|
CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO
PHẬT
QUA KINH VU LAN
VÀ KINH BÁO ÂN CHA MẸ
Thích Viên Giác
Hiếu thảo với cha mẹ là
một đức tính tốt đẹp được mọi người ca tụng, đức tính ấy được coi như
một nền tảng cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời
sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Đối với đạo Phật, thực
hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chánh pháp, là con đường
của người Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một
người Phật tử chân chính được. Bởi vì người Phật tử thì phải thực hành
các thiện pháp mà trong kinh "Nhẫn nhục" nói rằng : "Điều thiện tối
cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu". Vì vậy, báo hiếu là bản
chất của người Phật tử và đã trở thành truyền thống tốt đẹp của người
Phật tử Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung.
Quan niệm về hiếu đạo
của đạo Phật được thể hiện rõ nét qua hai cuốn kinh phổ biến là Kinh
Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ, kinh mà không người Phật tử nào không
biết, thường được đọc tụng vào dịp tháng bảy, lễ Vu Lan.
Trình bày về quan niệm
hiếu của Phật Giáo, chúng tôi dựa vào hai cuốn kinh nay với mục đích :
1.Tìm hiểu chữ "Hiếu"
trong đạo Phật.
2.Làm sáng tỏ ý
nghĩa hiếu ở trong kinh và phương thức báo hiếu của kinh.
3.Qua đó thấy
được sự dị đồng quan điểm hiếu của Phật Giáo và quan điểm hiếu thông
thường.
Trước hết, chúng tôi xin
đề cập đến kinh VU-LAN-BỔN.
A. KINH VU-LAN-BỔN
I.NỘI DUNG KINH: gồm có
3 phần
1 . Nói về Ngài Mục Kiền
Liên, một đệ tử xuất sắc của Đức Phật, sau khi đắc đạo, thấy mẹ của
mình sống trong cảnh giới quỷ đói, thân hình tiều tu?hổ sở. Ngài sử
dụng năng lực thần thông của mình, đưa bát cơm đến dâng cho mẹ. Mẹ
Ngài được cơm, lòng tham khởi lên, tay trái che bát, tay phải bốc ăn,
nhưng cơm chưa tới miệng đã hoá ra lửa, nên không ăn được. Nói về Ngài
Mục Kiền Liên, một đệ tử xuất sắc của Đức Phật, sau khi đắc đạo, thấy
mẹ của mình sống trong cảnh giới quỷ đói, thân hình tiều tu?hổ sở.
Ngài sử dụng năng lực thần thông của mình, đưa bát cơm đến dâng cho
mẹ. Mẹ Ngài được cơm, lòng tham khởi lên, tay trái che bát, tay phải
bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hoá ra lửa, nên không ăn được.
2 . Ngài Mục Kiền Liên
xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ Ngạ quỷ. Đức Phật
dạy rằng, phải nhờ đến uy lực của tập thể chúng tăng mới cứu được mẹ
ông. Vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự tứ sau 3
tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa vật dụng cúng dường chư
tăng, nhờ chư tăng chú nguyện, mẹ ông mới thoát được khổ. Ngài Mục
Kiền liền vâng lời Phật dạy, thực hành phương pháp báo hiếu ấy, nên đã
cứu được mẹ.
3 . Ngài Mục Kiền Liên
xin Phật cho phép các phật tử sau này được thực hành phương pháp báo
hiếu cha mẹ bằng cách cúng dường Vu – Lan - Bồn để báo đáp ân cha mẹ.
Đức Phật khen ngợi và chấp thuận. Từ đó, ngày rằm tháng bảy là ngày
báo hiếu truyền thống cuả Phật Giáo. Ngài Mục Kiền Liên xin Phật cho
phép các phật tử sau này được thực hành phương pháp báo hiếu cha mẹ
bằng cách cúng dường Vu – Lan - Bồn để báo đáp ân cha mẹ. Đức Phật
khen ngợi và chấp thuận. Từ đó, ngày rằm tháng bảy là ngày báo hiếu
truyền thống cuả Phật Giáo.
II. Ý NGHIÃ CỦA PHƯƠNG
PHÁP BÁO HIẾU TRONG KINH:
1 . Ý nghĩa bát cơm hoá
lửa:
Mẹ ngài Mục Liên đang
sống trong cảnh giới đói khát của Ngạ quỷ do nghiệp nhân tham lam bỏn
xẻn , thì quả tương ứng với nhân tham là cảnh thiếu thốn . Kinh Tiểu
Nghiệp Phân Biệt nói :" Nếu người tham lam bỏn xẻn , không bao giờ
biết bố thí do tánh keo kiệt bám víu vào tài sản của mình , nếu tái
sanh làm người sẽ bị nghèo nàn thiếu thốn" …
Trong Phật giáo , hình
ảnh ngọn lửa thường được dùng để ám chỉ sức mạnh của các thế lực tối
tăm như lòng tham , sân , si … thường gọi là lửa tham , lửa sân , lửa
si… Do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn , nên mẹ ngài Mục liên phải sống
trong cảnh khốn khổ Ngạ quỷ .Do lòng tham lam vẫn còn chi phối mạnh mẽ
tâm thức của bà , nên khi nhận bát cơm , bà đã vội vàng tay trái che
bát , tay phải bốc ăn vì sợ kẻ khác cướp mất bát cơm của mình . Sự
tham lam ích kỷ đó bùng lên quá mạnh , như một ngọn lửa bùng lên bao
phủ tâm thức của bà làm cho bà thấy lửa ở trong bát cơm của mình , lửa
ở đây là lửa của tâm thức chứ không phải lửa ở bên ngoài . Cho dù bát
cơm không hóa lửa đi nữa bà cũng khó mà hưởng thụ được bát cơm một
cách ngon lành , bởi lẻ với tâm lý tham lam bỏn xẻn , bà ăn trong vội
vàng , lo lắng khiếp sợ , thì nuốt cơm cũng như nuốt đất mà thôi .
Mặt khác , như đã nói
theo định luật chiêu cảm của nghiệp báo , khi dã tạo nghiệp đói , thì
dù có cơm canh ngon lành vẫn thấy lửa như thường , cũng giống như một
người đã tạo nghiệp ngu si , thì dù có gặp sách vở hay ho, họ cũng coi
như giấy lộn mà thôi , bởi lẻ nghiệp nhân và nghiệp quả phải tương
đồng .
Ngài Mục Liên không cứu
mẹ được, vì sức của một mình ngài không đủ chế ngự và chuyển hoá được
ngọn lửa tham của mẹ ngài, hay nói cách khác , thần thông không thể
xoá được luật nhân quả. Ngọn lửa xuất hiện ở đâu thì phải diệt ở đó ,
mẹ ngài đã tạo ra ngọn lửa thì chính bà mới dập tắt được ngọn lửa đó.
2. Ý nghĩa chư tăng chú
nguyện :
Đức Phật dạy phương pháp
cứu mẹ cho ngài Mục Kiền Liên là phải nhờ vào sức mạnh tâm linh của
chư tăng trong ngày Tự Tứ . điều đó đã nói lên sức mạnh của tập thể
bao giờ cũng thù thắng hơn sức mạnh của cá nhân , dù cá nhân đó vĩ đại
như Đức Phật .
Sau ba tháng an cư kiết
hạ , đến ngày rằm tháng bảy thì giải chế phải làm lễ Tự Tứ . Chữ " Tự
Tứ" tiếng Pali gọi là PAVARANA nghĩa là tuỳ ý , tức là xin chư tăng
tuỳ ý chỉ trích những lỗi lầm của mình do chư tăng thấy , nghe hay
nghi để mình biết mà sám hối , nhờ sám hối nên thân khẩu ý được thanh
tịnh thì công đức rất lớn . Dây là cách thức hạ mình cầu xin chỉ lỗi ,
tương tự như câu nói của Nho là KHIÊM SINH ĐỨC , có lẽ vì vậy mà phải
nương nhờ ý lực chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ chứ không
phải những ngày khác .
Với tâm lực thanh tịnh ,
đầy đủ các đức tính từ bi an lạc , chư tăng hướng tâm mình vào cảnh
giới khổ đau của Ngạ quỷ , luồng tâm từ của chư tăng hợp nhất tạo
thành một nguồn năng lượng lớn có tác dụng làm dịu mát môi trường nóng
bức của cảnh giới Ngạ quỷ, như một luồng gió mát thổi qua buổi trưa hè
oi ả , làm cho thâm tâm của mẹ Ngài Mục Liên được nhẹ nhàng thanh
thoát và bình tỉnh hơn , do đó đã tạo điều kiện cho thiện tâm của bà
phát khởi , chuyển hoá được nghiệp lực của chính bà , từ đó thay đổi
được môi trường sống của bà . Không những mẹ ngài Mục Liên được giải
thoát , mà tất cả những người sống trong môi trường đó cũng được thừa
hưởng luồng gió mát từ tâm ấy , và nếu họ phát khởi thiện tâm thì có
thể giải thoát như nhau . Thông thường sự tác động của ngoại cảnh có
thể làm thay đổi tâm thức của con người , nhất là đối với những người
chưa làm chủ được tâm thức của mình . Khi bị sống trong hoàn cảnh bức
xúc áp chế , lòng người trở nên cọc cằn thô lỗ, độc ác ..v.v… Khi hoàn
cảnh thay đổi thuận lợi dễ chịu , mát mẻ..v.v… tâm tư của con người
được thoải mái , tỉnh táo hơn , và do đó dễ nhận chân ra điều hay lẽ
phải . Cũng trên quy luật đó , khi nguồn năng lượng tâm từ chiếu
toảvào cảnh giới nóng bức của Ngạ quỷ , tạm thời làm dịu mát và đình
chỉ các nổi đau đớn , đói khát của mẹ ngài Mục Kiền Liên và những ngạ
quỷ khác , giây phút đó đã tạo ra cơ hội cho trí tuệ phát sinh và cứu
được bản thân của bà .
Tóm lại , sự chú nguyện
của chư tăng trong ngày Tự Tứ không phải xóa được luật nhân quả ,
không phải trực tiếp cứu rỗi tội lỗi của chúng sinh , mà điều đó chỉ
có tác dụng trợ duyên , tạo những điều kiện thuận lợi cho chúng sinh
phát khởi thiện tâm của chính mình . Thiện tâm của mỗi người mới có
thể cứu được chính họ mà thôi .
B. KINH BÁO ÂN CHA MẸ
I. NỘI DUNG KINH : Gồm
có 6 phần Gồm có 6 phần
1. Phần duyên khởi :Đức
Phật trong lúc du hành gặp một đống xương khô , Ngài liền đảnh lễ sát
đất . Đệ tử của Phật là ngài Anan ngạc nhiên hỏi Phật vì lý do gì mà
lễ bái đống xương khô ấy . Đức Phật dạy rằng , đống xương khô này hoặc
tổ tông kiếp trước , hoặc là cha mẹ nhiều đời của ta nên ta chí thành
kính lễ .
2. Đức Phật dạy ân đức
cha mẹ có 10 điều :
a . A? giữ gìn mang thai
trong 9 tháng .
b . A? sinh sản
khổ sở
c . A? sinh rồi
quên lo
d . A? nuốt đắng
nhổ ngọt
e . A? nhường khô
nằm ướt
g . A? bú mớm
nuôi nấng
h . A? tắm rửa
chăm sóc
i .A? xa cách
thương nhớ
k.A? vì con làm
ác
l.A? thương mến
trọn đời .
3. Đức Phật dạy về sự
bất hiếu của con cái :
A? nói hỗn hào với cha
mẹ , xấc xược với anh em chú bác bà con ..v.v.
Không tuân theo lời dạy
của cha mẹ , thầt bạn và các bậc trưởng thượng trong gia tộc .
Theo bạn bè xấu ác , từ
bỏ gia đình đi hoang , gây tạo tội lỗi làm cho cha mẹ, bà con buồn khổ
.
Không lo học tập , xao
lãng nghề nghiệp , không tạo dựng được một đời sống vững chắc , làm
cha mẹ lo lắng .
Không phụng sự cha mẹ về
vật chất , không an ủi về mặt tinh thần , coi thường cha mẹ , coi
trọng vợ con .
4. Đức Phật dạy ân đức
cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như:
Vai trái cõng cha , vai
phải cõng mẹ , cắt da đến xương , nghiền xương thấu tuỷ , máu đổ thịt
rơi cũng không đáp được công ơn cha mẹ
Giả như có ai gặp lúc
đói khát , phá hoại thân thể , cung phụng cha mẹ cũng không đáp được
công ơn cha mẹ .
Vì cha mẹ mà trăm kiếp
nghìn đời , đâm tròng con mắt , cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc
xuất nhập toàn thâncũng không trả nỗi công ơn cha mẹ .
Dù vì cha mẹ , đốt thân
làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ .
5. Đức Phật dạy về
phương pháp báo hiếu :
Ngoài việc cung phụng
cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết , chúng ta
phải :
Khuyến hoá cha mẹ thực
hành thiện pháp .
Phải vì cha mẹ mà thực
hành tịnh giới , bố thí , làm các việc lợi ích cho mọi người .
Phải truyền bá tư tưởng
hiếu đạo này cho nhiều người được lợi ích .
6. Phần kết thúc và lưu
thông:
Đức Phật khích lệ tinh
thần báo hiếu .
Đại chúng phát nguyện
vâng lời phật dạy .
Đặt tên kinh là Kinh Báo
A? Cha Mẹ .
II. Ý NGHĨA BÁO HIẾU VÀ
PHƯƠNG PHÁP BÁO HIẾUTRONG KINH BÁO ÂN CHA MẸ :
1. Ý nghĩa về duyên khởi
của kinh :
Duyên khởi của kinh bắt
đầu bằng hình ảnh một đống xương khô , là một hình ảnh tạo ấn tượng
mạnh cho người đọc , hình ảnh ấy nói lên quan niệm về hiếu đạo một
cách rộng rãi và báo trước một phương pháp báo hiếu đặc biệt của Phật
giáo , khác với nhựng quan niệm báo hiếu thông thường .
Đối với đạo Phật tất cả
chúng sinh đều nằm trong vòng sinh tử luân hồi bất tận . Trong
ITIVUTTAKA nói rằng :" Đống xương tàn của một người xuyên qua nhiều
kiếp sống trong một chu kỳ , có thể vòi vọi như một ngọn núi". Sự sinh
tử tử sinh lặp lại nhiều lần đã để lại trên những chặn đường luân hồi
biết bao là xương thịt của mỗi chúng sinh . Căn cứ vào vòng luân hồn
lẩn quẩn đó , Đức phật dạy rằng :"Ta thấy tất cả chúng sinh không ai
không phải là cha mẹ của nhau , hoặc ở trong quá khứ , hoặc ở hiện tại
, hoặc ở tương lai". Cho nên nhìn thấy một đống xương mà liên tưởng
đến xương người thân của mình là điều không có gì lạ đối với giáo lý
Phật Giáo .
Theo định luật luân hồi
và duyên khởi , thì quan niệm về cha mẹ không còn hạn hẹp trong phạm
vi gia đình bé nhỏ nữa . Với tầm nhìn sâu rộng giữa không gian vô tận
và thời gian vô cùng thì tất cả chúng sinh đã từng làm cha mẹ , bà con
quyến thuộc của nhau . Với sự tồn tại chằng chịt tương hệ duyên sinh ,
Phật Giáo không những đề cao công ơn của cha mẹ mà còn mở rộng phạm vi
nhớ ơn và báo ân quốc gia xã hội và tất cả chúng sinh . Mặt dù khái
niệm về cha mẹ rộng rãi như vậy nhưng trong kinh chỉ đề cập đến cha mẹ
hiện tại của chúng ta, đối tượng mà tất cả những người con hiếu thảo
phải đền đáp thâm ân .
2. Ý nghĩa về công ơn
cha mẹ của kinh :
Công ơn cha mẹ sinh
thành dưỡng dục và giới thiệu con vào đời không thể phủ nhận được .
Cha mẹ luôn luôn thương yêu con cái , hy sinh cuộc đời mình cho con
cái về mặt tinh thần con cái là niềm vui , là niềm hy vọng của cha mẹ
, nên khi nói đến cha mẹ là nói đến công ơn . Ca dao việt nam có nói
:" Công cha như núi thái sơn , nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".
Trong các kinh điển Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông đều đề cao công ơn
cha mẹ . Kinh tăng Chi Phật dạy :"Có hai hạng người , này các Tỳ kheo
, ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha". Hoặc trong Kinh Đại
Tập dạy :"Ở thời không có Phật , thờ kính cha mẹ tức thờ kính Phật".
Cha mẹ ở đây đồng nghĩa với Phật ,điều đó cho thấy Phật giáo đề cao
hiếu đạo tới mức nào .
Chúng ta cũng biết có
một số cha mẹ không ngó ngàng gì tới con cái , thậm chí ghét bỏ con
cái , nhưng đó chỉ là trường hợp cá biệt . Phần lớn cha mẹ luôn thương
yêu con cái , tình thương đó được biểu hiện ra bên ngoài một cách rõ
rệt , đó là sự hy sinh tất cả cho con . Tình thương chân chính nào
cũng được biểu hiện bằng sự hy sinh .Kinh báo ân cha mẹ đề cập đến sự
hy sinh cho con cái và lòng thương của cha mẹ hướng về con cái , vui
cái vui của con , buồn cái buồn của con , Trong 10 điều ân đức của cha
mẹ đã cho thấy rõ tình thương bao la đó . Những lời kinh hết sức cảm
động và chinh phục lòng người như : " Nhổ ngọt không tiếc nuối , nuốt
đắng không phiền hà…Miễn sao con no ấm , đói khát mẹ nào từ" ( điều 4
)
"Mẹ nằm chổ ướt át ,nâng
con chổ ấm khô , đôi vú lo đói khát , hai tay che gió sương , yêu
thương quên ngủ nghỉ , sủng ái hết giá lạnh , chỉ mong con yên ổn , mẹ
hiền không cầu an" ( điều 5 )
"Mẹ hiền ân hơn đất ,
cha nghiêm đức quá trời , che chở ân cao dày , cha mẹ nào tính toán ,
không hiềm không mắt mũi , không ghét què chân tay ,sinh con từ bụng
mẹ , con đổi dạ thương ai" ( điều 6 )
" Con đi đường xa cách ,
lòng mẹ bóng theo hình , ngày đêm không hả dạ , tối sớm nào tạm quên ,
khóc như vượn nhớ con , thương nhớ nát can trường … ( điều 8)
" Mẹ già hơn trăm tuổi ,
còn thương con tám mươi, ân ái có đoạn chăng chỉ hơi thở cuối cùng" (
điềi 10 )
Sự hy sinh cho con cái
mà trong kinh đã đề cập , chỉ là những biểu hiện có giới hạn xuất phát
từ lòng thương yêu vô hạn . Chính vì lòng thương yêu của cha mẹ đối
với con cái là vô hạn , nên chúng ta không thể đáp đền nổi . Cho dù
người con thực hành các công đức lớn lao như trong kinh đã đề cập thì
cũng không trả được ân đức của cha mẹ . Bởi vì người con có làm gì đi
nữa , lòng của người con đối với cha mẹ không thể sánh được lòng của
cha mẹ đối với con cái , đúng như ca dao nước ta có câu :" Mẹ thương
con biển hồ lai láng , con thương mẹ tính tháng tính ngày". Vì vậy,
khi đề cập đến công ơn cha mẹ , các kinh đều cho rằng khó đền đáp nổi
, là dựa vào tâm thức của người con đối với cha mẹ có giới hạn . Điều
đó là một quy luật tâm lý muôn đời .
3. Phương pháp báo hiếu
trong kinh :
Ngoài những phương pháp
báo hiếu cung phụng vật chất và an ủi tinh thần cho cha mẹ mà ai cũng
biết , Kinh Báo A? đề cập đến cách thức báo hiếu đặc biệt của Phật
Giáo là giới thiệu chánh pháp để cha cha mẹ đoạn trừ gốc rễ của đau
khổ , có ba phương pháp được đề cập :
a. Khuyến cáo cha mẹ
thực hành chánh pháp :
Trong Kinh Tăng Chi Đức
Phật dạy :" Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng , dâng cúng
của cải vật chất tiền bạc , thì không bao giờ đủ để đáp đền ân cha mẹ
. Nhưng này các Tỳ kheo , ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam bảo
, thì khuyến khích cho có lòng tin Tam bảo , đối với cha mẹ sống tà
giới , thì khuyến khích vào chánh giới , đối với cha mẹ sinh khởi lòng
tham , thì khuyến khích bố thí ,đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến
khích vào chánh kiến , cho đến như vậy , này các Tỳ kheo ,là làm đủ và
đáp đền đủ cho cha và mẹ".
Theo đạo Phật sự đau khổ
thật sự chính là vô minh , lòng tham sân si đó là tác nhân gây đau khổ
triền miên từ đời này đến đời khác . Chỉ có chánh pháp, chỉ có trí tuệ
mới giúp cho cha mẹloại trừ gốc rễ đau khổ .
Báo hiếu cho cha mẹ bằng
vật chất và tình cảm thông thường chưa phải là biện pháp hoàn hảo ,
bởi lẽ có khi vì lý do vật chất , có thể làm cho cha mẹ của mình tăng
thêm tội lỗi , tăng thêm lòng tham như người xưa thường nói :" Lòng
tham của con người vô đáy". Vật chất hay những cảm giác lạc thọ của
vật chất chỉ tạo thêm sự thèm khát và không bao giờ thoả mãn , sự đau
khổ do đó không bao giờ chấm dứt được .
Người Phật tử thấy được
bề sâu của lý nhân quả nghiệp báo cho nên khuyến khích cha mẹ thực
hành thiện pháp , tạo cơ hôi cho cha mẹ phát khởi thêm thiện tâm để
chuyển báo nghiệp nhân xấu ác , xây dựng cho cha mẹ mình một cuộc sống
bảo đảm hạnh phúc lâu dài trong hiện tại và cả tương lai .
b. Vì cha mẹ thực hành
tịnh giới, bố thí và các công tác lợi ích cho con người và xã hội :
Sự thực hành thiện pháp
của con người như giữ gìn nếp sống đạo đức , mở rộng lòng bố thí ,
tích cực làm các điều thiện giúp ích mọi người . Trước hết đó như là
một phương cách làm gương mẫu để tạo cho cha mẹ được ảnh hưởng thiện
duyên của con làm tăng cường và củng cố thiện tâm của cha mẹ . Mình
khuyến cáo cha mẹ thực hành thiện pháp mà bản thân mình không thực
hành thiện pháp thì sự khuyến cáo của mình sẽ mất tác dụng . Hơn nữa ,
khi thực hành thiện pháp , người con luôn hồi hướng công đức cho cha
mẹ là sử dụng năng lực thiện tâm của mình hướng về cha mẹ , nó có tác
dụng hổ trợ làm cho cha mẹ tăng trưởng thiện tâm .
Mặt khác , mối quan hệ
tương ứng giữa tâm lý củacha mẹ và con cái , rất tế nhị và đặc biệt .
Luồng tâm thức giao cảm giữa cha mẹ và con cái rất dễ dàng ảnh hưởng
qua lại lẫn nhau . Cho nên hành vi đạo đức của con rất dễ tác động đến
lòng cha mẹ , như đã nói , con cái là niềm vui , là sự hy vọng của cha
mẹ , con cái rất được cha mẹ chiều chuộng và làm theo ý thích của con
. Tâm lý tuỳ thuận con cái là mảnh đất tốt để những người con gieo hạt
giống thiện pháp cho cha mẹ bằng chính hành vi ngôn ngữ của mình .
c. Truyền bá tư tưởng
hiếu đạo cho mọi người :
Truyền bá tư tưởng hiếu
đạo cho mọi người là một phương pháp bổ sung cần thiết cho các phương
pháp trên . Tác dụng của nó trước hết là tăng cường sức mạnh hiếu tâm
của chính bản thân mình , được thường xuyên có mặt , tâm lý hiếu cũng
như các tâm lý khác đều phát sinh và tồn tại có điều kiện , vì vậy nếu
chúng ta không tạo điều kiện hâm nóng thường xuyên bằng những điều
kiện thích hợp , lâu ngày tâm lý hiếu bị phai nhạt , có thể nói :" Xa
mặt cách lòng" . Như vậy truyền bá tư tưởng hiếu đạo , có tác dụng
trước hết là củng cố sức mạnh hiếu tâm của người con thường xuyên .
Mặt khác , như đã nói
đạo Phật quan niệm tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình ngoài việc báo
đáp thâm ân cha mẹ của mình hiện nay , người Phật tử còn có nhiệm vụ
báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời của mình bằng phương thức gián tiếp .
Truyền bá tư tưởng hiếu đạo để cho những người con học tập và thực
hành phương pháp báo hiếu đúng chánh pháp , đem đến lợi ích cho tất cả
những người cha , người mẹ khác trong xã hội . Từ đó xây dựng một nền
tảng đạo đức cơ bản cho xã hội con người , tâm hiếu là một tâm lý có
tính văn minh , văn hoá . Truyền bá đạo hiếu sẽ tạo nên một truyền
thống văn hoá tốt đẹp , để xã hội có điều kiện xây dựng hạnh phúc cho
con người .
III. KẾT LUẬN :
Ngày rằm tháng bảy ,
ngày báo hiếu cha mẹ , đã trở thành truyền thống tốt đẹp của Phật
giáo,bắt nguồn từ vị đệ tử ưu tú của Phật,ngài Mục Kiền Liên . Phương
pháp báo hiếu như đã trình bày trong kinh Vu Lan,chủ yếu dựa vào năng
lực tâm linh thanh tịnh của chư tăng trong ngày tự tứ,năng lực ấy tác
động vào tâm thức người cha người mẹ đang đau khổ . Qua ảnh hưởng của
năng lực đạo đức ấy mà cha mẹ hiện tại hay quá khứ được siêu thoát và
hạnh phúc . Điều đó còn mang ý nghĩa rằng sự hiện hửu của đạo đức sẽ
cải tạo được sự lầm lỗi và hoàn cảnh khốn đốn của con người ; tạo cho
con người một niềm tin và sức sống của chính bản thân mình,xây dựng
được cuộc sống an vui .
Để bổ túc cho phương
thức báo hiếu của kinh Vu Lan,kinh Báo ân cha mẹ thêm rằng phương pháp
báo hiếu cha mẹ có hiệu quả và toàn diện nhất là phải khuyến cáo cha
mẹ thực hành chánh pháp,cởi bỏ sự trói buộc của lòng tham,sân,si… vốn
đã gây nhiều đau khổ cho cha mẹ mình . Chỉ có chánh pháp mới đem đến
an lạc và hạnh phúc lâu dài,như vậy mới gọi là đền đáp thâm ân của cha
mẹ .
Qua tư tưởng hiếu đạo
của kinh Vu Lan và kinh Báo ân cha mẹ,chúng ta đã thấy tinh thần hiếu
đạo là một trong những pháp môn tu tập của người Phật tử . Pháp môn ấy
đem lại đạo đức và hạnh phúc cho con người và xã hội .
Người Phật tử ý thức
được tầm ảnh hưởng lớn lao của đạo đức hiếu hạnh ấy,cho nên luôn tìm
cách tạo điều kiện cho tư tưởng và hành vi đạo đức ấy được lan
rộng;tác động ngày càng mạnh vào đời sống xã hội đang suy giảm đạo đức
như ngày nay . Thay đổi cuộc sống khốn khổ do lòng Tham,sân,si tạo
nên,trong đó có cha mẹ mình .
Đó chính là cách báo
hiếu tốt đẹp mà bản ý của kinh đã đề cập.

  [BANTIN]
|