|
Văn
Học Luận Giải
PHAÄT GIAÙO
ALEXANDER L. MAYER
Các tác phẩm luận giải Phật giáo đă trải qua một thời kỳ hơn
2000 năm. Sự phát triển phong phú của nó, chỉ một phần nhỏ
cũng đă tồn tại qua những thăng trầm lịch sử và phản ánh
thật sát những phương diện giáo lư cùng nhiều lĩnh vực văn
hóa và sự phát triển tôn giáo, xă hội.
Trong ư nghĩa rộng nhất, có lẽ với khả năng của ḿnh, mọi
người quan niệm rằng tất cả kinh điển Phật giáo đều qua sự
giải thích: Kinh đề cập đến tuệ giác của đức Phật và về Đạo.
Luận (A-tỳ-đạt-ma) giải thích về giáo lư được nêu lên trong
Kinh. Văn hệ Đại thừa (Mahāyāna) là nhằm luận giải ư nghĩa
về tánh Không (s: śūnyata; e: emptiness) bàng bạc sâu thẳm
trong giáo lư. Các luận giải trau chuốt tinh vi về cú nghĩa
(e: meaning; s: artha), có nghĩa là đ̣i hỏi sự chú ư đặc
biệt.
Các tác phẩm luận giải – bên cạnh các pháp môn tu tập khác,
là thuộc về phương thức duy tŕ và truyền bá giáo pháp. Về ư
nghĩa
lịch sử văn hóa, tầm quan trọng của văn học luận giải
chứa đựng trong nó khả năng phản ánh nền văn hóa nói chung
và khuynh hướng tôn giáo, được xem như nơi gặp gỡ để phát
triển kỹ năng phiên dịch và tạo ra những yếu tố nền tảng của
tri thức.
Tán Ninh1 đại biểu của
truyền thống dịch kinh Trung Hoa, giải thích ư nghĩa của
Luận giải Phật giáo qua tác phẩm của ông nhan
đề Tống Cao Tăng
truyện2
rằng:
Thành đạo giả,
pháp dă. Tải pháp giả,
kinh dă. Thích kinh
giả,
sớ dă.
(成道者法也。載法者經也。釋經者疏也。)
Thành đạo là nhờ vào pháp. Truyền bá giáo pháp là nhờ kinh.
Giải thích kinh là nhờ vào sớ (luận) giải. (Đại chánh tạng,
quyển 50, kinh số 2061, trang 735b). Luận giải, qua định
nghĩa, được đặt theo hướng xuôi theo ḍng chảy của truyền
thống và do vậy, không bao giờ có thể thay thế cho kinh
được. Thế nên khi ưu tiên đề ra ư nghĩa (s:
artha) trước ngôn cú (s:
vaccana), luận giải hy vọng sẽ lập lại và đưa ra
ánh sáng những ư nghĩa ẩn chứa trong kinh.
Văn
học luận giải Ấn Độ
Giáo pháp từ khởi thủy được gọi là luận giải. Thế nên môn đệ
lúc ấy không chỉ học những điều mà đức Phật thường kêu gọi
mọi người hăy chiêm nghiệm thật sâu sắc lời dạy của ngài;
ngoài ra, đức Phật c̣n có một vài đệ tử, như ngài
Xá-lợi-phất, cũng có khả năng tương đương để truyền dạy giáo
pháp một cách trọn vẹn. Nhưng ở giai đoạn này vẫn c̣n là
dạng khẩu truyền. Chỉ đến khi Tam tạng kinh điển Phật giáo
được kết tập, chư Tăng mới bắt
đầu
viết luận giải. Trong tiến tŕnh chú giải kinh điển,
các trường phái phiên dịch phát sinh.
Hai ḍng luận giải chính ở Đông Nam Á hiện c̣n lưu hành là
luận của Thượng tọa bộ (Theravāda) được viết bằng tiếng
tiếng Pāli, và luận của phái Nhất thiết hữu bộ
(Sarvāstivāda) và Căn bản Nhất thiết hữu bộ
(Mūla-Sarvāstivāda) được viết bằng tiếng Sanskrit. Ḍng sau
được truyền sang Trung Hoa. Thêm vào đó, một số luận giải
của các trường phái khác cũng c̣n được lưu hành.
Vào đầu thế kỷ thứ 5, ngài Phật Minh,3
trên nền tảng luận giải của Tích Lan (Sinhala) cổ xưa
–đă soạn một loạt luận giải từ tạng kinh Pāli. Trong số đó
là hai bộ luận giải thích về giới luật:
Thiệnkiến luật
chú善見律注(P:
Samantapāsādikā; E: The All- Pleasing)
và Giới bản
chú
戒本注
(Kaṅkhāvitaraṇī;
e: Overcoming Doubt).
Thiện kiến luật
chú đă được Tăng-già Bạt đà-la (Saṅghabhadra)4
dịch sang tiếng Hán năm 489 với nhan đề Thiện kiến
luật Tỳ-bà-sa. 5 Giớibản chú là luận giải về Giới
luật (Ba-la-đề-mộc-xoa;
波羅提木叉
s: Prātimokṣa).
Cũng như trường hợp tạng Luật, khi tạng Kinh được kết tập,
một số các luận giải về các bộ kinh ấy lại được biên soạn.
Trong số đó, các tác phẩm luận giải đặc biệt quan trọng là
của ngài Phật Minh từ trong Nikāya: 1: Cát tường duyệt ư
luận吉祥悅意論;
p: Sumaṅgalavilāsinī).
2. Phá trừ nghi chướng luận破除疑障論;
p: Papañcasūdanī). 3. Hiển dương tâm nghĩa luận
顯揚心義論;
p: Sāratthappakāsinī). 4. Măn túc hy cầu luận滿足希求論;
p: Manorathapūraṇī).
5.
Paramāṭṭhajotikā.
Và các tác phẩm chú giải về A-tỳ-đạt-ma:
1. Thù thắng nghĩa luận殊勝義論
(p: Atthasālinī). Chú giải
Pháp tụ luận法聚論
2. Saṃmohavinodanī.
3. Pañcappakaraṇāṭṭhakathā.
Về phía Nhất thiết hữu bộ, các tác phẩm luận giải của phái
này phần lớn chỉ được lưu giữ ở Trung Hoa. Bộ luận quan
trọng nhất là Phát trí luận (發
智
論;
s: Jñānaprasthāna; e: Foundations of Knowledge) do ngài
Già-đadiên- ni tử (迦多延尼子
Kātyāyanīputra), biên soạn vào khoảng năm 50 ttl.,
trong đó liên quan đến sáu bộ luận:
1. Pháp uẩn túc luận (法
蘊
足
論;
s: dharmaskandha):
2. Tập dị môn túc luận (集
異
門
足
論;
s: saṅgītiparyāya):
3. Giới thân túc luận (界
身
足
論;
s: dhātukāya):
4. Phẩm loại túc luận (品
類
足
論;
s: prakaraṇa):
5. Thức thân túc luận (識
身
足
論;
s: vijñānakāya):
6. Thi thiết túc luận (施
設
足
論;
s: prajñaptiśāstra).
Bộ luận chính
Đại Tỳ-bà-sa
(Mahā Vibhāṣā;
e: Great
Exegesis) được kết tập trong một
hội nghị do vua Ca-nị-sắc-ca
(迦膩色迦Kaniṣka)
triệu tập,
cũng có liên quan đến bộ
Phát trí luận.
Sáu trong bảy bộ luận thuộc tạng A-tỳ-đạt-ma này đă được
ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán.
Văn học luận giải Trung Hoa
Dù rất khó để xác định mốc khởi đầu, nhưng giới nghiên cứu
Phật học cho biết rằng ngài Chi Khiêm6
và ngài Khang Tăng Hội7
là
những người đă biên soạn luận giải vào giữa thế kỷ thứ 3.
Nhưng văn học luận giải có lẽ đạt được sự quan trọng chỉ vào
thời của ngài Đạo An (312-385).8
Từ văn
học
truyện kư (biographical literature), có thể thu thập các dấu
hiệu một thời hưng thịnh của văn học luận giải trước đó. Đại
biểu cho ḍng văn học luận giải sớm nhất này là các tác phẩm
Yin chiru jing
của
Chan Hui,
Nhân Bản Dục Sanh Kinh Chú
của
Đạo An,9
Chú Duy Ma Cật Kinh
của
Tăng Triệu,10
Fanwang jing Pusa jie
của
Pháp Hiển11.
Vào
đầu thế kỷ 5, một ḍng luận giải mới được phát sinh. Ngài
Đạo An và Trúc Đạo Sinh12
đóng
vai tṛ chính trong ḍng chuyển tiếp này. Các bộ chú giải về
kinh Niết-bàn của Fayao (420-477) và chú giải kinh Pháp hoa
của Trúc Pháp Sùng13
(Cả
hai bản này đều đă thất lạc) và luận giải về kinh Pháp hoa14
của
Trúc Đạo Sinh là những đại biểu sớm nhất của trường phái
luận giải mới này. Hai bộ luận giải đồ sộ từ nửa cuối thế kỷ
thứ 6 nay vẫn c̣n lưu hành: Một là bộ sưu tập các chú giải
về kinh Niết-bàn (gồm 70 quyển)15
của
ngài Bảo Xướng (Baoliang), bộ khác là sưu tập chú giải về
kinh Pháp hoa của ngài (Fayun; 467-529)16
nhan
đề
Fahua jing yiji,
năm 529. Cả hai bộ luận này đều đóng một vai tṛ quan trọng
trong việc thành lập các tông phái Phật giáo Trung Hoa, và
cả hai bộ luận giải đều thể hiện vai tṛ trọng yếu trong thể
loại văn học này, cụ thể là, mối liên quan rơ rệt hay ẩn
tàng của văn học luận giải trước đây.
Ḍng
thứ ba của văn học luận giải Phật giáo Trung Hoa bắt đầu với
các luận sư đời Tùy (589-618) và tiếp theo bởi một chuỗi dài
các luận sư kiệt xuất đời Đường (618-907), những vị đă phát
triển vị trí học thuyết của tông phái ḿnh trong phạm trù nỗ
lực hệ thống hóa các luận giải, để sau đó phát sinh những
tông phái luận giải như Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, và
Pháp tướng tông. Đại biểu nổi bật đáng lưu ư của ḍng này là
ngài Huệ Quang (Jingying Huiyuan; 523-596), Đại sư của Địa
luận tông (Dilun) và Trí Tạng (Jizang; 549-623) của Tam luận
tông; Đại sư Trí Khải (Zhiyi; 538-597), Quán Đảnh (Guanding;
561-632) và Trạm Nhiên
湛
然
Zhanran (711-782) của Tông Thiên Thai. Pháp tướng tông có
ngài Viên Trắc
圓
測
(Wǒnch'u; Cao Ly; 613-696); Khuy Cơ (632-682); Huệ Chiểu
慧沼
(Huizhao ?-714) và Trí Châu (Zhizhou; 679-723); Hoa Nghiêm
tông có Đại sư Trí Nghiễm
智
儼
Zhiyan, ngài Nguyên Hiểu
元
曉
(Wǒnhyo; Cao Ly; 617-686), ngài Pháp Tạng (Fazang 643-712),
ngài Trừng Quán (Chingquan 738-840), và Cư sĩ Lư Thông Huyền
(Li Tongxuan; ?-730), và Mật tông có ngài Nhất Hạnh (Yixing;
683-727).
Các
bộ luận lớn thường chú giải về những bộ kinh lớn. Thế nên
cùng một bộ kinh được chú giải bằng những bộ luận rất dài.
Như kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa, kinh Bát-nhă là những bộ
kinh
thường được chú giải nhất ở Trung Hoa. Có vào khoảng 80 bộ
luận giải tiếng Hán cho mỗi bộ kinh này hiện c̣n lưu hành ở
Trung Hoa. Bên cạnh đó, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy-ma-cật,
kinh Vô Lượng Thọ, kinh A-diđà, kinh Viên Giác, kinh
Niếtbàn, kinh Lăng-già, và kinh Phạm vơng... thu hút rất
nhiều sự chú tâm để chú giải. Những bộ luận giải hiện đang
c̣n lưu hành được xem như là nguồn tư liệu quan trọng nhất
về những thông tin trong sự h́nh thành và phát triển tư
tưởng Phật giáo Trung Hoa.
Luận giải, tính
phức hợp của
truyền bá giáo
pháp và bối cảnh của luận giải.
Sự
phát triển của nền văn học luận giải Phật giáo Trung Hoa
được ảnh hưởng bởi thực tế của việc hoằng truyền giáo pháp
không có tính hệ thống. Trong hầu hết mọi thời, các bộ kinh
lớn từ các nguồn xuất phát khác nhau là điều hợp lư để phản
ánh các giai đoạn khác nhau của việc phát triển giáo lư Phật
học. Tính đa dạng này phát sinh từ việc phiên dịch của Thiền
tông vào thế kỷ 3 và 4 các kinh điển về tư tưởng Bát-nhă và
Như Lai tạng, vào đầu thế kỷ 5 bởi một loạt các tác phẩm
luận giải về Trung quán luận và A-tỳ-đạt-ma của Nhất thiết
hữu bộ; và vào thế kỷ thứ 6, 7 với sự truyền bá A-tỳ- đạt-ma
và Du-già hành tông có hệ thống của ngài Huyền Trang.
T́nh
trạng này tất yếu phải tạo nên một phương pháp cho phép tích
hợp một cách có hệ thống các giáo pháp thích nghi qua một
tiêu chuẩn chung (phán giáo).17
Tiền
đề của các phương pháp này là các kinh điển có thể được ấn
định cho các từng bậc khác nhau trong việc giáo hóa của đức
Phật, là giáo pháp ấy đều nhắm vào các thính chúng khác nhau
tùy theo căn cơ thuần thục của họ, và tạo nên ư nghĩa mở ra
cho mọi cấp độ khác nhau. Trong ư nghĩa thực tiễn của luận
giải, các luận giải này được phiên dịch thành các nguyên tắc
về phiên dịch. Trước nhất trong những luận này là Tứ y18
về
chú giải kinh điển Phật học, đó là:
1.
Nhấn mạnh về nghĩa hơn là câu chữ.
2.
Nhấn mạnh về liễu nghĩa hơn là không liễu nghĩa.
3.
Nhấn mạnh về trí tuệ hơn là thức.
4.
Chú trọng về pháp hơn là về con người.19
Một
số luận sư Trung Hoa cho thấy rằng luận giải của ḿnh là
xuất phát từ lời giảng, và luận giải thường được các môn đệ
ghi chép lại trên có cơ sở từ các lời giảng, thế nên chúng
ta có thể cho rằng hai lĩnh vực chính của luận giải là giảng
nói và phiên dịch. Có chứng cứ hiển nhiên từ động Đôn Hoàng
cho thấy văn cảnh thuyết pháp trong phiên dịch kinh điển, và
nền tảng này dường như hoàn toàn không bao giờ mất đi. Trong
bối cảnh phiên dịch từ ngôn ngữ Ấn Độ hoặc
Trung
Á sang Trung Hoa, các bản dịch không thể nào bị tách rời v́
dịch giả thường được giảithích Kinh văn: trong khi dịch,và
sự giải thích ấy thường bám sát theo chính Kinh văn. Thế
nên, chẳng hạn, các luận giải của Tăng Triệu về văn hệ
Bát-nhă ba-la-mật-đa là căn cứ vào chú giải của ḿnh và của
ngài Cưu-ma-la-thập, hoặc luận giải của ngài Khuy Cơ là được
tạo nên từ bối cảnh phiên dịch hàn lâm của ngài Huyền Trang.
Phân loại các luận
giải
Dạng
cổ xưa nhất của văn học luận giải Trung Hoa là Chú (zhu),
chỉ c̣n ba bộ trong số này hiện c̣n đang lưu hành, có lẽ nó
xuất phát từ bối cảnh truyền giảng.
Chú
là dạng giải thích trực tiếp từng ḍng đan chéo với nhau
giữa hai hàng chữ trong chính văn. Những luận giải này được
đề tựa qua sự giới thiệu bằng phiên dịch đề kinh và giảng
giải toàn bộ kinh cùng nêu ra lư do của việc tạo luận. Dạng
luận giải đơn giản này được thay thế bởi
Sớ
giải
(shu),
h́nh thành từ thế kỷ thứ 6 đến giữa thế kỷ thứ 9. Sớ giải
thể hiện trọn vẹn nhất truyền thống học thuật và tu tập,
tŕnh bày các biểu tượng của văn học luận giải đang thịnh
hành và đề ra một mức độ hầu như là rất tinh tế nên ít thích
hợp cho hàng cư sĩ tại gia không chuyên nghiệp.
Hai
khía cạnh đặc biệt chính của sớ giải, chính là phương pháp
phân đoạn (kepan)
và dẫn nhập đề tài. Dẫn nhập đề tài đề cập đến phạm vi của
luận giải và vấn đề then chốt của Luận giải Phật giáo. Phần
dẫn nhập gồm hai nhóm đề tài chính:
1.
Giáo điều (mục tiêu của giáo pháp, ư nghĩa của nhan đề, tư
tưởng chủ đạo của tác phẩm, điều mà giáo pháp mong đợi ở
thính chúng, mối liên hệ đối với các giáo lư khác).
2.
Tính chất lịch sử: sự truyền thừa của tác phẩm và lịch sử
của sự truyền bá, gồm cả nơi chốn và những quy ước, lịch sử
quá tŕnh phiên dịch và năng lực vi diệu của luận.
Loại
dẫn nhập mang tính luận giải này ảnh hưởng không chỉ trong
văn học luận giải Trung Hoa, mà cả trong các đề mục chính
của luận giải Phật giáo. Do đó, ngài Thế Thân (thế kỷ thứ
4), một Luận sư tiêu biểu của nền văn học luận giải Ấn Độ,
đă tóm tắt trong tác phẩm của ngài nhan đề
Vyākhyāyukti20
(chỉ
c̣n lưu hành ở Tây Tạng): xác định mục tiêu của giáo pháp (prayojana),
xác định ư nghĩa toàn diện (piṇḍa),
ư nghĩa chi tiết (padārtha),
xác định kết quả nội tại (anusaṃdhika),
phản chứng đối phương (codyaparihāra),
đứng trên phương diện thanh âm, ngôn cú (śabda)
và nghĩa (artha)
mà tŕnh bày sự viên măn của luận (yukti).
Các Luận sư Trung Hoa phân loại hai đề mục đầu tiên của ngài
Thế Thân là dẫn nhập đề tài độc lập, ba đề mục tiếp theo
được sáp nhập vào chính văn của luận.
Ngài
Thế Thân cho rằng tất cả lời dạy của đức Phật đều là viên
măn, mọi kinh điển đều là lời Phật dạy, chỉ có những lời
viên măn là cần yếu và xứng đáng được chú giải, và mọi người
không thể nào hiểu được kinh luận trừ phi người ấy hiểu được
mục tiêu của một giáo pháp nhất định. Cụ thể, mọi người phải
hiểu được kinh luận với ư nghĩa nêu ra cho thính chúng, đặc
biệt là khi thính chúng không thấy rằng ḿnh đủ tŕnh độ để
hiểu ư nghĩa sâu hơn của kinh. Điều giả định sau này là yếu
tố căn bản trong việc xác định quyền tự do của một nhà luận
giải phải có khi giải thích kinh điển.
Phân tích về sự
phân đoạn
Các
luận giải mang tính học thuật của Trung Hoa c̣n được đánh
giá qua phương pháp phân đoạn (kepan),
qua đó tác giả ấn định cho kinh luận một chuỗinhững thuật
ngữ chú giải. Khía cạnh hiển nhiên của phương pháp này, vốn
đạt được tầm mức quan trọng sau thế kỷ thứ 5, cốt ở chỗ phân
đoạn mỗi bộ Kinh thành 3 phần:
1:
Phần giới thiệu (Tự): nêu lên bối cảnh thuyết kinh (nơi
chốn, thính chúng, nhân duyên).
2.
Phần chính (Chánh tông): Phần nội dung chính của kinh.
3.
Phần khuyến tấn: (Lưu thông): Diễn tả tâm hoan hỷ của người
nghe và sự phát nguyện sẽ hoằng truyền giáo pháp.
Bộ ba
phần của kinh văn này có lẽ đă phát xuất từ
Phật địa kinh luận
(Fodi
Jing lun;
T. 1530.26:291 c). Dù phân tích về phân đoạn liên quan đến
việcdịch thuật qua ngài Đạo An, nhưng những mô thức của ứng
dụng hiện đang c̣n lưu hành có thể t́m thấy trong
Pháp hoa Kinh nghĩa sớ21
của
ngài Pháp Dung22.
Trong phần đầu từ bộ ba phần của bộ kinh, các bộ luận giải
có tính học thuật c̣n được phân ra thêm những lớp khác, bao
gồm những thuật ngữ chú giải, (có khi đến vài trăm), là để
giải thích rơ văn kinh. Một dạng chú giải thuật ngữ được
phân biệt rơ từng phần của kinh như là lúc đối thoại giữa
người giảng kinh và đối tượng đương cơ. V́ hầu hết các kinh
đều là h́nh thức đối thoại giữa đức Phật và chúng đệ tử, nên
rất hợp lư khi các nhà luận giải phải làm trong bước đầu
tiên là phân đoạn tiến tŕnh giảng kinh.
Thực
vậy, trong một số luận giải trước đây vào đời Đường, tiến
tŕnh chú giải được xây dựng trên nền tảng cuộc đối thoại.
Nên biết rằng một tiến tŕnh chú giải có thể bao gồm vài
trăm thuật ngữ, người đọc ngày
nay có thể ngạc nhiên, v́ chẳng có mấy người đọc có thể theo
dơi được cấu trúc mô tả giải thích của luận giải. Để khắc
phục t́nh trạng này, một đồ biểu mô tả cấu trúc luận giải
được phát triển. Dù như thể ở trong một t́nh trạng khác, hầu
hết các phương pháp phân đoạn (kepan)
và các biểu đồ đi theo đều bắt nguồn từ bối cảnh thuyết
pháp, và không phải là một sản phẩm của văn hóa bản địa dạng
trứ tác. Thực tế, cấu trúc phân đoạn (kepan)
đă chỉ điểm cho thời gian lùi về sau, thời kỳ sớm nhất của
luận giải Phật giáo, khi chúng được xem như giúp trí nhớ cho
việc giải thích bằng khẩu ngữ.
Sau đời Đường, mô dạng cấu trúc phân đoạn (kepan)
được thay thế bằng các phương pháp khác, và phần dẫn nhập
tổng quát mang tính học thuật được thay thế bằng dạng thức
mới và đơn giản hơn. Thể loại văn học luận giải như là toàn
thể từ đời Tống (960-1279) về sau cho thấy một tiến tŕnh
đơn giản hóa, một sự biến đổi có thể do kết quả một phần nào
đó từ sự xuất hiện của kỹ thuật in ấn mới.
Tiến tŕnh đơn giản hóa này cũng là một phần của sự biến đổi
lớn trong phạm trù xă hội của luận giải. Trong khi trước đời
Tống, các Luận sư chủ yếu là Tăng sĩ Phật giáo, th́ từ đời
Tống về sau, phần đáng kể của nền văn học luận giải là được
trứ tác bởi các Cư sĩ. Thêm vào đó, Thiền tông và tuyên bố
của họ về đốn ngộ vốn không cần nhờ vào ngôn ngữ, lập nên sự
hỗ trợ trong ư niệm nền tảng tuyệt đối vô ngôn của các pháp,
là điều có thể thúc đẩy về thực chất của sự phát triển xa
hơn cho kinh luận chính thống. Dù những yếu tố này, và dù có
nhiều thừa nhận rằng thể loại luận giải Phật giáo đă đi qua
đỉnh điểm của nó hàng thế kỷ, nhưng những luận giải về giáo
pháp đạo Phật vẫn c̣n đang được viết tiếp.®
Nhuận Châu
dịch từ
Encyclopedia of Buddhism.
Mac Millan Reference. USA.
2003, do R.E. Buswell
chủ biên.
CHÚ THÍCH:
1. Tán Ninh贊寧Zanning
(919-999)
Đại sư họ Cao, pháp danh là Tán Ninh,
nguyên quán ở Bột Hải, vào cuối đời Tùy dời đến ở huyện Đức
Thanh thuộc quận Ngô Hưng. Ông sinh năm Kỷ Măo (919), niên
hiệu Trinh Minh thứ 7 đời nhà Lương. Ông xuất gia trong
khoảng năm Thiên Thành (926 - 930) đời Hậu Đường. Vào đầu
năm Thanh Thái (934) ông vào núi Thiên Thai thọ giới Cụ túc,
học luật Tứ phần, tinh thông luật của Nam Sơn (Đạo Tuyên).
Sau đó Ngô Việt Trung Ư Vương tấn phong Tán Ninh làm Lưỡng
nhai Tăng Thống, hiệu là Minh Nghĩa Tôn Văn Đại Sư.
Theo
Thích Thị Kê cổ, quyển 4 th́ Tán Ninh viên tịch
tháng 2, mùa xuân, năm Hàm B́nh thứ 2 (999), hưởng thọ 80
tuổi, đến tháng 3 nhập tháp tại chùa Thiên Thọ. Sách
Tương Sơn
Dă lục, quyển hạ viết: “Tăng Lục Tán Ninh có học
thức sâu rộng, thông bác mọi việc xưa nay, viết hàng trăm
quyển sách, Vơ Xưng Vương Nguyên, Từ Kỵ Tỉnh Huyền hễ có
nghi ngờ điều ǵ đều đến hỏi ông, và hết sức thán phục ông”.
2.
宋高僧傳
(c: Song gaoseng zhuan; e: Song Biographies of Eininent
Monks); 30 quyển.
3佛鳴Buddhaghoṣa;
C̣n gọi là Phật Âm佛音,
Giác Âm覺音,
phiên âm là Phật-đà-cù-sa
佛陀瞿沙.
Một Đại luận sư của Thượng tọa bộ (p: theravāda). Sư sinh
trong một gia đ́nh Bàlamôn tại Ma-kiệt-đà (magadha),
gần Giác Thành (bodh-gayā). Sau khi đọc kinh sách đạo Phật,
Sư theo Phật giáo, đi Tích Lan học giáo lí của Thượng tọa bộ
dưới sự hướng dẫn của Tăng-già Ba-la (p: saṅghapāla
thera). Sư viết 19 bài luận văn về Luật tạng (s, p: vinayapiṭaka)
và về các Bộ kinh (p: nikāya).
Tác phẩm chính của Sư là
Thanh tịnh đạo
(p: visuddhi-magga), tŕnh bày toàn vẹn quan điểm
của phái Đại tự (p: mahāvihāra) trong Thượng tọa bộ.
4.
僧伽跋陀羅Saṃghabhadra.
Ư dịch Chúng Hiền衆賢hoặc
Tăng Hiền僧賢。
5. C: Shanjianlü pibosha善見律毗婆沙
(T.1462).
6.
支
謙c:
Zhi Qian (223-253) Ngài sống vào thế kỷ thứ 3, nhưng niên
đại không được ghi chép lại chính xác. Ngài trước tên là
Cung Minh, người xứ Nguyệt Thị (Scythians), vào đầu đời Tùy
đến cư trú ở Hà
Nam.
Ngài thông thạo đến sáu ngôn ngữ khác nhau, theo học với
ngài Chi Lượng, đệ tử của ngài Chi-lâu-ca-sấm
支樓迦讖.
Ngài học nhiều biết rộng, người đương thời tôn xưng ngài với
các ngài Chi Lượng và Chi-lâu-ca-sấm là Tam Chi,. Sau gặp
loạn lạc, ngài phải lánh sang nước Ngô, được vua Ngô Tôn
Quyền dùng lễ tiếp đón, tôn xưng là “Bác sĩ”, mời dạy
cho thái tử Tôn Lượng học. Từ niên hiệu Hoàng Vũ thứ nhất
triều Ngô (222) cho đến giữa niên hiệu Kiến Hưng (253), hơn
30 năm ngài dành hết tâm huyết, sức lực vào việc phiên dịch
kinh điển sang Hán ngữ.
Kinh điển do ngài dịch đều được người đương thời khen ngợi
là văn phong ư tứ rơ ràng, thanh nhă. Đến năm thái tử nhà
Ngô tức vị, tức là năm 262, ngài vào núi Long Sơn ẩn tu, y
theo ngài Trúc Pháp Lan nghiêm tŕ giới luật. Ngài thị tịch
trong núi. Năm sinh, năm mất đều không được rơ, chỉ biết
ngài thọ được 60 tuổi.
Theo Lương Cao Tăng Truyện, ngài dịch được 49 bộ kinh. Theo
Lịch Đại Tam Bảo Kư th́ số kinh ngài dịch được là 129 bộ.
Tuy nhiên, con số c̣n truyền lại được đến nay trong Đại Tạng
Kinh là 54 bộ.
7康
僧
會
(c : Kang Shenghui; ?-280). Cao tăng Việt Nam. Sư
sinh tại Giao Chỉ, cha mẹ mất lúc lên mười, thông thạo chữ
Phạn và Hán, là người phiên dịch kinh đầu tiên ở Việt Nam
như Lục độ tập kinh,
Cựu tạp thí dụ kinh
; sáng tác các
tác phẩm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam
như Lục độ yếu
mục, Nê-hoàn phạm bối,
chú giải kinh An-ban thủ ư. Sư được xem là người khởi
nguyên Thiền tông Việt Nam. Cuối đời, Sư sang Nam Kinh
(Trung Quốc) và mất tại đây năm 280.
8 Đạo An道安
(312 – 385). Cao tăng thời Đông Tấn, họ Vệ, quê ở Phù
Liễu, Thường Sơn (Hà Bắc), sinh vào niên hiệu Vĩnh Gia thứ 6
triều Đông Tấn (312). Có thuyết nói là vào niên hiệu Kiến
Hưng thứ 2 (314).
Năm 12 tuổi ngài đă xuất gia tu học, thông minh mẫn tiệp,
tinh thông kinh luận. Ngài theo học với Phật Đồ Trừng. Sau,
phương Bắc binh lửa loạn lạc, ngài phải cùng thầy lánh nạn
đi khắp nhiều nơi, đến Tương Dương, Hồ Bắc thuyết giảng giáo
hóa trong 15 năm. Vua PhùKiên nhà Tiền Tần nghe danh ngài,
mang binh đánh Tương Dương chỉ cốt để đón ngài về Trường An,
thỉnh đến chùa Ngũ Trùng, dùng lễ thầy tṛ mà phụng kính.
Ngài thường khuyên Phù Kiên nên cầu thỉnh ngài
Cưu-ma-la-thập về Trường An. Sau, Phù Kiên sai người mang
quân đánh Khưu Từ cũng chỉ v́ việc ấy. Ngài trước thuật,
chỉnh lư rất nhiều bản dịch trước đó, rồi biên soạn thành
một cuốn mục lục kinh
điển, có thể xem là cuốn mục lục kinh tạng sớm nhất
tại Trung Quốc. Rất tiếc là công tŕnh giá trị này đến nay
không c̣n nữa. Tuy nhiên, bộ
Xuất Tam Tạng Kư
Tập của Tăng Hựu vào triều Lương đă căn cứ vào
công tŕnh này của ngài mà soạn thành. Ngoài ra, ngài dồn
hết tâm huyết, trí lực vào việc phiên dịch, chú giải, kinh
luận. Cộng cả thảy được 22 bộ. Trong khi chú thích kinh
điển, ngài đề xuất phép phân chia mỗi bộ kinh thành ba phần
là Tự phần, Chánh tông phần và Lưu thông phần. Phép phân
chia này đă được tuân theo măi cho đến ngày nay.
Ngài cũng chế định nhiều quy tắc, lễ nghi cho tăng đoàn, và
khởi xướng việc lấy họ Thích đứng trước pháp hiệu của tất cả
những người xuất gia. Chính bản thân ngài xưng pháp hiệu là
Thích Đạo An trước nhất. Trong việc nghiên cứu kinh luận,
ngài lấy hệ thống kinh điển Bát nhă làm chủ yếu. Nhưng ngài
cũng rất tinh thông các kinh A-hàm, A-tỳ-đạt-ma. Ngài thị
tịch vào niên hiệu Thái Nguyên thứ 10 (385).
9
C: Ren ben yu sheng jing shu (1 quyển). T. 33,
10
Tăng Triệu僧
肇;
C: sēngzhào; J: sōjō; 374 hoặc 378-414; Ngài là luận sư xuất
sắc nhất của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ năm và cũng là
người đầu tiên trong Phật giáo Trung Quốc nắm vững và tŕnh
bày hoàn hảo giáo lí tính Không của Long Thụ. Tác phẩm nổi
tiếng nhất là
Triệu luận
(肇
論)
và Bảo
tạng luận
(寶
藏
論).
Sư cũng soạn bài tựa cho kinh Duy-ma-cật, bài tựa cho kinh
Trường A-hàm, bài tựa cho Bách luận.
Sư là người Kinh Triệu, xuất thân từ một gia
đ́nh nghèo. Sư có nghề viết mướn
nên có điều kiện đọc rất nhiều sách và rất chú tâm
đến các lời dạy của hai vị Lăo Tử, Trang Tử. Sau khi nghiên
cứu kĩ quyển Đạo đức kinh của Lăo Tử, Sư tự than: “Hay th́
hay lắm nhưng c̣n trụ nơi hư vô, chưa đến chỗ tột cùng.” Sau
khi đọc được kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s:
vimalakīrtinirdeśa-sūtra) – bản dịch của Cưuma-la-thập (s:
kumārajīva) – Sư hoan hỉ nói: “Nay mới biết được chỗ về!” Sư
nhân đây phát tâm xuất gia, trở thành tăng sĩ và đến với
Cưu-ma-la-thập tại Cô Tàng, xin được theo học ư chỉ. Sau khi
Cưu-ma-la-thập dời về Trường An, Sư cũng theo thầy về đó để
phụ giúp trong việc dịch thuật. Nơi Cưu-ma-la-thập, Sư ngộ
được giáo lí Trung đạo, giáo lí tính Không của Long Thụ.
Sư nổi tiếng với tính cách của một tư tưởng gia và văn sĩ là
nhờ bốn quyển sách, gọi chung lại là Triệu luận
(肇
論),
bao gồm: Bát-nhă vô tri luận
(般
若
無
知
論),
Bất chân không luận (不
真
空
論),
Vật bất thiên luận
(物
不
遷
論)
và Niết-bàn vô danh luận
(涅
槃
無
名
論).
Trong đó, Sư nêu tính thống nhất của tương đối và tuyệt đối,
của hiện tượng và bản thể, chúng vừa không rời nhau, vừa đối
nghịch nhau. Tác phẩm của Sư hết sức uyên bác và có tŕnh độ
văn chương cao, là những tổng hợp thật sự của tư tưởng Trung
Quốc và Ấn Độ.
11
Faxian (337-418)
12 Trúc Đạo Sinh竺道生người
họ Ngụy魏.
Ngài được sinh ra khi gia đ́nh cư ngụ ở Bành Thành彭
城,
nay là Từ Châu徐
州phía
Bắc tỉnh Giang Tô江
蘇.
Nguyên quán gia đ́nh trước ở miền Tây nam tỉnh Hà Bắc chuyển
về huyện Cự Lộc钜鹿.Trúc
Đạo Sinh xuất gia với ngài Trúc Pháp Thái竺
法
汰
(320-387) tại chùa Ngơa Quan瓦
官
寺ở
Kiến Khang. Cùng ngài Đạo An tham học với ngài Phật Đồ
Trừng.”Chú bé thông minh này rất khôi ngô. Cùng ngài Đạo An
đến Tân Dă新野,
ngài đă đến Lô Sơn (dăy núi nằm về hướng nam của
Kiukiang trên sông Dương Tử), là trung tâm
sinh hoạt Phật giáo, sớm nhất vào năm 397. Ở đây ngài gặp
Huệ Viễn (334-416) và Tăng-già Đề-bà (Saṃghadeva僧伽提婆;
365-384), một Luận sư thuộc Nhất thiết hữu bộ từ Kashmira
đến Lô Sơn chừng 4-5 năm sau năm 385, và ở đây, ngài đă dịch
A-tỳ-đạt-ma tâm luận được biên soạn bởi ngài Dharmarśresti
năm 391 và Kinh Tridharmaka Sūtra, thuộc hệ A-hàm.
13
Pháp hoa Nghĩa Sớ.
法華義疏,
4 quyển Trúc Pháp Sùng竺法崇:
Cao Tăng Trung Hoa đời Tấn. Xuất gia từ nhỏ tuổi. Nghiêm tŕ
giới luật, thông minh hiếu học. Chuyên tŕ kinh Pháp hoa và
mật chú, Đời Tây Tấn Vũ đế, niên hiệu Thái Thủy năm thứ tư,
268) Sư trụ ở Tương Chân, sau về núi Cát Nghiên ở Diệm Chi
cho đến khi viên tịch.
14
Diệu pháp Liên Hoa kinh nghĩa sớ
妙法蓮華經義疏Miao-fa-lien-hua
ching i-shu. Được đề cập trong phần tiểu sử. Hiện c̣n trong
Hsü 2B 23/4 dưới tiêu đề Pháp hoa sớ. Bản khắc gỗ rất đặc
sắc, riêng biệt phần kinh và luận giải vừa được in ở Bắc
kinh bởi Fo-hsüeh shu-chü.
15
Niết-bàn Kinh nghĩa sớ;
c: Ni-hsüan ching
ishu;
泥洹經義疏. C̣n trong
Niết-bàn kinh tập giải涅槃經集解
, 71 quyển, Taishō 1763;
Tập
giải vốn thường gồm có 72 quyển, gồm cả một bản mục
lục, được kết tập do Tăng Lăng (Pháp Lăng)
僧朗cùng
với Bảo Xướng寶唱theo
lệnh của Lương Vũ đế vào khoảng giữa năm 509- 519. Việc sưu
tập lại các chú giải ấy có đến 20 vị tăng.
16 Có thể là Đạo Dung道融theo
Thang Dụng Đồng ( KSCH 5.p. 462. 16), Đạo Dung là tác giả
của các bộ luận giải về kinh Pháp hoa.
17 Panjiao: Tông Thiên
Thai
18
Tứ y: e: fourfold prop;
s: atvāripratisaraṇāni,藏
rton-pa-bshi:
1. Y Pháp bất y nhân
依法不依人
(s:
dharmapratisaraṇenabhavitavyaṃ
napudgalapratisaraṇena)
2. Y liễu nghĩa kinh bất
y bất liễu nghĩa kinh
依了義經不依不了義經
(s:
nītārtha-sūtrapratisaraṇena
bhavitavyaṃ
na neyārtha-sūtra pratisaraṇena).
3. Y nghĩa
bất y ngữ
依義不依語(s:
arthapratisaraṇena
bhavitavyaṃ
na vyañjanapratisaraṇena).
4. Y trí
bất y thức
依智不依識
(s:
jñānapratisaraṇenabhavitavyaṃ
na vijñānapratisaraṇena)
19 Bản
tiếng Anh không ghi điều
này.
20
E:
Practice of
Exegesis.
21 C:
Fahua jing yiji;
T.1715.33:574c.
22 C:
Fayun; 467-529
|