảnh Kiều qua mười lăm năm gian truân
chính là h́nh ảnh của khổ đế. Kết thúc truyện Kiều bằng hành động trầm ḿnh, có
nghĩa là thú nhận sự thất bại của con người và sự nghiệt ngă tất yếu dưới h́nh
thức số và mệnh.
Thật ra chính Kiều đă nuôi dưỡng ‘số và mệnh’ trong máu huyết của ḿnh. Tiếng
đàn bạc mệnh cứ ngân lên từ đầu cho đến cuối truyện. Từ khi nàng băng lối vườn
khuya t́m Kim Trọng, khi gặp Thúc Sinh trước mặt Hoạn Thư, sau khi ôm thây Từ
Hải khóc ngất và khi tái ngộ với người t́nh cũ. Khi Kiều dứt bỏ khổ đau th́ đấy
chính là lúc nàng t́m được giải thoát (diệt đế). Ở đây Phật giáo giúp ta soi
chiếu rơ cuộc đời Kiều qua cung cách tŕnh bày dưới ng̣i bút Nguyễn Du. V́ ái
nghiệp nên chúng sanh tự ràng buộc ḿnh trong ṿng đau khổ triền miên. Đạo Phật
nói đến khổ không phải là khiến cho chúng ta buồn chán mà xa lánh cuộc đời. Ở
đây, nói đến khổ là muốn chỉ ra những nguyên nhân tập khí mà con người đă gây ra
(tập đế) để tự tạo lấy mọi đau khổ cho ḿnh. V́ vậy muốn dứt khổ phải t́m hiểu
nguyên nhân, tâm ư luôn hướng về một lư tưởng đó là chân lư giải thoát. Một khi
tâm thể được lặng yên th́ nguồn ái ân tham đắm sẽ khô kiệt. Và khi gặp được
Giác Duyên chính là nàng đă kiếm được hướng cởi trói cho ḿnh, nhưng phải đến
lần thứ hai, ḷng nàng mới thực sự dứt hết những bợn trần u ám. Khi gặp Kim
Trọng, ḷng luyến ái chỉ c̣n là tri kỷ. Con đường đạo lư đă lộ ra tuy chưa được
đậm nét nhưng ta thấy Kiều đă thực sự t́m lại chính ḿnh cội nguồn b́nh an của
tự tâm kinh Phật dạy: ‘Ai có một t́nh yêu th́ có một đau khổ, một trăm t́nh yêu
th́ có một trăm đau khổ, và nếu ai không có t́nh yêu th́ không có đau khổ’.
T́nh yêu đó là ḷng chấp ngă, luyến ái mà chúng sanh muôn đời cột chặt. ‘Tu là
cội phúc, t́nh là dây oan’.
Quan điểm của Nguyễn Du có phần hạn chế, nhất là khi tác giả đem giáo lư nhà
Phật mô phỏng cho nhân vật chính chưa lột hết mọi chân lư nhiệm mầu, nhưng ta
không đ̣i hỏi ǵ hơn ở một nhà Nho như ông. Và tác phẩm ấy dựa trên t́nh tiết
của tiểu thuyết Tàu, ở đây không nói đến giá trị của nó, mà chỉ phân tích từng
khía cạnh về khổ, mà tác giả đă ứng dụng triết lư của nhà Phật vào đó. Từ nguồn
gốc truy t́m ra nguyên nhân khổ, cho đến phương hướng đi t́m con đường diệt khổ,
tác giả hơn ai hết đă khéo dẫn dụ để tác phẩm đi vào ḷng người bằng cảm quan về
cái đẹp của văn chương, bằng sự ngộ nhập một chân lư trên lư thuyết để làm nổi
bật một bức tranh về khổ khá toàn vẹn sâu sắc.
VII. Ư NGHĨA CỦA CHỮ TÂM
Trong kinh luận Phật giáo thường chép: ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’ (ba
cơi dục giới, sắc giới, và vô sắc giới là do tâm, vạn pháp hữu h́nh, vô h́nh,
tâm pháp, sắc pháp đều do thức tạo ra). V́ thế nên theo đạo Phật th́ tâm là chủ
tể của muôn sự muôn vật. Ở giữa đời này, sở dĩ có muôn vạn sai biệt, có những
màu sắc, âm thanh khác nhau, tất cả đều do tâm. Riêng đối với con người ta, tâm
là động cơ chính thúc đẩy ta đến hành động, mà hành động ấy thiện hay ác, tốt
hay xấu, một phần lớn cũng phải căn cứ vào tâm.
Tâm
thiện th́ dù bề ngoài có vẻ độc ác thô động, như trường hợp cha mẹ đánh đập đứa
con hư, thầy giáo trừng phạt cậu học tṛ lười nhác .v.v. đều thuộc về thiện.
Ngược lại nếu tâm ác th́ dù bề ngoài có vẻ êm dịu ngọt ngào, như trường hợp
người gian tham ŕnh ṃ lén lút để đánh cắp của người, kẻ nịnh thần dùng lời xảo
quyệt ngon ngọt để lung lạc tâm vua .v.v. cũng đều thuộc về ác. Do đó muốn phê
phán một việc làm thiện hay ác, tốt hay xấu, chúng ta cần phải căn cứ vào tâm
niệm và kết quả việc làm ấy, chứ không thể hoàn toàn dựa vào những động tác bên
ngoài được.
Ở
đây nàng Kiều cũng thế. Muốn xét giá trị của nàng Kiều, nhất là phê phán việc
làm của nàng. Chúng ta cần phải dựa vào tâm niệm và kết quả của việc làm ấy mới
khỏi thiên lệch, cố chấp và bất công. Số phận của Kiều, cũng như việc làm của
nàng, cụ Nguyễn Du miêu tả như sau:
‘Xưa
nay trong đục đàn bà
Chữ
‘trinh’ kia cũng có ba bảy đường.
Có
khi biến có khi thường
Có
quyền nào phải một đường chấp kinh
Như
nàng lấy ‘hiếu’ làm trinh
Bụi
nào cho đục được đường ấy vay ?’
Người nội cuộc như Kim Trọng mà c̣n có thái độ và nhận xét ấy đối với nàng Kiều,
th́ những người như chúng ta trong khi phê phán t́m hiểu nàng Kiều, cũng như tác
giả của nó, có nên có một thái độ quá khe khắt g̣ bó chăng ?
Như
chúng ta biết tâm giữ một vai tṛ đặc biệt trong việc quyết định những hành vi
thiện ác, tốt xấu của con người. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ thêm rằng: tâm c̣n
có những sức mạnh khác nữa, đó là sức mạnh chế tác của tâm. Chế tác bằng tư
tưởng, bằng khái niệm, và bằng tâm tính. Sức mạnh của tư tưởng đă làm cho con
người vượt hẳn các loài động vật, đồng thời tư tưởng cũng là một yếu tố cần
thiết để làm cho con người khác biệt với các loài thực vật khác qua lời nói của
một triết gia Âu Tây sau đây: ‘Con người là một cây sậy có tư tưởng’. Riêng về
sức mạnh của khái niệm th́ các vị học giả tiền bối đă diễn tả qua các câu thơ
sau đây:
‘Nhất
nhật tại tù
Thiên thu tại ngoại’
(Một ngày ở trong tù
Bằng ngàn ngày ở ngoài)
Hoặc câu:
Nhất nhật bất kiến
Như
tam thu hề’
(Một ngày không thấy mặt
Trông dài như ba năm)
Thời gian tâm lư nầy được cụ Nguyễn Du diễn đạt trong truyện Kiều qua hai câu
thơ sau:
‘Sầu
đong càng khắc càng đầy
Ba
thu dọn lại một ngày dài ghê !’
C̣n
sức mạnh của tâm lư th́ được thể hiện trong những câu thơ sau :
‘Cảnh
nào cảnh chẳng gieo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ’
Thật vậy, cùng một cảnh ấy nhưng có vui, có buồn, v́ ḷng người có khi buồn, có
khi vui. Cũng như cùng một bàn tay, một cung đàn của nàng Kiều, nhưng có khi
buồn thảm thê lương nhuốm màu tang tóc, có khi vui vầy thanh thoát như hoa nở
chim hót suối reo. Qua những thay đổi ấy của tiếng đàn, đến khi nghe xong Kim
Trọng cũng phải buột lời khen ngợi:
‘Chàng
rằng: phổ ấy tay nào
Xưa
sao sầu thảm nay sao vui vầy ?
Tẻ
vui bởi tại ḷng này
Hay
là khổ tận, đến ngày cam lai ?’
Ngoài những khía cạnh tư tưởng, tâm lư trên, trong truyện Kiều cụ Nguyễn Du c̣n
diễn tả sức mạnh của tâm, tức là triết lư duy thức của Phật giáo qua hai câu thơ
tuyệt tác sau đây nữa. Đó là:
‘Xĩnh
lời nàng mới theo sang
Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu !’
Vâng, đúng như thế. Thiên đường và địa ngục không phải ở đâu xa lạ, mà chính
ngay ở trước mắt ta, bên cạnh ta, bàng bạc khắp trong cơi đời này, không biết
đâu mà phân biệt được. Hạnh phúc và đau khổ cũng thế. Về vấn đề này đức Phật
có dạy:
Tri
túc chi nhơn
Tuy
ngọa địa thượng
Nhi
vi an lạc
Bất
tri túc giả
Tuy
xử thiên đường
Nhi
bất xứng ư
(Người
mà biết đủ
Dù
nằm trên đất
Cũng được an lạc
Người không biết đủ
Dù
ở thiên đường
Vẫn
không vừa ư)
Căn
cứ vào thuyết này chúng ta thấy hạnh phúc hay đau khổ, đầy đủ hay thiếu thốn,
tất cả đều do ḷng ḿnh. Thiên đường và địa ngục, cũng như âm và dương, tối và
sáng, ngày và đêm không có phương hướng, cũng không có ranh giới nhất định. Ở
đâu cũng có thể hiện thành thiên đường hoặc là địa ngục được cả. Ngay ở trong
kiếp sống của con người và ở trong thế giới nhân gian nầy cũng thế.
Để
diễn đạt tư tưởng của ḿnh về vấn đề ‘thiên dường và địa ngục’ nầy, trong truyện
Kiều Nguyễn Du đă viết:
‘Nước
trôi hoa rụng đă yên
Hay
đâu địa ngục ở miền nhân gian’
Nếu
đem hai câu thơ trên của Nguyễn Du so sánh với hai câu danh ngôn sau đây của
Trung Hoa:
‘Ngưu
ẩn thủy thành nhủ
Xà
ẩm thủy thành độc’
Trâu uống nước thành sữa
Rắn
uống nước thành độc
Rồi
đem so sánh với mấy câu thơ sau đây của thi sĩ Milton:
‘The mind is its own place and in its self,
Can
make a heaven of hell
A
hell of haven’
(Tâm có vị trí và đặc tính riêng của nó, tâm có thể tạo thiên đường trong địa
nguc, và tạo cảnh địa ngục trong thiên đường)
Th́
chúng ta sẽ thấy điểm ‘không hẹn mà gặp’ giữa nguồn cảm hứng của các thi nhân
Đông và Tây trong những cố gắng diễn đạt triết học duy tâm, duy thức của Phật
giáo. V́ chủ trương ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’ nên Phật giáo phủ nhận
mọi sức mạnh siêu nhiên và tự nhiên ở bên ngoài. Phật giáo qui định mọi khía
cạnh, mọi giá trị của cuộc đời về sức mạnh của tự tâm. Tâm tạo thiên đường địa
ngục, tâm tạo Niết bàn sanh tử, tâm tạo Phật chúng sanh, hạnh phúc hay đau khổ.
. Nói một cách khác, tâm (cũng có thể gọi là nghiệp lực) tạo ra tất cả và tâm
là chủ động lực của đời ḿnh. Tổng hợp cả hai quan niệm của Phật giáo và Nho
giáo về sức mạnh của tự tâm, cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều đă diễn đạt tư tưởng
của ḿnh qua lời của sư cô Tam Hợp như sau:
‘Sư
rằng : phúc họa đạo Trời
Cội
nguồn cũng ở ḷng người mà ra
Có
Trời mà lại có ta
Tu
là cơi phúc t́nh là dây oan’
Và
sau khi phác họa đầy đủ mọi khía cạnh của cuộc đời, mọi thay đổi biến thiên của
nhân sinh vũ trụ, và mọi thăng trầm vinh nhục của nàng Kiều, ở đoạn kết của cuốn
‘Đoạn Trường Tân Thanh’, cụ Tiên điền Nguyễn Du đă viết:
“Đă
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại ḷng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ ‘tài’ “
VIII. MỘT VÀI TRIẾT LƯ KHÁC BÀNG BẠC QUA THI PHẨM KIỀU :
1)Ḷng từ bi hiếu thảo:
Số
phận của người con gái ‘bán ḿnh chuộc cha’ nhu nàng Kiều đă chịu trămcay ngàn
đắng, trải qua mấy lần gác tía lầu xanh. Nàng đă chán chê với cuộc sống ấy, nên
đă nhiều lần lập mưu tính kế, cố gắng t́m cách thoát ly ra ngoài. Nhưng người
con gái thơ ngây đă ‘chạy trời không khỏi nắng’, vừa mới thoát ly ṿng vây nầy
th́ bị mắc vào ṿng vây khác, tủi nhục và đau khổ hơn.
Để
hiểu rơ tâm trạng của nàng Kiều trong những giai đoạn ‘kiết phược’ ấy, chúng ta
hăy đọc đoạn thơ sau:
‘Chém
cha cái số hoa đào
Gỡ
ra rồi lại buộc vào như chơi
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài
t́nh chi lắm cho trời đất ghen !
Tiếc thay nước đă phủ phèn,
Mà
cho bùn lại vẩy lên mấy lần’.
Nếu
chúng ta căn cứ vào ư niệm bất đắc dĩ của nàng Kiều trong khi ‘chấp kinh tùng
quyền’ rồi căn cứ vào ư nghĩa ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’, nhất là căn
cứ vào niệm ‘thỉ chung như nhất’ của nàng trong khi bán ḿnh chuộc cha :
‘Tái
sinh chưa dứt hương thề
Làm
thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai
Nợ
t́nh chưa trả cho ai,
Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan !’
Th́
chúng ta có thể dễ dàng hiểu được cảnh ngộ và tâm t́nh của Kiều hơn nữa. Không
những đối với Kim Trọng, chàng trai đă chiếm trọn t́nh yêu của nàng, nàng mới có
một niềm thỉ chung như thế. Đến như đối với Từ Hải, người gá nghĩa trên bước
đường luân lạc, nàng cũng giữ được một ḷng trung chánh tương tợ. Có người cho
rằng Kiều là người ‘môt dạ hai ḷng, mưu mô phản trắc’ v́ Kiều đă đưa Từ Hải vào
cảnh sa cơ thất mạng. Muốn hiểu rơ ràng Kiều có phải là một dạ hai ḷng hay
không, chúng ta phải căn cứ vào tấm ḷng của nàng trong bài thơ sau rồi sẽ phê
phán :
Khóc rằng : trí dũng có thừa
Bởi
nghe lời thiếp đến cơ hội này
Mặt
nào trông thấy nhau đây
Thà
liều sống chết một ngày có nhau
Rồi
ở một đoạn khác:
‘Khi nàng gieo ngọc trầm châu
Đón
nhau, tôi đă gặp nhau rước về
Cùng nhau nương cửa Bồ đề
Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa’
Vâng, nhờ công đức hy sinh cho cha mẹ, nhờ tấm ḷng thỉ chung trung chánh đối
với t́nh quân, nhờ nước sông Tiền Đường rửa sạch bụi trần tơ duyên, nhất là nhờ
ư nguyện thành tâm sám hối, cắt đứt duyên nợ ba sinh, nên từ đó Kiều đă trở
thành một con người trong sạch từ thân đến tâm, từ trong ra ngoài. V́ thế ta
cũng không ngạc nhiên đến ḷng từ bi quảng đại của đạo Phật qua hành vi cứu độ
của Ni sư Giác Duyên. Thật là một nghĩa cử cao đẹp ! Cửa Bồ đề quả là quảng đại
vô biên ! Nếu Nguyễn Du cũng như các nhà cổ Nho khác không ảnh hưởng theo với
tinh thần từ bi cứu thế của đạo Phật, không chịu đưa tay tế độ những kẻ trầm
luân khổ hải. Đây không như thế, Nguyễn Du đă không cố chấp vào những giáo điều
khô cứng, không câu nệ bảo thủ theo những lề lối thông thường, và do đó cụ đă
linh động khai thông ra để cứu độ một linh hồn đau khổ, bằng cách làm cho Ni sư
Giác Duyên thuê người t́m kiếm và cứu vớt nàng ở sông Tiền Đường. Cũng do tinh
thần từ bi cứu thế ấy của đạo Phật, nên không những một ḿnh Kiều, đến cả gia
đ́nh của nàng (và có lẽ của chúng ta nữa) đă thọ ơn Phật pháp. Họ đă:
‘Quay
nhau lạy trước Phật đài
Tái
sinh trần tạ ḷng người từ bi’
2)Về ṭa án nhân dân đầu tiên ở Việt Nam:
Sự
xuất hiện của nhân vật anh hùng Từ Hải như là một sự xuất hiện của một ṭa án
nhân dân xử phạt các tội phạm phong kiến và các tội phạm do chế độ phong kiến
thối nát đẻ ra. Trong phiên ṭa xử Tú bà, Mă Giám Sinh, và Hoạn Thư, Kiều vốn
là nạn nhân trở thành quan ṭa. Tiếng nói của quan ṭa này hẳn là chính xác,
công minh. Đây là tiếng nói đích thực của nhân dân vừa công b́nh, vừa nhân ái.
Với Hoạn Thư, Kiều phán:
‘Tha
ra th́ cũng may đời
Làm
ra th́ cũng ra người nhỏ nhen
Đă
ḷng tri quá th́ nên
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay’
Với
tú bà và Mă Giám Sinh, nàng truyền:
‘Tú
bà cùng Mă Giám Sinh
Các
tên tội ấy đáng t́nh c̣n sao
Lệnh quân truyền xuống khai đao
Thề
sao th́ lại cứ sao gia đ́nh’
Với
hai phiên ṭa nhân dân ấy, Nguyễn Du, một thiên tài thi ca và tư tưởng đă nói
lên khát vọng thống thiết về một xă hội nhân bản, hợp lư xây trên công bằng,
nhân ái, trên nền tảng giá trị con người v́ an lạc và hạnh phúc cao cả của loài
người - mỗi người và mọi người.
3)Triết lư giải phóng phụ nữ:
Với
quan niệm của các nhà Nho xưa, người phụ nữ bị đóng khung trong ‘Tam ṭng’ (tại
gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử. Nghĩa là ở nhà th́ theo cha,
đi lấy chồng th́ theo chồng, chồng chết th́ theo con) và tứ đức : công, dung,
ngôn, hạnh. Nguyễn Du đă phá đổ chiếc khung cũ kỷ ấy, giới thiệu nàng Kiều,
người đẹp giỏi cầm, kỳ, thi, họa và kiêm thạo cả tửu, giới thiệu Hoạn Thư khôn
nước hơn Thúc Sinh:
‘Anh
hoa phát tiết ra ngoài
Tài
t́nh chi lắm cho trời đất ghen’
‘Thấp cơ thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột nói ra ngại lời’
Hoặc là:
‘Người
đâu sâu sắc nước đời
Mà
chàng Thúc phải ra người bó tay’
Nhà
thơ lỗi lạc ấy đă muốn giải phóng phụ nữ, giới thiệu phụ nữ đi vào nhiều lănh
vực của xă hội. Và đă tháo gỡ cái quan niệm chật hẹp, phi lư về chữ trinh cũ:
‘Xưa
nay trong đạo đàn bà
Chữ
trinh kia cũng có ba bảy đường’
Hay
là:
‘Như
nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi
nào cho đục được ḿnh ấy vay’
Với
cái nh́n nhân ái và trí tuệ ấy của Nguyễn Du là cái nh́n giá trị mới đầy tính
người, giải phóng con người ra khỏi vùng giá trị cũ kỹ của Nho học.
4)Nỗi
đau đứt ruột:
Sau
khi thoát ra khỏi thanh lâu và được làm phu nhân của tướng công Từ Hải, Thúy
Kiều đă mời sư chị tới để tỏ ḷng trân trọng và biết ơn. Sau đó sư chị Giác
Duyên tạ từ về chùa, v́ sư chị không muốn ở lâu chỗ quân trường. Trên con đường
về, sư cô gặp một đạo cô tên là Tam Hợp, một người tu theo đạo Lăo nhưng có kiến
thức rất sâu sắc về đạo Bụt. Thời đó ba tôn giáo đă sống chung và có ảnh hưởng
lẫn nhau, ta gọi là ‘tam giáo tịnh lập’. Biết rằng Kiều sẽ c̣n gặp nhiều khổ
đau nên sư Giác Duyên mới hỏi đạo cô Tam Hợp về tương lai của nàng. Họ bảo là
Kiều c̣n phải gặp nhiều tai nạn và đau khổ nữa trước khi được giải thoát. Qua
những lời này ta thấy đạo cô Tam Hợp là một nhà phân tâm học. Thấy được cái bản
chất của con người Kiều và cũng thấy được tương lai của Kiều:
‘Thúy
Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô
duyên là phận hồng nhan đă đành’
Vô
duyên đây là thiếu phúc duyên, không có phúc duyên, không đủ điều kiện căn bản
để có hạnh phúc, nói khác là điều kiện của sự tu học, của sự giác ngộ. Vô duyên
đây không có nghĩa là thiếu sự duyên dáng, vô duyên đây là thiếu may mắn, để
thấy được sự thật và thấy rằng ḿnh đang đi vào một con đường không sáng sủa”
‘‘Thúy
Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô
duyên là phận hồng nhan đă đành
Lại
mang lấy một chữ t́nh
Khăng khăng ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong
Vậy
nên những chốn thong dong
Ở
không yên ổn, ngồi không vững vàng
Ma
đưa lối quỷ đưa đường
Lại
t́m những chốn đoạn trường mà đi’
Những chốn mà người khác đi đứng thong dong, khỏe khoắn và hạnh phúc, ḿnh tuy ở
chung nhưng vẫn không được như người ta. Đáng lư được thong dong mà ḿnh không
được, vậy nên những chốn thong dong, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng. Ḿnh
ngồi cũng không yên, đi cũng vậy, ḿnh đi trên chông gai, bước trên than hồng
trong khi người khác có sự thanh thản b́nh an. Dầu cho có vào chùa đi nữa th́
ḿnh cũng tiếp tục ngồi trên đống lửa mà không được ngồi trên hoa sen. Dầu cho
đang được cùng đi thiền hành với tăng thân và khi tăng thân thực tập từng bước
nở hoa sen, ḿnh vẫn dẫm trên lửa nóng. Vào chùa ḿnh cũng chẳng có sự thanh
tịnh v́ ḿnh đă tự buộc ḿnh vào ṿng nghiệp chướng.
‘Ma
dẫn ḿnh đi’, ma đây tức là ma thất niệm, sự vắng mặt của chánh niệm. Ma quỷ
tức là sự tối tăm, là vô minh, là t́nh trạng không thấy được sự thật, là t́nh
trạng đang đi trên con đường khổ đau và đen tối. Ḿnh không t́m con đường an
lành mà đi, trái lại đă t́m chốn đoạn trường mà đi. V́ thế Đoạn Trường Tân
Thanh cũng chính là nỗi đau đứt ruột:
‘Hết
nạn ấy đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
Trong ṿng giáo dựng gươm trần
Kề
lưng hùm xói gửi thân tôi đ̣i
Giữa ḍng nước dẫy sóng dồi
Trước hâm rồng cá gieo mồi vắng tanh
Oan
kia theo măi với t́nh
Một
ḿnh ḿnh biết, một ḿnh ḿnh hay’
Chỉ
có ḿnh mới thấy được cái khổ đau cùng cực của ḿnh. Người ngoài nh́n vào không
thể thấy và biết hết được. Một ḿnh ḿnh biết, một ḿnh ḿnh hay. Câu thơ nầy
thâm trầm hết sức. Rồi đạo cô nói tiếp:
‘Làm
cho sống đọa thác đày
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi’
C. KẾT LUẬN
Truyện Kiều hàm chứa nhiều quan niệm nhân sinh, triết học tôn giáo, thực trạng
xă hội và khía cạnh tâm lư của con người, đầy đủ các phương tiện tốt xấu, khen
chê, vinh nhục, thịnh suy, thiện ác v.v.. muôn màu muôn sắc, không làm sao diễn
tả hết trong phạm vi bài viết. V́ thế người viết khi thực hành đề tài nầy không
thể nào không thổn thức cho kiếp đọa đày lao khổ của Kiều. Chính tâm trạng này
đưa đến cho chúng ta một liên tưởng ‘suy người rồi nghĩ đến ta’ trong thân phận
của kiếp người trầm luân đau khổ:
‘Nghĩ
thân phù thế mà đau
Bọt
trong bể khổ bèo đầu bến mê !’
(Ôn
Như Hầu)
Và
từ đó, tự nhiên trào dậy trong ḷng ta một t́nh thương man mác. Thương cho số
kiếp đào hoa bạc phận của Kiều chăng ? Thương cho Cụ Nguyễn Du lận đận trên
đường công danh sự nghiệp của thời Lê mạt Nguyễn sơ chăng ? Hay thương cho ta,
cho mọi người đang sống trong cảnh bèo mây mộng ảo chốn trầm luân khổ hải này
chăng ? Không, t́nh thương ấy không có thời gian và định hướng. Ta thương cho
tất cả. T́nh thương ấy là ǵ nếu không là một biểu hiện ḷng từ bi của đạo Phật
?
Thực tế cho ta thấy t́nh thương là một sợi dây vô h́nh nối liền giữa ḿnh và
người, giữa hiện tại, quá khứ và tương lai. Qua t́nh thương ấy, giữa thi hào
Nguyễn Du với nàng Kiều lao đao lận đận trong cuốn ‘Đoạn Trường Tân Thanh’, và
với chúng ta trong cuộc đời trầm luân ảo mộng này nghe như có cái ǵ đồng điệu
nên giữa chúng ta - người c̣n kẻ mất, người mộng kẻ thực - sẽ không c̣n ai khóc
cho ai nữa và không phải hỏi rằng:
‘Bất
tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?’
(Không
biết rồi đây ba trăm năm sau, trong thiên hạ c̣n ai khóc Tố Như?) mà chính là ta
khóc cho thân phận con người của chúng ta vậy.
Song song với ư niệm và t́nh thương ấy, khi đọc truyện Kiều chúng ta cảm thấy:
con người trước hết là một vật yếu hèn bất lực, nhưng nhờ ‘thiện căn’ sẵn có
trong ḷng, kèm theo ư chí liên tục phấn đấu, nên cuối cùng con người sẽ thắng
được định mệnh, vượt khỏi mọi bất công thử thách của cuộc đời để xây dựng tương
lai của ḿnh. Câu châm ngôn của Tây phương: ‘thất bại là mẹ của thành công’ và
câu phương ngôn của Đông phương (Nhật Bản) “Ngă xuống bảy lần, lần thứ tám đứng
dậy’ đă được thể hiện hoàn toàn trong nhân vật chính của truyện Kiều, đó là nàng
Kiều. Đấy là ǵ nếu không phải là triết lư nhân bản, truyền thống bất khuất của
các dân tộc Á Đông?
Thêm một điều nữa, đọc truyện Kiều chúng ta thấy tác phẩm này đă vượt lên trên
tất cả những quan niệm chật hẹp tầm thường của đương thời để thể hiện một tinh
thần tổng hợp linh động của các nền tư tưởng Đông phương là Phật giáo, Nho giáo
và Lăo giáo. Ba nền triết học Phật, Lăo, Nho ấy đă dung ḥa đẹp đẽ trong công
cuộc đúc kết thành sắc thái đặc biệt và phong phú của nền văn hóa Việt Nam với
mấy ngh́n năm lịch sử. Chính sắc thái này đă tạo ra truyền thống dung ḥa,
nhưng không nô lệ, mềm dẻo nhưng bất khuất của dân tộc Việt Nam trải qua bao
cuộc chống xâm lăng, dành độc lập của ông cha chúng ta từ xưa, và ngay cả thế hệ
của chúng ta bây giờ nữa.
Có
lẽ v́ những lư do trên, nên đại đa số quần chúng Việt Nam từ giới cần cù lao
động ở nông thôn cho đến các hàng trí thức ở thị thành đều thích đọc truyện Kiều,
công nhận giá trị của truyện Kiều, nhất là giá trị đóng góp của nó trong các
lănh vực văn chương, triết lư nghệ thuật và tư tưởng, có lẽ cũng v́ thế nên như
người Ba tư đối với bản trường ca Rubaiyat, người Ấn độ với bản t́nh thơ
Bhavagad, Cita .. người Việt Nam chúng ta đón nhận tác phẩm truyện Kiều như một
vật thân yêu, phản chiếu từ ḷng ḿnh, đời ḿnh vậy.
Với
những khía cạnh đă được tŕnh bày trên, tiểu luận này chỉ là biên khảo, như là
một đề nghị rằng cần có những công tŕnh nghiên cứu và biên khảo công phu hơn,
mới có thể nói lên rơ ràng triết lư Phật giáo qua thi phẩm Kiều.
|