|
QUỐC
SỬ
QUÁN NHÀ NGUYỄN
VÀ VIỆC
CHÉP SỬ
Vơ Hương-An
25 tháng 06 năm 2009
Ngoái nh́n
cố
sự
Nước ta, độc lập từ năm 939, sau chiến thắng quân Nam Hán trên sông
Bạch Đằng của Ngô Quyền nhưng măi đến năm 1272 (333 năm sau!), đời vua Trần
Thánh Tông (1258-1278), mới có được bộ sử đầu tiên, một công tŕnh của Hàn Lâm
Viện Học sĩ kiêm Giám tu Quốc Sử Viện Lê Văn Hưu. Đó là bộ Đại Việt Sử kư,
chép từ đời Triệu Vũ đế (207 trước TL.) đến khi Lư Chiêu Hoàng nhường ngôi cho
chồng là Trần Cảnh, chấm dứt Nhà Lư (1225). Bộ sử gồm 30 quyển, rất được vua
Trần Thánh Tông khen ngợi.
Đời
Hậu Lê (1428-1788), có nhiều công tŕnh sử học quan trọng ra đời. Năm 1455, Phan
Phù Tiên , người cầm đầu Quốc Tử Giám và Quốc Sử Viện, vâng lệnh vua Lê Nhân
Tông, soạn Đại Việt Sử kư tục biên, gồm 10 quyển, chép tiếp lịch sử Đại
Việt từ Trần Thái Tông (1225) đến khi quân Minh bị đánh đuổi về Tàu (1427). Sau
đó, Ngô Sĩ Liên đă vâng lệnh vua Lê Thánh Tông, soạn Đại Việt Sử kư Toàn thư,
hoàn thành năm 1479, gồm 15 quyển, chép từ họ Hồng Bàng đến khi Lê Thái Tổ lên
ngôi (1428). Công tŕnh này về sau được nhóm Phạm Công Trứ vâng lệnh vua Lê
Huyền Tông (1663) duyệt lại và tục biên; rồi đến nhóm Lê Hi vâng lệnh chúa Trịnh
Căn chép tiếp cho đến năm 1675, đời Lê Gia Tông, rồi khắc in năm 1697, cũng
dưới tên Đại Việt Sử kư Toàn thư. Có thể nói việc ghi sử liệu và chép sử
từ đời Trần trở đi ngày càng được các vua lưu tâm và tổ chức qui củ.
Nhà
Nguyễn, triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, trong 143 năm tồn tại
(1802-1945) đă có một tổ chức chép sử làm việc rất hiệu quả, có tên là Quốc Sử
Quán, đă để lại một gia tài sử học đồ sộ về khối lượng và giá trị cao về nội
dung. chẳng hạn, Đại Nam Thực lục (viết tắt ĐNTL, gọi tắt Thực
lục), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (gọi tắt Cương mục),
Đại Nam Liệt truyện (gọi tắt Liệt truyện)…
Nay thử nh́n xem với tổ chức và phương tiện như thế nào và với phương pháp làm
việc ra sao mà Quốc Sử Quán đă tạo được những công tŕnh lớn lao như thế, đặc
biệt với bộ Thực lục.
Tổ chức Quốc Sử Quán
Quốc Sử Quán là cơ quan chép sử của Nhà Nguyễn, do vua Minh Mạng lập ra năm
Minh Mạng thứ 2 (1821).
Cầm đầu Quốc Sử Quán có Chánh, Phó Tổng Tài ; giúp việc có các Tỏan
tu, Biên tu, Khảo hiệu, Đằng lục và Thu chưởng.
Trong quan chế của Bộ Lại, không thấy ghi quan chế của Quốc Sử Quán, điều đó
chứng tỏ cơ quan này không có cấp số nhân viên nhất định mà do vua bổ dụng theo
nhu cầu công việc mỗi lúc. Con số ghi trong Đại Nam Nhất Thống chí (Tập
I, tr.56) là số nhân viên đời Tự Đức (4 Toản tu, 8 Biên tu, 4 Khảo hiệu, 6 Đằng
lục, 6 Thu chưởng).
Tổng tài
và Phó Tổng tài là người chịu trách nhiệm tổng quát, nặng về tổ
chức, quản lư, điều hành và đôn đốc. Họ thường là quan nhất, nhị phẩm triều
đ́nh, hàm Thượng thư (chánh nhị phẩm 2/1) trở lên, xuất thân khoa bảng. Đây là
một chức vụ kiêm nhiệm chứ không phải chuyên biệt, và không thường xuyên. Ví
dụ: Tổng tài biên chép ĐNTL Tiền biên là Trương Đăng Quế và Phó
Tổng tài là Hà Duy Phiên.
Ông Trương Đăng Quế lúc bấy giờ là Văn minh điện Đại học sĩ (chánh
nhất phẩm, 1/1), đang giữ chức Binh bộ Thượng thư (2/1), sung Cơ Mật Viện
đại thần, Quản lư Khâm Thiên Giám, kiêm lănh Quốc Tử Giám, kiêm quản Tàu chính
ấn triện.
Ông Hà Duy Phiên bấy giờ là Lại bộ Thượng thư (2/1) kiêm quản H́nh bộ ấn
triện, kiêm lănh Quốc Tử Giám sự vụ.
Toản tu
và Biên tu mới thực là người chấp bút viết nên Thực lục.
Tu 修
là sửa; toản
纂
hay biên 編
đều cùng có nghĩa là biên tập sách vở. Về nghĩa đen, không khác ǵ mấy, và để
được vua chọn làm Toản tu hay Biên tu phải là người có tŕnh độ văn học cao,
khoa bảng xuất thân, có hàm Hàn Lâm Viện (HLV), có thừa khả năng viết lách. Điều
khác biệt là người được cử làm Toản tu có phẩm trật cao hơn hoặc thâm niên hơn.
Ví dụ : dưới quyền của Tổng tài Trương Đăng Quế, bộ ĐNTL Tiền biên, bộ sử
đầu tiên của Nhà Nguyễn, hoàn tất vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) với các Toản
tu sau đây: Hàn Lâm Viện (HLV) Trực học sĩ (chánh tam phẩm 3/1) Đỗ
Quang , Thái bộc tự khanh (ṭng tam phẩm 3/2) Tô Trân, Quang lộc tự
khanh (3/2) Phạm Hồng Nghi, HLV Thị độc học sĩ (chánh tứ phẩm 4/1) Vũ
Phạm Khải, Hồng lô tự khanh (4/1) Nguyễn Tường Vĩnh; và các Biên tu:
HLV Thị độc học sĩ (4/1) Phạm Chi Hương, HLV Thị giảng học sĩ
(ṭng tứ phẩm 4/2) Nguyễn Thu, và các HLV Thị độc (chánh ngũ phẩm 5/1)
Phạm Văn Nghị, Hoàng Trọng Từ, Dương Duy Thanh, tất cả đều là quan văn, từ ngũ
phẩm trở lên. (Xin nhớ rằng Tri huyện mới chỉ là ṭng lục phẩm, 6/2).
Các dịch giả Cương mục chú thích rằng Toản tu là “Viên quan
chịu trách nhiệm khởi thảo nội dung sách cho có mạch lạc. (Cương mục I,
chú thích số 5, tr.18).
Khi Quốc Sử Quán tŕnh báo bộ Đại Nam Thực Lục Tiền biên đă soạn xong,
xin phép khắc in, vua Thiệu Trị đă ra lệnh “…giao các viên Toản tu kiểm điểm
khoản thức chữ viết, mọi việc cho chu đáo ổn thỏa…” (Thực lục I,
tr.8).
Như vậy, trong việc biên tập, trách nhiệm của các Toản tu cao hơn, trong đó có
việc hoạch định đường lối công việc và kiểm soát cả nội dung lẫn h́nh thức.
Về chức Khảo hiệu các dịch giả Cương mục giải thích là
“Viên quan chịu trách nhiệm tham khảo các sách, hiệu đính lại những chỗ sai
lầm” (Sđd., tr.18). Giải thích này e không được chính xác. Các khảo hiệu
tuy cũng là quan có hàm Hàn Lâm Viện, nghĩa là cũng khoa bảng xuất thân, nhưng
đều là cấp nhỏ (HLV Biên tu, 7/1; HLV Kiểm thảo 7/2), nghĩa là thấp hơn Toản tu
và Biên tu nhiều lắm. Quan cấp nhỏ làm sao dám hiệu đính những chỗ sai lầm
do các quan cấp trên viết ra? Điều hợp lư có thể hiểu là: Khảo hiệu giữ
nhiệm vụ giúp tra cứu sách vở, tài liệu theo yêu cầu của các quan Toản tu và
Biên tu, soát lại các bản văn được các Đằng lục chép lại từ bản thào cho
đúng với nguyên bản, v.v.
Đằng lục
là những người giữ việc sao chép lại các bản thảo theo đúng qui cách để trở
thành bản văn chính thức tŕnh duyệt cấp trên và sau khi được chấp thuận sẽ đưa
đi khắc in. Các Đằng lục thường là người viết chữ đẹp, họ là những Bát, Cửu
phẩm Bút thiếp thức.
Thu chưởng
là những người giữ việc thu gom, sắp xếp và ǵn giữ các bản thảo, các bản biên
tập. Đó là các Bút thiếp thức hoặc các Bát, Cửu phẩm Thư lại.
Nhân viên Quốc Sử Quán c̣n có một số thợ khắc bản gỗ và thợ in.
Năm Minh Mạng thứ sáu (1826) mới dựng cơ sở chính thức tại phường Phú Văn (sau
đổi làm Trung Hậu), gần Ngă tư Anh Danh, cạnh Hộ Thành, trên đường Ngô Sĩ Liên
ngày nay . Ban đầu chỉ có một ṭa nhà chính ở giữa, rồi qua các đời Thiệu Trị
và Tự Đức mới xây thêm hai dăy bên phải và bên trái và khu tồn trữ các bản khắc
gỗ. Trong khu vực Quốc Sử Quán có cái giếng nổi tiếng nước trong và pha trà rất
ngon, tục truyền là giếng cổ của làng Diễn Phái xưa.
Số lượng các bản khắc rất lớn, nhưng chiến tranh đă gây thất thoát rất đáng kể.
Sau năm 1947, chính quyền đă cho thu thập và tạm thời tàng trữ tại hiên sau của
Viện Văn Hóa Trung Việt, tức Bảo tàng Khải Định, tức Bảo tàng Mỹ thuật Cung đ́nh
ngày nay, rồi sau đó chuyển lên Đà Lạt. Người ta dùng gỗ cây thị để khắc bản in
v́ thớ gỗ mịn, không bị cong vênh.
|
 |
Quốc Sử Quán:
-Ṭa nhà chính.
-Kệ tồn trữ sử liệu.
|
Nguồn sử liệu
Tùy mục đích và nội dung công tŕnh biên tâp mà Quốc Sử Quán sử dụng
những nguồn sử liệu khác nhau. Chẳng hạn, sử liệu để viết Khâm định Việt sử
Thông giám Cương mục không giống sử liệu dùng cho Đại Nam Thực lục.
Cương mục là một bộ thông sử, chép lịch sử nước ta từ đời Hùng Vương cho đến
đời Lê Chiêu Thống (1789), và ban biên tập -- như vua Tự Đức đă chỉ thị -- “…có
nhiệm vụ đem sử biên niên các đời trước tham khảo với các truyện kư linh tinh
của các nhà trứ tác, điều ǵ trong sử biên niên c̣n sót th́ bổ thêm vào, điều ǵ
sai lầm th́ đính chính lại; việc nào nên chép vào sách hay nên bỏ đi, việc nào
nên khen hay nên chê, đều theo đúng như phương pháp chép sử Cương mục của Tử
Đương, chép thành toàn bộ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục.” (
Cương mục I, tr.18,19)
Nguồn sử liệu đó vốn phổ thông, quen thuộc xưa nay.
Chỉ riêng với Thực lục th́ khác, v́ Thực lục là bộ sử chính thức
của riêng triều Nguyễn. Như tên gọi, bộ sử là thực lục, nghĩa là chép
việc thật, có sao chép vậy. Với thể loại thực lục này mức độ chính xác
rất cao v́ người chép sử phải căn cứ trên những tài liệu chính thức, tài liệu
nguyên thủy, tài liệu ban đầu để biên tập nên tác phẩm chứ không phải trích
thuật từ những tác phẩm khác, như trường hợp của Cương mục hay các bộ thông sử
khác.
Quốc Sử Quán đă sử dụng sử liệu từ các nguồn sau đây để xây dựng Thực lục,
xếp theo thứ tự quan trọng nhiều ít:
-Châu bản;
-Bản ghi chép của chức Khởi cư chú;
-Các nguồn tài liệu khác.
1/ Châu bản:
Nghĩa đen là bản (chữ) son. Châu bản là những bản tấu sớ đă được vua
châu điểm hoặc châu phê, châu khuyên hay châu mạt
Châu điểm, châu phê, châu khuyên, châu mạt là những động tác của vua bày tỏ ư
chấp thuận hay bác khước, hoặc ra một quyết định, v.v. sau khi xem một bản tâu
tŕnh (sớ, biểu, phiến) của các quan về một vấn đề ǵ đó.
-Bản tâu nào gởi lên vua cഡng phải bắt đầu bằng một chữ Tấu. Nếu hoàn
toàn đồng ư, chấp thuận đề nghị được tâu tŕnh, vua chỉ cần chấm một chấm son
trên đầu chữ Tấu. Như thế gọi là châu điểm.
Ví dụ: Bộ Hộ tâu nói: “Phu ở dịch trạm các địa phương đều được tha miễn thuế
thân, duy sáu tỉnh ở Nam kỳ và ba tỉnh Sơn Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn ở Bắc kỳ
có nơi miễn cả, có nơi miễn một nửa, lại có nơi phải nộp theo lệ, rất không
giống nhau. Xét ra phu trạm ngày đêm chạy trạm chuyển đệ, cùng là khó
nhọc cả, há nên nơi này nơi nọ khác nhau, xin sai các quan tỉnh xem xét.
Trạm nào công việc hơi ít mà số phu nhiều th́ liệu bớt đi, trạm nào công việc
nhiều và tuy [số phu] hơi ít, nhưng số phu ít th́ để lại, rồi chiếu số
được giảm cho về làng chịu sai dịch, c̣n số để lại, thuế thân đếu được miễn.
“Vua y lời tâu ấy”
( Thực lục V, tr. 421) .
Sử chỉ ghi vắn tắt mấy chữ như đă nhấn mạnh ở trên nhưng qua đó ta có thể hiểu
rằng với bản tâu này, vua chấp thuận hoàn toàn đề nghị của bộ Hộ bằng một chấm
son ở chữ Tấu (châu điểm). Căn cứ vào quyết định này, Nội Các sẽ sao lục bản
tâu với các khoản đề nghị được chấp thuận, đóng ấn, rối giao cho Bộ Hộ thi hành.
Bản chính, bản có châu điểm, được lưu tại Nội Các làm sử liệu cho Thực lục về
sau.
-Ngược lại, nếu vua có ư kiến khác -- không chấp thuận hoặc chỉ chấp thuận một
phần nào, hoặc cần cấp dưới bổ sung tin tức hay ư kiến, hoặc khen thưởng hay
khiển trách v.v. -- th́ vua sẽ phê vào bản tấu sớ. Đó là châu phê.
nghĩa là phê bằng bút son. Tổng đốc Thân Trọng Huề, trong một hồi kư về
vua Tự Đức, đă từng ghi nhận rằng: “Phiến sớ các nơi đều gởi về nội các. Nội
các để trong tráp tấu sự, đưa cho giám, giám đưa cho nữ quan dâng lên ngài. Ngài
xem rồi giao nội các. Nội các giữ bản chính có châu điểm, châu phê, lục bản phó
ra cho các bộ nha.
“Nay xem các nguyên bản trong Các th́ thấy có nhiều tờ phiến ngài phê dài hơn cả
các quan tâu. Chữ đă tốt mà văn lại hay, ai cũng kinh cái tài của ngài.”
(Trần Trọng Kim, II, tr.238)
Thực lục
cho ta biết rất nhiều trường hợp điển h́nh về châu phê khá thú vị. Ví dụ: Năm
1830, triều đ́nh tổ chức lễ mừng sinh nhật thứ 40 (Tứ tuần đại khánh) của vua
Minh Mạng, sắp đến ngày lễ, trời trở chứng mưa to mấy đêm không tạnh, ai cũng
lo. Đến ngày lễ chính thức, trời bỗng tạnh ráo, nắng đẹp, mọi người đều vui
mừng. Nhân dịp này…
“Thị lang Nội các là Phan Thanh Giản và Trương Đăng Quế dâng bài tụng đại
khánh, thuật lại các công việc tự lúc vua lên ngôi đến nay, siêng lo chính trị
làm gốc để được phúc hưởng thọ.
Vua phê: “Bọn ngươi không lo cố gắng làm hết chức phận, cứ ngày thêm lầm lỗi,
nay lại làm bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi có ích ǵ? Trẫm có thích nịnh
ngoài mặt đâu? Vậy ném trả và truyền chỉ quở mắng”. (Thực lục III,
tr.39)
Với lời phê này, ta biết vua Minh Mạng là người có đầu óc thực tế, sáng suốt,
chuộng hiệu quả và không ưa hư danh, không dễ nịnh; đồng thời cũng biết rằng về
mặt hành chánh, hai ông Trương Đăng Quế và Phan Thanh Giản thế nào cũng nhận
được giấy khiển trách do Nội Các tống đạt khi họ chấp hành lời phê này.
- Châu khuyên nghĩa làà vẽ một ṿng tṛn nhỏ bằng son.
Khi ở dưới dâng lên một danh sách về người, việc, hoặc vật phẩm để vua lựa chọn,
hễ vua chấp thuận người nào, việc ǵ, phẩm vật nào th́ vua dùng bút son khuyên
một ṿng tṛn nhỏ trước tên người, việc hay vật đó.
Ví dụ 1 : Để chuẩn bị cho lễ Phất thức (lễ lau chùi ấn tín của vua trước khi
khóa cất để ăn Tết), Nội Các lập danh sách các quan từ nhị phẩm trở lên và các
Tôn tước (người Hoàng tộc được phong tước), dâng vua lựa chọn. Vua chấp thuận
người nào th́ châu khuyên trước tên người đó.
Ví dụ 2 : Địa phương dâng tiến các phẩm vật vào các dịp lễ mừng với danh sách
liệt kê các phẩm vật và số lượng, vua muốn thu nhận món nào th́ châu khuyên
trước tên món đó.
-Mạt nghĩa là bôôi, xóa, gạch bỏ. Khi vua không đồng ư người nào
hoặc việc ǵ được nêu ra trong các bản tâu th́ vua dùng bút son quẹt trên tên
người đó hoặc điều đó. Ấy là châu mạt.
Cùng nghĩa với châu mạt là châu cải (cải: đổi).
Một ví dụ về châu khuyên, châu mạt và châu cải:
“Ngay hôm Phụng Hóa Công Bửu Đảo nhập cung (16/5/1916), các quan Nội Các XE "Nội
Các" đă lo t́m những chữ có ư nghĩa tốt, liệt kê ra và dâng lên để tân quân lựa
chọn làm niên hiệu của triều đại mới. Một bản sao cũng được gởi đến Hội đồng
Thượng thư để các vị ấy xem xét. Ngay hôm đó Nội Các báo cho Hội đồng Thượng
thư biết rằng trong danh sách dâng lên, hai chữ Khải Trung đă được chiếu cố,
nhưng tân quân dùng bút son khoanh tṛn chử Khải
[châu khuyên], gạch bỏ chữ Trung [châu mạt], và thay vào đó bằng chữ
Định [châu cải]. Như vậy, ư của tân quân là muốn chọn hai chữ Khải Định,
-- có nghĩa là khởi đ𓏿u một thời thanh b́nh và ổn định -- để làm niên hiệu.”
(Vơ Hương-An, tr.26)
Ngoại trừ châu điểm, trên một bản tâu có thể có cả châu phê, châu khuyên và
châu mạt. Cũng được kể vào châu bản là những chiếu, chỉ, dụ, và các văn kiện
khác phát xuất từ văn pḥng của vua.
Châu bản
là nguồn sử liệu chính thức và căn bản nhất mà Quốc Sử Quán dùng để chép Thực
lục.
Bản văn mang bút tích bằng son của vua là bản gốc, được lưu trử tại Nội Các. Nội
Các sẽ căn cứ vào bản gốc để sao lục các khoản đă được vua quyết định, đóng ấn
Nội Các, rồi giao cho quan chức hoặc các cơ quan liên hệ thi hành.
Giáo sư Trần Kinh Ḥa, nguyên Giáo sư Đại học Văn khoa Huế, nguyên Tổng thư kư
Ủy ban Phiên dịch Sử liệu của Đại học Huế (trước 1975), người có công đầu trong
việc chỉnh đốn châu bản triều Nguyễn c̣n sót lại sau 1946, đă có nhận xét về
nguồn sử liệu này như sau:
“…trừ một số nhân viên Quốc sử quán hoặc Nội Các triều Nguyễn, ngoài ra, đối
với các sử gia thế giới, Châu bản triều Nguyễn vẫn là một bộ “bí tịch” không thể
dễ dàng tham khảo được.
“Tiếc rằng những sử liệu quí báu này chưa có dịp làm đối tượng nghiên cứu
của các sử gia tân tiến theo phương pháp khoa học và có hệ thống th́ một số lớn
của tài liệu ấy đă bị hư nát và mất tich trong thời kỳ tản cư từ nam 1945 cho
đến năm 1955. Tuy vậy, giá trị châu bản đối với sự nghiên cứu của lịch sử cận
đại, nhất là lịch sử triều đại nhà Nguyễn vẫn là một kho sử liệu cho các nhà sử
học, mặc dầu số châu bản hiện c̣n, có lẽ không bằng 1/5 của ngày trước”
(Trần Kinh Ḥa, tr.167-168)
Tất cả các số sách giấy tờ, mệnh lệnh, dụ chỉ, thư từ giao dịch nước
ngoài, sổ sách v.v…của triều đại đương thời đều được Nội Các lưu trữ cẩn thận.
Trong Nội Các, có bộ phận lúc đầu gọi là Biểu Bộ Tào , sau vua
Thiệu Trị đổi làm Bản Chương Sở, chuyên lo về việc này. Sở này lại có
ba Chương, là Lại Hộ Chương, Lễ Binh Chương và H́nh Công Chương.
-Lại Hộ Chương
ǵn giữ tất cả văn kiện, sổ sách thuộc Bộ Lại, Bộ Hộ, và các cơ quan khác như Cơ
Mật Viện, Thị Vệ Xứ, Đô Sát Viện, Thông Chính Ty, Hỏa Dược Sung Pháo Khố, Bưu
Chính và các Dinh, Vệ tại Kinh thành.
-Lễ Binh Chương
ǵn giữ tất cả văn kiện, sổ sách thuộc Bộ Lễ và Bộ Binh, cùng các cơ quan khác
như Tôn Nhơn Phủ, Nội Vụ Phủ, Hàn Lâm Viện, Khâm Thiên Giám, Quốc Tử Giám, Thủ
Hộ Sứ, Điển Nghi Ty, Thái Thường Tự, Quang Lộc Tự, Tào Chính và Thừa Thiên Phủ.
-H́nh Công Chương
ǵn giữ tất cả văn kiện, sổ sách, thuộc Bộ H́nh, Bộ Công, cùng các cơ quan khác
như Vũ Khố, Vũ Khố Đốc Công, Nội Vụ Đốc Công, Mộc Thương Đốc Công, Đại Lư Tự và
Tam Pháp Ty.
2/ Bản ghi chép của chức Khởi cư chú.
Đang khi c̣n lo đánh nhau túi bụi với Tây Sơn, lấn từng tấc đất để giành lại cơ
nghiệp xưa của tổ tiên, Nguyễn Vương – tức vua Gia Long sau này – mặc dẫu
“chăm làm mọi việc, suốt ngày không lúc nào rổi” nhưng lại có một quyết định
ảnh hưởng tới việc chép sử về sau, ấy là “Sai Thị thư viện sung chức khởi cư
chú, phàm vua làm công việc ǵ đều chép hết” (Thực lục I, tr.257)
Thị Thư Viện là bộ phận văn pḥng của vua. Khởi cư chú là chức năng thư kư
tạm thời, có thể giao cho một quan chức nào đó có khả năng đảm nhận trong một
phiên trực ban để làm việc ghi chép đúng phép. Một loại tốc kư viên cao cấp.
Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) vua đổi Thị Thư Viện làm Văn Thư Pḥng.
Năm Minh Mạng thứ 11 (1830) vua đổi Văn Thư Pḥng làm Nội Các và tổ chức lại một
cách chặt chẽ hơn. Trong Nội Các có bộ phận gọi Ṭa Kư chú, nhiệm vụ là
“phàm khi vua ngự ở điện để nghe chính sự, khi vua triều hội, khi vua đi
chơi, đều phải kính cẩn ghi chép những lời vua nói lúc đi lúc ngồi, cùng chương
sớ của trăm quan bàn tâu cũng đều ghi chép cả ”(Hội điển VIII, tr.22)
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), khi đưa Viện Đô Sát -- thành h́nh từ đầu đời Gia
Long -- vào hoạt động thực tế, nghĩa là đặt quan chức, rồi xây dựng trụ sở v.v
,vua giao việc khởi cư chú này cho viện:
“…gặp ngày vua ngự ở điện nghe chính sự, th́ hai người thuộc viện Đô sát
[Khoa đạo] đứng ở hai bên tả hữu trên điện, sung làm khởi cư chú, phàm vua có
nói năng đi đứng ǵ đều kính cẩn ghi chép; nếu vua có đi chơi th́ theo hầu cũng
ghi chép như thế. Những viên nào ghi chép th́ phải kư tên vào cuối giấy, cứ hết
tháng đem nộp các bản ghi chép suốt tháng để đường quan ở viện [cấp trên
tại viện] sửa chữa, viết lại cẩn thận, đóng thành tập rồi cùng kư tên, đóng
ấn của viện, giao cho Quốc tử giám thu giữ. Lại phàm 6 bộ, Nội
các và các nha môn có tâu việc ǵ th́ một người thuộc viên của viện đều được
theo ban dự nghe, theo từng việc ghi chép, để pḥng khi kiểm soát ” (Hội
điển, VIII, tr.89) .
Danh xưng “thuộc viên” nói ở đây chính là các Khoa đạo, thành phần
ṇng cốt của Viện Đô Sát. Trong tổ chức của Viện, có Cấp sự trung các khoa,
trật chánh ngũ phẩm (5/1), phụ trách giám sát các bộ và cơ quan trung ương, và
Giám sát Ngự sử các đạo (2 tỉnh làm một đạo), cũng ở trật chánh ngũ phẩm,
giám sát công việc của các đạo, tức các địa phương; người ta thường gọi chung
hai hạng viên chức này là Khoa đạo.
Năm Minh Mạng thứ 20 (1839) đại thần Viện Cơ Mật là Trương Đăng Quế,
sau khi nêu rơ vai tṛ quan trọng của việc khởi cư chú đối với công cuộc chép
sử của đời sau, đă đề nghị một qui thức làm việc của chức Khởi cư chú khá chặt
chẽ và được vua chuẩn y thi hành, như sau:
-Khi vua ngự điện đ;ể nghe các quan chầu hầu tâu việc, th́ Khoa đạo sung chức
Khởi cư chú có nhiệm vụ phải ghi lại tất cả, một cách đầy đủ và trung thực, từ
nội dung tâu tŕnh đến cử chỉ, lời nói, huấn thị của vua.
-Khi vua ngự giá đi chơi,, đi tuần du, cũng làm như thế.
-Chức Khởi cứ chú ph𓀓i ghi tên ở cuối bản ghi chép, tŕnh cho cấp trên trong
Viện Đô Sát nhuận sắc chữ nghĩa, rồi giao cho trực thần (quan lớn trưởng ban
trực hôm đó) duyệt lại. Trực thần có thể bổ sung thiếu sót hoặc sửa đổi sai lầm
nhưng phải đóng ấn quan pḥng (ấn chức vụ) làm bằng để chịu trách nhiệm việc
ḿnh làm.
-Trong trường hợp vua trriệu đ́nh thần (quan lớn) vào gặp riêng để làm việc, Khoa
đạo (là quan cấp nhỏ) không được phép dự th́ việc ghi chép do quan Nội Các đảm
nhận. Bản ghi chép sau đó giao cho Khoa đạo trực ban viết lại tinh tường, cấp
trên ở Viện Đô Sát và trực thần duyệt lại, đóng ấn.
-Các bản ghi chép này đư&ợc tập trung đóng thành tập giao cho Quốc Tử Giám lưu
giữ, sau chuyển cho Quốc Sử Quán làm tài liệu chép sử (Hội điển VIII,
tr.92. Thực lục V, tr.480-481).
Xem thế th́ có thể thấy được rằng bản ghi chép của chức Khởi cư chú là một biên
bản về buổi làm việc của vua và các quan, một sử liệu sống động và và rất thực.
Đoạn sử sau đây có thể cho ta biết các nhà chép sử của Quốc Sử Quán
đă lấy tài liệu từ một bản ghi chép của chức Khởi cư chú:
“Ngày Bính Dần , vua [Minh Mạng] đi chơi ở cửa biển Thuận An,
lên lầu Lưỡng Kiêm ngoạn cảnh (…). Lại lên lầu Quan Hải xem thủy sư thao diễn,
bắn súng lớn. Ai bắn trúng th́ thưởng tiền Phi long bằng bạc.
“Vua nhân bảo
[Thượng thư] bộ Binh là Trương Đăng Quế rằng: phép thủy chiến trong khi lâm
trận, bắn nhau với giặc có ba điều cốt yếu: một là bắn vào bánh lái thuyền;
hai là bắn vào cột buồm; ba là bắn vào tướng trong thuyền. Tại sao thế? Là v́
tay lái dùng để khiến thuyền, không có lái th́ thuyền không đứng vững, không bị
nghiêng ch́m cũng ít lắm, cho nên bắn trúng tay lái thuyền là hơn nhất. Thuyền
có cột buồm mới đi được, không có cột buồm th́ thuyền không đi được. Nhưng
thuyền có 3 cột buồm, không như tay lái chỉ có một cái mà thôi. Cho nên bắn
trúng cột buồm là thứ hai. Tướng là người hiệu lệnh trong một thuyền, mất tướng
th́ lính không có người thống thuộc, cho nên bắn trúng tướng là thứ ba. Nếu bắn
trúng thân thuyền th́ địch bị hại rất nhỏ, đó là hạng kém. Ngươi nên đem ư ấy
truyền dụ cho Lê Văn Đức [người chỉ huy thủy sư] bảo lính thủy tập bắn
đều biết. Ngày hôm sau vua trở về.” (Thực lục V, tr.688)
Quả thật, nếu không có chức Khởi cư chú th́ sử đă thiếu đi nhiều chi tiết hữu
ích giúp đời sau hiểu rơ hơn về một thời của quá khứ.
3/ Các nguồn sử liệu khác:
Cùng với hai nguồn sử liệu chính vừa nói, Quốc Sử Quán c̣n sở hữu Ngọc điệp
và Tôn phả và các sách sử tài liệu khác do chính Quốc Sử Quán suu tập
hoặc do vua xuống chiếu t́m ṭi thu thập khắp các địa phương trong nước.
Ngọc điệp
là phả hệ của ḍng làm vua.
Công việc biên soạn ngọc điệp khởi sự vào năm Minh Mạng thứ 2 (1821), lúc đầu
giao cho Bộ Lễ, nhưng sau đó th́ giao cho một ban biên tập gồm có một Chánh
Tổng tài biên tu ngọc điệp do một quan văn chánh nhị phẩm đảm nhận, một Phó
Tổng tài là quan ṭng nhị phẩm, người Tôn thất ; giúp việc có 2 Toản tu và 2
Đằng lục, đều là quan của Nội Các, nơi làm việc là Hữu Đăi Viện. Khi biên tập
xong, ngọc điệp sẽ được chép làm 2 bản. Bản chính, sau khi dâng lên vua trong
một buổi lễ long trọng, sẽ được cất trong tủ màu vàng trong điện Càn Thành ;
bản phó sẽ được cung kính rước về tàng trữ trong tủ màu vàng của Quốc Sử Quán
để làm tài liệu chép sử.
Tôn phả
là tộc phả của Nhà Nguyễn (ḍng không làm vua).
Cầm đầu việc biên tu tôn phả là một Tổng Toản tu biên tu tôn phả
(quan văn, 4/1), có một Toản tu và hai Đằng lục giúp việc, lấy Quốc Sử Quán làm
nơi làm việc. Tôn phả làm xong, được chép làm 2 bản; bản chính dâng lên vua
xem, xong lưu trữ tại Quốc Sử Quán, c̣n bản phó th́ để tại Tôn Nhơn Phủ
(Hội điển I, tr.88).
Về các nguồn tài liệu không chính thức khác – như tích cũ do người
già c̣n nhớ được, sách xưa c̣n sót lại qua các cơn binh lửa, sách do các nhà văn
học trong dân gian trước tác – th́ đời vua nào cũng có “hỏi t́m điển cũ”
hoặc “xuống chiếu t́m sách vở sót” và “Phàm các địa phương trong
ngoài có dâng sách vở ǵ, liền giao sang Sử quán kê cứu để giúp tham đính” (Thực
lục I, tr.7-8).
Ngoài các nguồn sử liệu Việt Nam đă nói, các sách, sử của Trung Quốc
cũng là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết để làm việc. Chẳng hạn tham khảo
Khâm định Vạn niên thư để thống nhất cách chép niên hiệu hoặc tham khảo lối
làm sử Thực lục của các triều đại Trung Quốc để viết ĐNTL hay lối chép sử
của Chu Hy (1130-1200) đời Tống để viết Cương mục.
Phương pháp làm việc và tiến tŕnh hoàn thành một bộ sử
Đời vua sau cho lệnh chép thực lục của đời vua trước.
Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), vua cho mở Quốc Sử Quán và ra lệnh chép sử 9 đời
chúa Nguyễn và sử đời Gia Long. Đó là bộ Đại Nam Thực lục Tiền biên,
hoàn tất năm 1844, đời Thiệu Trị; và bộ Đại Nam Thực lục Chánh biên Đệ nhất
kỷ, chép lịch sử đời Gia Long, hoàn tất năm 1848, đời Tự Đức.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ra lệnh chép sử đời Minh Mạng (ĐNTL
Chánh biên, Đệ nhị kỷ).
Năm Tự Đức thứ 30 (1877), vua ra lệnh chép sử đời Thiệu Trị (ĐNTL
Chánh biên, Đệ tam kỷ).
Cứ thế tiếp tục cho đến kỷ thứ 6, kỳ cuối cùng của bộ ĐNTL Chánh
biên, chép sử đời Hàm Nghi và Đồng Khánh.
Như đă nói, hai nguồn tài liệu căn bản của Thực lục là các châu bản và các bản
ghi chép việc triều chính của Khởi cư chú. Nguồn tài liệu trước do Nội Các giữ;
nguồn tài liệu sau do Quốc Tử Giám giữ. Khi vua ra lệnh chép sử đời vua nào th́
cả hai cơ quan này phải giao hết tài liệu liên hệ của đời vua đó cho Quốc Sử
Quán. Theo lời của thân phụ tôi kể lại, trong thời gian châu bản c̣n được lưu
giữ tại Nội Các, các vua mới kế vị thường đến lầu Tụ Khuê cạnh Nội Các, nơi lưu
trữ văn khố, t́m đọc các châu bản để nghiên cứu, học hỏi cách giải quyết vấn đề
của tiên đế.
Đừng nghĩ rằng chỉ từ khi làm quen với văn hóa phương Tây ta mới học được phương
pháp làm việc khoa học. Thực ra, tinh thần khoa học là làm việc có nguyên tắc,
hợp lư, có hệ thống, mạch lạc và hiệu quả. Với tinh thần này, các sử quan tại
Quốc Sử Quán có thừa. Điều này thể hiện ở phần Phàm lệ mở đầu mỗi công
tŕnh.
Phàm lệ chính là nguyên tắc làm việc của ban biên tập, giúp từ trên xuống dưới
ai nấy đều biết rơ những ǵ phải theo để việc biên tập có tính nhất quán, tránh
được khuyết điểm người viết theo cách này, người tŕnh bày theo cách khác,
trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
Mỗi bộ sách có một nội dung khác nhau nên Phàm lệ cũng dài ngắn khác nhau. Tuy
nhiên, những điểm căn bản th́ vẫn như nhau. Nói chung, các phàm lệ đều giống
nhau ở những điểm sau:
-xác định mốc thờii gian của công tŕnh (chép từ năm nào đến năm nào);
-cách gọi chính danh;
-kiêng húy;
-chép cái ǵ, bỏ cái ǵ, lư do t𓀑i sao.
Xin lấy Phàm lệ của ĐNTL Tiền biên làm thí dụ điển h́nh:
“Thời quốc sơ
[thời các chúa Nguyễn], từ Túc tông Hiếu Ninh Hoàng đế [chúa Ninh Nguyễn
Phúc Thụ] về trước, xưng là Công; Từ Thế tông Hiếu Vơ Hoàng đế [Vơ Vương
Nguyễn Phúc Khoát] về sau, xưng là Vương;
“Ngày nay theo đế chế xưng là Thượng.
“Thời quốc sơ, niên kỷ dùng niên hiệu nhà Lê. Nay theo sách Khâm định Vạn niên
thư, đều cứ năm sau năm nối ngôi mà chép làm năm đầu. C̣n niên hiệu Nhà Lê, nhà
Minh, nhà Thanh th́ chia ra chua ở dưới, để chỉ rơ thế đại và thống kỷ.
“Năm lên nối ngôi mà chưa có kỷ nguyên th́ những tháng c̣n lại của năm ấy, có
làm chính sự ǵ, cứ theo tháng mà chép ở đầu bản kỷ.
“Chép việc th́ lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Nếu không có việc ǵ đáng chép
, th́ bỏ khuyết mùa, tháng mà chép năm; phàm việc th́ không chép ngày, duy có
việc lớn th́ chép cẩn thận theo ngày.
“Thời quốc sơ mở mang bờ cơi, từ Phú Yên vào Nam dần dần tháp nhập bản đồ. Nay
phàm dùng binh tiến lấy được nơi nào, lập dinh phủ nơi nào, th́ chép sơ
[buổi đầu] để ghi là việc khi mới bắt đầu.
“Trong các kỷ, ngày sinh của liệt thánh hoàng đế đều ghi cả, là để tôn hệ thống
nhà vua.
“Vua và hậu chầu trời, đều chép là “băng”, là theo đế chế. Chỉ khi nào nhà vua
c̣n làm hoàng tử mà hậu mất th́ chép là “hoăng”
[chữ dùng cho vua chư hầu chết; ở đây là trường hợp bà Trần Thị Hoa, vợ vua Minh
Mạng] là để giữ tôn thống.
“Thời quốc sơ, Nam Bắc chia đôi, các "thánh của ta
[các chúa Nguyễn] phù Lê chống Trịnh, cho nên phàm những việc của nhà Lê họ
Trịnh có tương quan đến ta đều chép cả. Trong các kỷ, về vua nhà Lê th́ đều
chép “băng”, về chúa họ Trịnh th́ đều chép “tốt” [mất]. Duy họ Trịnh có
phạm tội thí nghịch đối với nhà Lê th́ chép chữ “tử” [chết] để cho xứng
với tội.
“Các kỷ chép việc họ Trịnh, ở đâu phải hệ thuộc vào nhà Lê, để không cho được
tiếm. Duy có việc quân Bắc vào đất ta th́ chuyên chép họ Trịnh để tỏ không phải
là ư vua Lê.
“Thời quốc sơ, hoàng tử xưng là công tử, tôn thất đều ghi rơ họ. Nay theo tôn
phả th́ chép là hoàng tử, tôn thất. Duy bọn Hiệp, Trạch, AnhTrung, Huệ, Thông
đều phạm đại tội phản nghịch, đă phụ chép ở cuối tôn phả. Khi tội ác của họ chưa
rơ th́ vẫn chép là tôn thất, đến khi phạm tội, chỉ chép tên, là để răn bọn loạn
thần tặc tử.
“Những bản chí lục chép việc cũ, các bề tôi chỉ xưng tước hàm mà bỏ thiếu họ
tên. Nay nếu xét rơ được, th́ viết đủ họ tên, người nào nếu không xét được th́
chép nguyên tước hiệu”
(Thực lục I, tr.13-14)
Sau khi biên sọan xong một bộ sử, Quốc Sử Quán dâng bản thảo đầu tiên lên vua
ngự lăm (xem). Sau đó, lại phải sửa chữa những chỗ vua không đồng ư hay bổ
sung những chỗ vua cho là thiếu sót; khi bản cuối cùng được vua chấp thuận, bấy
giờ mới cho thợ khắc bản gỗ để in ra thành sách. Toản tu chịu trách nhiệm kiểm
soát việc in ấn này để tránh sai lầm.
*
Với việc thành lập Quốc Sử Quán dưới thời Minh Mạng (1820-1841), triều đại Nhà
Nguyễn, trong 143 năm tồn tại (1802-1945), đă để lại một gia tài sử học và
địa lư học Việt Nam cận đại rất đồ sộ: nào Đại Nam Thực lục, Đại Nam
Liệt truyện, nào Minh Mạng Chánh yếu, Khâm định Việt sử Thông giám Cương
mục, Quốc triều Chánh biên Toát yếu, Đại Nam Nhất thống chí, Đồng Khánh Địa dư
chí,v.v.
Riêng bộ ‘Đại Nam thực lục là bộ chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà
Nguyễn, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong 88 năm mới hoàn thành, tính
từ khi mới bắt đầu làm (1821 – Minh Mệnh năm thứ hai) đến khi hoàn thành và khắc
in xong những quyển cuối cùng (1909 – Duy Tân năm thứ ba)’ (Thực lục I,
Lời giới thiệu của Viện Sử Học)
Chế độ CSVN, trước khi bước sang thế kỷ XXI, vốn phủ nhận tất cả những ǵ của
Nhà Nguyễn đă làm, chê bai, miệt thị đủ thứ, nhưng trong sự huyên náo khùng điên
đó, Viện Sử Học đă phiên dịch sang tiếng Việt toàn bộ Đại Nam Thực lục và xuất
bản lần đầu năm 1962, tái bản lần thứ nhất năm 2004 với 10 tập dày cả vạn trang
giấy. Chừng đó cũng đủ nói lên giá trị to lớn không thể chối căi của bộ sử này
mặc dù đă trải qua một thời điên đảo.
Tài liệu tham khảo:
-Nội Các, Khâm định &Đại Nam Hội điển Sự lệ, (gọi tắt Hội điển) tập
VIII, bản dịch tiếng Việt của nhiều người, Viện Sử Học, Nxb Thuận Hóa, 2005.
-Quốc Sử Quán, Đ𓉩i Nam Thực lục (gọi tắt Thực lục),
*Tập I, bản dịch của Tổ phiên dịch, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, 2002.
*Tập V, bản dịch của Tổ phiên dịch, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, 2004.
- Trần Trọng Kim, Vi𓏏t Nam Sử Lược, Q.II, Institut de l’Asie du Sud-Est,
Paris, 1987.
-
Trần Kinh Ḥa, Giới thiệu Châu bản Triều Nguyễn,
Ḍng Việt, số 4, 1997, tr.167-187
-Vơ Hương-An, Vua khảii Định, Nxb Nam Việt, California, 2006
|