|
GIẢI TRÌNH Ý NGHĨA VU
LAN
THÍCH PHƯỚC SƠN
Hằng năm vào dịp Rằm
tháng Bảy, các Phật tử cử hành lễ Vu Lan báo hiếu một cách trang
trọng, đầy cảm động, theo truyền thống Phật giáo Bắc phương, đó là một
sinh hoạt tôn giáo bao hàm rất nhiều ý nghĩa.
Sự tích báo hiếu này
phát xuất từ kinh Vu-lan-bồn, qua tấm gương cứu mẹ của tôn giả
Mục-kiền-liên, vào thời đức Phật còn tại thế, ở nước Ấn-Độ. Ðến khi
Phật giáo truyền vào nước ta, kết hợp với truyền thống uống nước nhớ
nguồn, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam, Vu-lan đã trở thành một
ngày lễ mang đầy tính cách thiêng liêng. Do thế, ngày nay Ðại lễ Vu
lan không còn là ngày lễ riêng của người Phật tử, mà đã trở thành ngày
truyền thống chung cho cả dân tộc. Bởi vì, tất cả mọi người có mặt
trên cõi đời này, từ một em bé thơ ngây đến những cụ già đầu bạc, từ
một người dân bình thường cho đến các bậc cao sang quyền quí, không
một ai là không do cha mẹ sinh thành, không một ai là không do cha mẹ
dưỡng nuôi chăm sóc từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành–ngoại trừ
một số ít người bất hạnh. Chính nhờ cha mẹ mà ta mới có hình hài này,
và nhờ có hình hài này ta mới chu toàn được nghĩa vụ của một người
công dân lương thiện, hầu đóng góp sức lực nhỏ bé của mình vào công
cuộc xây dựng một xã hội công bằng văn minh và thịnh vượng.
Như vậy, Hiếu đạo hiển
nhiên là một đạo lý nghìn đời của những dân tộc văn minh, mà dân tộc
ta từng tự hào là một dân tộc có bốn nghìn năm văn hiến. Do thế, trong
quá khứ, các nhà đạo đức của nước ta đã có công sưu tập những mẩu
chuyện hiếu thảo của tiền nhân gom thành 20 sự tích, viết thành một
quyển sách lấy tên là Hai Mưoi Gương Hiếu, nghĩa là 20 tấm gương hiếu
thảo. Nội dung tập sách này dùng để giáo dục mọi người giữ gìn hiếu
đạo. Mà trong đó các tấm gương hiếu thào của vua Trần Anh Tông đối với
Phụ hoàng, vua Tự Ðức đối với Mẫu hậu là tiêu biểu hơn hết. Những tấm
gưong này lâu nay đã được lưu truyền trong dân chúng và cũng từng được
nhiều người ngưỡng mộ noi theo, dù chưa được phổ cập rộng rãi. Có
điều, chúng ta phải công bằng mà nhìn nhận rằng trải qua hàng nghìn
năm dân tộc ta từng chung sống và chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung
Hoa không ít. Thế nên, từ bao đời, chúng ta đã hiểu thế nào là Tam
cương, ngũ thường, thế nào là Tam tùng, Tứ đức, thế nào là Nhân nghĩa
lễ trí tín, thế nào là Phụ từ tử hiếu, Phu xuớng phụ tùy v.v. . . Khi
nói về Ðạo hiếu thì chúng ta nhớ đến một câu nói trong kinh Thi Phụ hề
sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thâm
ân, hiệu thiên võng cực (Cha sinh ra ta, mẹ bồng bế ta, thương thay
cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo ân sâu, khác nào như trời cao khôn
cùng) như một lời tuyên ngôn về Hiếu đạo. Còn khi đề cập đến công ơn
từ mẫu thì đã có công thức chín chữ Cù lao Sinh (đẻ ra), cúc (nâng
đỡ), phủ (vuốt ve), súc (nuôi cho bú mớm), trưởng (nuôi cho khôn lớn),
dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (xem tính tình mà bảo ban), phúc
(bảo vệ). Ðồng thời các nhà luân lý Trung Hoa cũng sưu tập các gương
hiếu thảo cổ kim viết thành một quyển sách gọi là Nhị thập tứ hiếu (24
tấm gương hiếu thảo). Mà trong đó có những tấm gương tiêu biểu như vua
Hán Linh Ðế đích thân sắc thuốc dâng cho mẹ, mỗi khi Mẫu hậu ốm đau.
Ðinh Lăng khắc tượng cha mẹ để thờ, và hằng bữa dâng cơm nước lên hai
đấng sinh thành như lúc song thân còn sống. Còn Mạnh Tông thì khóc
măng, Quách Cự chôn con, Vương Tường nằm giá v.v..., toàn là những tấm
gương hiếu thảo rất gây ấn tượng và xúc động lòng người . Nhưng đặc
biệt nhất là đức Khổng Tử đã đề xuất cách báo hiếu rất minh bạch và
sâu sắc. Ngài bảo rằng bổn phận làm con không những cung phụng cho cha
mẹ những tiện nghi vật chất mà điều cần thiết là phải thể hiện tình
cảm chân thành, thương yêu cha mẹ hết lòng. Ngài nói: “Hiếu tử chi sự
thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí kỳ ưu,
tang tắc trí kỳ ai, tế tắc trí kỳ nghiêm” (Người con hiếu phụng dưỡng
cha mẹ, ăn ở cư xử phải cực kỳ cung kính, nuôi duỡng cha mẹ phải hết
sức vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc ma
chay phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải rất mực trang
nghiêm) (Minh Tâm Bảo Giám).
Ðó là những nguyên tắc
báo hiếu rất thấu đáo và thiết thực. Có thể nói, từ ngàn xưa dân tộc
ta đã thấm nhuần những chuẩn mực đạo đức rất nhân bản và thấm đượm
tình người. Nhờ đó, tạo tiền đề cho một nếp sống lấy nhân nghĩa làm
gốc, theo tinh thần ơn đền nghĩa trả, ăn quả nhớ người trồng cây, xem
tiền tài như tro bụi, trọng nhân nghiã tựa nghìn vàng. Chính nhờ tuân
thủ những đạo lý này mà nhân dân ta có một nếp sống thuần lương đức
hạnh, duy trì được tôn ty trong gia đình, ổn định được trật tự ngoài
xã hội, giữ gìn kỷ cương của đất nước, tạo nên một nét nhân văn rất
đặc sắc.
Về mặt thế thường và
thực tiễn thì những cách báo hiếu như vừa trình bày trên đây thật sự
tỏ ra có hiệu quả và khá tốt đẹp; điều đó không một ai có thể phủ
nhận. Tuy nhiên, nếu hiểu báo hiếu theo nghĩa rốt ráo, vừa vật chất,
vừa tinh thần, xuyên suốt quá khứ, hiện tại và vị lai, thì có lẽ chỉ
có Phật giáo mới giới thiệu một mô hình báo hiếu tương đối hoàn thiện,
như tấm gương báo hiếu của tôn giả Mục-kiền-liên mà kinh Vu-lan-bồn đã
đề cập.
Kinh này trình bày sự
kiện tôn giả Mục-kiền-liên vâng lời Phật dạy thỉnh cầu chư Tăng mười
phương chú nguyện cầu siêu độ cho mẹ mình vào dịp Rằm tháng Bảy, ngày
chúng Tăng Tự tứ. Và nhờ sức chú nguyện của Tăng chúng mà bà Thanh Ðề
đã thoát khỏi cảnh ngạ quỉ, sinh về thiên giới. Qua sự tích này, chúng
ta có thể khởi lên một vài thắc mắc và xin được mạo muội giải trình:
Thứ nhất, kinh
Vu-lan-bồn được biết là do chính Phật tuyên thuyết tại Ấn Ðộ, rồi
truyền sang Trung Hoa, sau đó đến nước ta, trải qua thời gian khá lâu.
Trong đó, có thể có một vài chi tiết bị thay đổi ít nhiều, nhưng đại
thể vẫn là bắt nguồn từ một câu chuyện có thật, mang tính khái quát về
phương pháp báo hiếu cha mẹ theo tinh thần Phật dạy. Mà đức Phật vốn
là bậc: “Chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả,
bất dị ngữ giả” (Người nói đúng đắn, nói chắc chắn, nói như thật, nói
không hư dối, nói không mâu thuẫn). [kinh Kim Cương]. Hoặc như lời
phát biểu của tôn giả A-nậu-lâu-đà trong kinh Di Giáo: “Bạch Thế Tôn,
mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi,
nhưng chân lý mà Thế Tôn dạy thì không thể nào làm cho khác được”. Ðức
Phật lại là bậc Vô Thượng Chánh Giác có Ngũ nhãn, Lục thông. Ngũ nhãn
là: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn. Nhục nhãn
là cái thấy của những người thường như chúng ta, Thiên nhãn là cái
thấy của chư Thiên, Tuệ nhãn là cái thấy của hàng Nhị thừa, Pháp nhan
là cái thấy của các vị Bồ tát, và Phật nhãn là cái thấy của chư Phật.
Mà Phật có đủ Ngũ nhãn nên Ngài thấy được quy luật nhân quả tường tận,
không những thấy được những sự việc hiện tại mà còn thấy cả những sự
kiện thuộc quá khứ và vị lai. Không những thấy được những sự vật hữu
hình mà còn thấy cả những sự vật vô hình. Về không gian thì Ngài thấy
khắp tam thiên đại thiên thế giới.
Về thời gian thì
Ngài thấy suốt từ vô thỉ cho đến vô chung. Thế còn cái thấy của chúng
ta thì dựa trên cơ sở nhục nhãn của một tâm trí còn đầy ắp vô minh cát
bụi. Cho nên tầm nhìn của chúng ta còn rất nhiều hạn chế là lẽ đương
nhiên. Vì vậy, chúng ta không nên đem cái thấy biết hạn cuộc của mình
ra làm chuẩn mực để đo đạc tri kiến của Phật, rồi sinh tâm hoài nghi
những điều Phật dạy. Huống nữa, đức Phật đã từng tuyên bố: “Như Lai vì
lòng thương đời, vì hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại nên thị hiện
trong cỡi đời này”. Qua đó có lẽ chúng ta đã lãnh hội đưọc phần nào
hoài bão của Phật qua những lời kinh còn truyền lại.
Một điểm thắc mắc nữa
là có chắc chư Tăng đủ đạo lực hóa giải được tội báo của bà Thanh Ðề
hay không?–Thiển nghĩ, việc này thật khó trả lời. Vì nó quá huyền
nhiệm. Nhưng có lẽ ai có tu thì mới biết được giá trị của sự tu hành
là như thế nào, giống như nguời uống nước lạnh hay nóng chỉ có mình
mới rõ. Tuy thế, chúng ta thường nghe trong nhân gian người ta từng
nói: “Chúng đức như hải”, nghĩa là đức độ của chúng tăng bao la như
biển cả. Hay, “Ðạo cao long hổ phục, đức trọng quỉ thần kinh” (Những
bậc đạo hạnh cao siêu thì cọp rồng đều nép phục, và những vị có đức độ
sâu dày thì quỉ thần đều kiêng nể). Và trong kinh Pháp Cú cũng minh
họa hình ảnh của một bậc A-la-hán đã hoàn toàn giái thoát
Thành thị hay xóm
làng,
Thung lũng hay
đồi cao,
La-hán trú chỗ
nào,
Nơi ấy được an
lạc.
Ngoài ra, cổ đức cũng
từng mô tả về chân dung của một bậc thiện nhân cao khiết: “Dữ thiện
nhân cư như nhập chi lan chi thất” (Cùng sống chung với bậc hiền thiện
như vào trong ngôi nhà được chất đầy những đóa hoa lan).
Ðó là đôi nét về hành
trạng của những bậc Thánh thiện, giải thoát. Chúng ta vẫn biết rằng
trong số chư Tăng mà Mục-liên thỉnh cầu chú nguyện cho thân mẫu của
mình không phải ai cũng đã đắc đạo, nhưng có điều chắc chắn là trong
đó có nhiều người đã thành tựu đạo nghiệp đến một mức độ nhất định,
cũng như không ít người suốt đời tâm nghĩ điều lành, miệng nói lời
lành, thân làm việc lành. Với những người có đức độ như vậy huớng tâm
lực nguyện cầu cho bà Thanh Ðề, ắt hẳn tâm bà sẽ chuyển biến từ ác
niệm sang thiện niệm. Mà niệm ác thì chuốc lấy quả khổ, còn niệm thiện
thì hưởng được phước lành. Vì tam giới do tâm tạo. Tâm giống như một
họa sĩ có thể vẽ nên địa ngục mà cũng có thể tạo ra thiên đường. Cho
nên: “Tiền tâm tác ác như vân phú nhật, hậu tâm khởi thiện như cự tiêu
ám” (Tâm trước làm ác như đám mây che khuất mặt trời, tâm sau khởi
thiện như ngọn đuốc xua tan bóng tối) [Kinh Luật Dị Tướng]. Khi tâm bà
Thanh Ðề đã chuyển hướng, kết hợp với mãnh lực chú nguyện của các bậc
Thánh Tăng giàu lòng từ mẫn, thiết nghĩ, bà được giải thoảt khỏi cảnh
u đồ, sinh lên thiên giới là điều có thể hiểu được. Trái lại giả sử
tâmbà vẫn giữ ác niệm trước sau như một, thì dù cho với đạo lực từ bi
cao cả như chư Phật, chung cục cũng không thể nào cứu vớt được bà.
Qua sự kiện này nhắc
nhở cho chúng ta biết rằng chết chưa phải là hết mà vẫn còn diễn tiến
liên tục qua nhiều đời sống khác. Mọi người sống trên thế gian này,
nếu như chưa chứng được Thánh quả, giải thoát khỏi khổ đau, đạt đến
Niết-bàn vĩnh cửu, thì còn bị định luật sinh tử luân hồi chi phối,
trôi lăn trong ba cõi, sáu đường, sinh tử, tử sinh bất tận; hễ làm
phước thì hưởng quả vui, gây ác thì chuốc khổ báo. Tất cả loài hữu
tình đều phải chịu trách nhiệm về ba nghiệp do mình tạo ra. Thế nên,
trong hiện tại phải nỗ lực vun bồi công đức, gây tạo phước lành, tránh
xa việc ác để mai sau được mãi mãi thăng tiến trên con đường Thánh
thiện.
Như vậy là chúng ta đã
có thể tin tưởng được luật nhân quả gieo nhân nào gặt quả nấy. Thế
nhưng, dựa vào niềm tin này có người sẽ nêu lên câu hỏi: “Cha mẹ tôi
lúc sinh tiền làm nhiều việc phước thiện nên sau khi chết, nếu như
không thành bậc Thánh thì cũng được sinh lên cõi trời hưởng mọi phước
lạc, chứ đâu có đọa vào ngạ quỉ khổ sở như bà Thanh Ðề mà phải gây tạo
công đức, cầu thỉnh chư Tăng cứu độ?”
Qua thắc mắc này, người
viết xin được trao đổi như sau: Chúng ta từng nghe Phật dạy: “Hà nhân
vô quá, hà giả vô khiên” (Ai mà không có lỗi, ai mà không có tội); cho
nên, ngoại trừ các bậc Thánh đã đoạn trừ hết ba độc, còn tuyệt đại đa
số chúng ta đang sống trong cõi đời này thì mấy ai dám cho là mình
không gây ra ít nhiều lầm lỗi. Mà đã có lỗi thì sau khi qua đời thường
bị đọa lạc, mà đã đọa lạc thì rất cần đến thân nhân làm phước hồi
hướng để cứu vớt cho mình, đó là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, nếu như cha
mẹ ta đều được giải thoát, không còn đọa lạc, thì những công đức mà
mình đã tạo ra để hồi hướng cho họ vẫn còn nguyên vẹn chứ không hề suy
suyển chút nào. Những công đức ấy giống như một thứ ngân khoản mà mình
ký gởi vào ngân hàng–một loại ngân hàng bất hoại, vĩnh cửu, không có
bất cứ một thứ gì có thể phá huỷ được–hễ khi nào cần đến thì mình lấy
ra sử dụng. Hơn nữa, hành vi báo hiếu của mình không những có kết quả
ở tương lai mà có kết quả ngay trong hiện tại. Vì lẽ, khi ta thực hiện
một nghĩa cử cao đẹp, làm một việc hợp với đạo lý thì tâm hồn ta cảm
thấy nhẹ nhàng thanh thản, mà những người xung quanh cũng nhìn ta với
đôi mắt ái mộ và đầy thiện cảm. Nhờ đó, khi cần tham gia một việc công
ích nào thì nhân cách của mình được mọi người tín nhiệm, lời nói của
mình được mọi người tin tưởng. Thiết nghĩ, sống trên cuộc đời nầy mà
được tha nhân mến mộ, tin cậy, thì quả thật là một phần thưởng cực kỳ
cao quí.
Một điểm đặc biệt khác
là trong thế gian này, có thể có những người không hiếu thảo với cha
mẹ, nhưng không một ai là không mong muốn con cháu hiếu thảo với mình.
Mà muốn cho con cháu có lòng hiếu thảo thì không có cách nào hữu hiệu
hơn là chính bản thân mình phải làm gương tốt. Tấm gương hiếu thảo của
mình đối với cha mẹ là một bài học sống, một hình thức thân giáo đầy
thuvết phục, có tác dụng rất sâu sắc đối với con cháu của chính mình;
do thế, ta có quyền hy vọng chúng sẽ noi theo gương mình mà chu toàn
hiếu đạo. Ðiều này các bậc tiền bối đã từng lý giải:
“Hiếu thuận hoàn sinh
hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn
sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đàn khán
thiềm đầu thủy,
Ðiểm điểm trích
trích bất sai di”
(Nếu mình hiếu
với mẹ cha,
Mai sau con hiếu
với ta khác gì.
Nếu mình ăn ở vô
nghì,
Ðừng mong con
thảo làm gì uổng công.
Kìa xem giọt
nước xuôi dòng,
Giọt sau, giọt
trước cũng đồng một nơi)
Hiện nay các phương
tiện truyền thanh, truyền hình giới thiệu những loại hình nghệ thuật
những phim ảnh rất đa dạng. Tuy nhằm mục đích giải trí và làm phong
phú kiến thức của công chúng về những chân trời mới, trong đó tiềm
tàng những gương sáng, cách giáo dục đạo đức hiếu thuận; nhưng thị
trường điện ảnh, sách báo còn lọt không ít những loại phim ảnh sách
báo chứa đựng khá nhiều độc tố. Ðối với người lớn, vì phần đông đã
được trang bi bằng những vốn liếng văn hóa truyền thống, đã từng trải
nghiệm cuộc đời, nên khi thưởng thức các loại hình ấy biết cách gạn
đục khơi trong, tiếp thu những phương diện tích cực, loại bỏ những
khía cạnh tiêu cực; do đó, tương đối ít nguy hiểm. Thế nhưng, đối với
giới trẻ là những người đang dồi dào sinh lực, thường có khuynh hướng
phiêu lưu mạo hiểm, bản thân lại chưa thấm nhuần đạo đức truyền thống,
chưa trải qua kinh nghiệm trường đời, cho nên khi thuởng thức những
loại hình nghệ thuật ngoại lai, không những họ tiếp thu nét tinh hoa
của chúng mà cùng lúc hấp thụ luôn cả những độc tố. Những độc tố ấy
đến khi phát tác sê làm cho thể xác tàn tạ, tâm hồn băng hoại, đưa đến
gia đình tan rã, xã hội rối loạn, và đất nước bất ổn. Vì vậy, thiết
nghĩ các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục cần phải hết sức cảnh giác đề
phòng, và giới chức có thẩm quyền cần phải quan tâm nhiều hơn nữa gạn
lọc những độc tố tiềm tàng trong các loại phim ảnh ngoại lai, chọn lựa
cẩn thận những loại hình nghệ thuật đứng đắn, trước khi cho trình
chiếu. Có như vậy, may ra mới tránh bớt những hậu quả đáng tiếc mà lâu
nay báo chí đă phản ảnh khá nhiều.
Thế còn các loại hình
nghệ thuật và những mô thức giáo dục truyền thống thì sao? Thiển nghĩ,
các loại hình này đã trải qua nhiều đời, các bậc hiền nhân thánh triết
của ta đã tốn nhiều công sức gạn lọc, loại bỏ những nhược điềm và tô
bồi những ưu điểm. Do thế, những mô hình ấy tương đối bảo đảm tính an
toàn; nếu như không làm thăng hoa phẩm hạnh của con người đến đích
chân thiện mỹ, thì cũng không đến nỗi gây ra những tác hại nghiêm
trọng.
Thiết nghĩ, dịp lễ
Vu-lan báo hiếu cũng là một cơ hội tốt đẹp để cho những người con Phật
chu toàn hiếu đạo dối với tứ thân phụ mẫu, với cửu huyền thất tổ và
những thân nhân quá cố. Mà làm tròn đạo nghĩa cao đẹp của một con
người cũng là phương thức khẳng định nhân cách của một công dân lương
thiện, trong một đất nước có truyền thống văn minh. Xin thành tâm kính
chúc quí vị, ai nấy đều là những dâu hiền, con thảo, bản thân được
nhiều an lạc, gia đình tràn đầy hạnh phúc, trong mùa báo hiếu Vu-lan.

  [BANTIN]
|