BS
Nguyễn Ư Đức
Xưa kia, con người sống
gần với nông nghiệp chăn nuôi, thực phẩm được sản xuất
tại chỗ để cung ứng nhu cầu. Họ ăn thực phẩm tươi không
pha trộn từ rau trái, động vật. Chỉ khi nào dư thừa thực
phẩm, muốn để dành th́ họ mới nghĩ đến chuyện phơi, ướp.
Mà các chất để ướp cũng giản dị, như với muối, với
đường, một vài loại men hoặc dùng cách làm khô.
Ngày nay, nếp sống đô thị
phát triển, dân chúng tập trung đông hơn ở thành phố,
các trung tâm công kỹ nghệ, thực phẩm được chuyên chở từ
nơi xa xôi nên cần được giữ ǵn sao cho khỏi hư thối.
Rồi để cạnh tranh, nhiều thực phẩm được thêm các chất
làm tăng khả năng dinh dưỡng, hương vị mầu sắc, vẻ nh́n.
Đó là các chất phụ gia, tiếng Anh là “Food Additives”.
Chất phụ gia đă đóng góp
vai tṛ quan trọng để làm thực phẩm phong phú, cất giữ
an toàn lâu ngày, giúp quư bà nội trợ không phải ngày
ngày xách giỏ đi chợ mua lạng thịt, bó rau.
Định nghĩa
Trên khía cạnh pháp lư,
phụ gia thực phẩm là bất cứ chất nào mà khi dùng sẽ đưa
tới hoặc có thể gián tiếp hay trực tiếp trở thành một
thành phần của thực phẩm hoặc thay đổi đặc tính của thực
phẩm. Định nghĩa này bao gồm tất cả các chất được dùng
trong sản xuất, chế biến, đóng gói, chuyên chở hoặc tồn
trữ thực phẩm.
Với quần chúng, đây là
các chất có mùi vị cay, thơm, mặn, ngọt khác nhau...
dùng cho thêm vào thức ăn để tăng cảm vị của sự ăn uống,
để tạo màu sắc đẹp, hấp dẫn, để giữ thực phẩm khỏi hư
hao hoặc để tăng giá trị dinh dưỡng.
Một số trong những chất
này được lấy ra từ thực phẩm, một số khác được tổng hợp
trong pḥng thí nghiệm.
Thực ra, việc thêm gia vị
đă được tổ tiên loài người dùng từ thuở xa xưa. Họ đă
dùng muối, đường để cất giữ thực phẩm, thêm vài ngọn rau
thơm, một chút hột tiêu, chanh ớt để làm món ăn thích
thú hơn/tăng hương vị món ăn.
Có nhiều loại gia phụ
hiện đang được dùng rộng răi.
Tại Hoa kỳ, có khoảng gần
2500 chất gia phụ thực phẩm được cơ quan Thực Dược Phẩm
chấp nhận sử dụng rộng răi.
Việt Nam cũng có một “Danh
mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm”
do Bộ Y Tế ban hành, trong đó có ghi rơ tên các chất gia
phụ được phép dùng, với giới hạn tối đa cho phép trong
từng loại thực phẩm.
Trong các danh sách trên,
không có chất Etophen mà vài bà con bên nhà bơm cho mít
mau chín; chất Aldicarb Sulfoxide trong gừng tươi xuất
cảng từ Trung Hoa. Đây là các chất bảo vệ thực vật, rất
độc đối với cơ thể con người.
Trước khi được chấp nhận
đưa ra sử dụng, nhà sản xuất phải thử nghiệm an toàn
chất phụ gia ở ba mức độ:
1)
Thử xem có hay không tác dụng độc hại tức
th́, bằng cách đưa chất đó vào cơ thể một con vật thí
nghiệm;
2) Thử trên hai nhóm súc
vật với số lượng nhiều ít khác nhau trong ṿng 90 ngày
để quan sát độc tính;
3) Thử nghiệm độc tính
khi cho súc vật dùng liên tục trong 2 năm hoặc lâu hơn.
Nếu tất cả thử nghiệm đều
không có tác dụng xấu th́ chất ấy mới được đưa ra sử
dụng rộng răi. Ngoài ra, với những chất bị nghi ngờ là
có khả năng gây ung thư th́ tuyệt đối không được sử
dụng.
Các chất phụ gia mới được
sử dụng lần đầu đều phải được sự kiểm nghiệm và cho phép
của cơ quan y tế. Chất đă dùng từ lâu cũng thường xuyên
được theo dơi xem có an toàn không.
Việc cho thêm các chất
gia phụ vào thực phẩm đă là đề tài của nhiều cuộc thảo
luận. Nhiều người e ngại về sự an toàn của chất phụ gia.
Cũng có người khắt khe hơn, coi cho thêm một chất nào đó
vào món ăn đều là không tự nhiên, không tốt.
Ngoài ra, người tiêu dùng
đôi khi cũng phải ngỡ ngàng với những cái tên dài ḍng,
xa lạ, chẳng hạn như sodium stearyl fumarate dùng trong
các món ăn nướng. Họ quen thuộc hơn với việc cho thêm
muối, đường, sinh tố, khoáng chất vào thực phẩm.
Các nhà sản xuất đă cố
gắng quảng cáo về sự an toàn của chất gia phụ vào thực
phẩm và lư do tại sao phải cho thêm. Cũng nên nhớ là
thực phẩm chế biến, để dành thường có nhiều chất cho
thêm hơn là thực phẩm tươi.
Một số câu hỏi thường
được nêu ra như chất phụ gia có an toàn không, chất
thiên nhiên có tốt hơn chất tổng hợp hoặc chất phụ gia
có làm trẻ em năng động, phá phách…
Trên thực tế th́ chưa có
bằng chứng nào về rủi ro sức khỏe do các phụ gia gây ra,
nếu được sử dụng giới hạn, vừa phải theo đúng hướng
dẫn của cơ quan bảo vệ dinh dưỡng, sức khỏe. Ngược
lại, theo một số nhà dinh dưỡng, nhờ có các chất này mà
thực phẩm trở nên đầy đủ, an toàn và ngon hơn.
Giống như mọi vật thể
trên trái đất, thực phẩm cũng là tổng hợp các hóa chất
như carbon, hydrogen, nitơ, oxy… nhưng do thiên nhiên
làm ra. Sinh tồ A trong củ cà rốt cũng giống như
sinh tố A chế biến trong pḥng thí nghiệm mà ta mua
ngoài chợ để dùng thêm.
Mục đích
Có nhiều lư do để dùng
chất phụ gia trong thực phẩm
1-Làm tăng giá trị dinh
dưỡng
Nhiều thực phẩm được bổ
sung vitamin, khoáng chất hoặc chất xơ không có hoặc đă
bị tiêu hủy trong khi biến chế, với mục đích là để nâng
cao giá trị dinh dưỡng của món ăn.
Vào đầu thế kỷ trước, đă
có nhiều bệnh gây ra chỉ v́ thiếu chất dinh dưỡng như
bệnh bướu tuyến giáp v́ thiếu iod cần thiết cho sự tạo
ra hormon của tuyến này; bệnh c̣i xương ở trẻ em v́
thiếu vitamin D, không hấp thụ được calci nên xương mềm
và biến dạng; bệnh scurvy gây sưng, chẩy máu nướu răng,
lâu lành vết thương và có thể dẫn đến tử vong nếu kéo
dài, chỉ là do thiếu sinh tố C khi không dùng rau trái
tươi. Ngày nay, nhờ các chất dinh dưỡng cần thiết này
được bổ sung vào thực phẩm mà các bệnh vừa kể đă hiếm
khi xẩy ra.
Tăng thêm chất dinh dưỡng
bằng cách này đă giúp tránh suy dinh dưỡng ở nhiều sắc
dân chỉ quen dùng thực phẩm ít chất dinh dưỡng. Cũng có
nhiều trường hợp thiếu dinh dưỡng v́ lơ là, thất thường
với việc ăn uống, thích ăn vặt những món ăn tạp nhạp, ít
chất bổ; hoặc v́ nghèo túng thiếu ăn; hoặc v́ không ư
thức được giá trị của dinh dưỡng; hoặc v́ muốn giảm béo
ph́, ăn kiêng. Cho nên việc bổ sung chất dinh dưỡng vào
thực phẩm là cần thiết.
Bổ sung dinh dưỡng có thể
là để “trả lại phần dinh dưỡng đă mất đi” do việc
chế biến thực phẩm, hoặc “cho thêm những chất vốn
không có” trong loại thực phẩm đó. Trước đây, hai
việc này được phân biệt rơ rệt, nhưng hiện nay th́ ít ai
lưu ư.
a-Trả lại phần mất
(enrichment): chẳng hạn như bánh ḿ, bột, gạo được cho
thêm sinh tố B v́ khi xay đă làm mất hết phần vỏ cám có
nhiều loại sinh tố này, hoặc được cho thêm khoáng sắt.
Trong trường hợp như vậy, số lượng cho thêm thường vừa
phải, bằng với mức độ nguyên thủy của món ăn.
b-Cho thêm chất không có
(fortification)
như là cho thêm iod vào muối được áp dụng từ năm
1920, thêm sinh tố A, sinh tố D vào sữa, thêm calci vào
nước cam, thêm folic acid vào vài loại hạt ngũ cốc khô
(cereals).
Việc cho thêm
sinh tố, khoáng chất này thực ra cũng không cần thiết
nếu thực phẩm ta ăn hàng ngày đă cân bằng đầy đủ các
chất dinh dưỡng.
Muốn biết về thành phần
các chất phụ gia trong thực phẩm, chỉ cần đọc kỹ nhăn
hiệu trên bao b́ (Food label), v́ theo quy định th́ các
nhà sản xuất phải ghi rơ thành phần các chất có trong
thực phẩm.
2- Giữ cho thực phẩm an
toàn, tươi lâu hơn
Thực phẩm thường có một
số vi khuẩn, nấm độc, mốc, men làm mau hư. Chất phụ gia
có thể giúp bảo quản, làm chậm hư thối, giữ được phẩm
chất và vẻ hấp dẫn của thực phẩm.
Trước đây, để cất giữ
thực phẩm, những chất như formaldehyde được dùng để khử
trùng sữa, sulfuric acid được cho vào thịt, borax được
cho bơ. Formaldehyde có tính chất khử vi khuẩn, giúp
thực phẩm (cũng như xác người chết) khỏi bị vi sinh vật
phá hủy.
Hiện nay các chất sau đây đang
được dùng:
a -Tocopherol (sinh tố E)
giúp giữ tinh dầu thảo mộc và dầu xà lách khỏi trở mùi
ôi và bảo vệ các sinh tố ḥa tan trong mỡ như sinh tố A,
D, E và K, các acid béo.
b-Sinh tố C hoặc citric
acid (có trong trái chanh) giúp tránh sự oxy hóa thực
phẩm hoặc để bảo quản trái cây đóng hộp. Một thí dụ dễ
thấy là khi gọt vỏ, cắt trái táo để ngoài không khí, táo
sẽ đổi mầu nâu v́ bị oxy hóa. Nhưng nếu vẩy vào vài giọt
nước chanh pha loăng th́ táo vẫn giữ được mầu tươi ngon.
c--Sulfit để
duy tŕ mùi vị trái cây khô, ngăn chặn sự tăng trưởng
của vi khuẩn trong rượu vang, trong nhiều món ăn bỏ ḷ,
bánh kẹo.
d-Nitrat và nitrit có tự
nhiên trong thực phẩm và nước. Nitrat có nhiều trong củ
cải đường (beets), spinach, củ cải (radishes), rau riếp
(lettuce). Trong cơ thể, nitrat chuyển hóa thành nitrit.
Một điều ít người để ư là trong nước miếng có nhiều
nitrit.
Nitrit được phép dùng
trong việc bảo quản thịt v́ tác dụng diệt khuẩn của
chúng. Một trong những vi khuẩn nguy hại gây hư hao thịt
và gây ngộ độc thức phẩm là Clostridium botulinum, rất
phổ biến trước đây. Nitrit c̣n làm tăng mầu sắc, hương
vị cho thực phẩm, nhất là mầu hồng đặc biệt của hot dog,
thịt jambon.
Có nghiên cứu cho hay các
chất này có thể gây ung thư ở súc vật trong pḥng thí
nghiệm nhưng chưa có bằng chứng gây ung thư ở
loài người. Theo FDA, khi được dùng với một số lượng
nhỏ, chất này không gây rủi ro ǵ.
e- Calci propionat được
thêm vào để làm cho bánh ḿ, bánh nướng khỏi mốc meo.
Chất này có tự nhiên trong pho-mát Thụy Sĩ.
g-Chất chống oxy hóa giữ
cho dầu mỡ không bị hư và duy tŕ mầu cho thịt đóng hộp
và thịt hun khói.
h-Acid acetic như giấm để
muối dưa gang, làm sữa chua, pha chế dầu giấm và trong
các sản phẩm từ cà chua.
Các thực phẩm sau đây đều có chất phụ gia
để giữ được lâu: đồ uống, thịt ướp muối, hun khói sấy
khô, nước trái cây, rượu vang, margarin, trái
cây hộp, bánh ḿ...
Thực phẩm dùng chất chống
oxy hóa để tránh trở mùi, mất mầu như hạt ngũ cốc khô,
dầu, mỡ, dầu giấm xà lách...
Nhờ các chất bảo quản mà
thực phẩm không bị hư hỏng, phí bỏ và có thể giữ được
lâu, gửi đi xa.
3- Làm thay đổi vẻ ngoài
của thực phẩm
Nói tới vẻ ngoài của thực
phẩm là nói chung về mặt h́nh thể, cấu trúc vật chất, độ
cứng hay độ mịn nh́n thấy hoặc cảm thấy khi sờ vào,
giúp cho thực phẩm ngon hơn, hấp dẫn hơn. Có nhiều chất
gia phụ cho các mục đích này.
a-Chất làm món ăn có độ
ẩm, không khô cứng, hơi phồng lên và gia vị không dính
với nhau như chất nhũ hóa (emulsifiers) lecithin ở sữa,
ḷng đỏ trứng, đậu nành; glycerin giữ độ ẩm và các gia
vị trong dầu giấm, bơ đậu phọng, nước xốt mayonaise
trong thực phẩm không tách rời khỏi dầu. Glycerin cũng
được cho thêm vào dừa cào xé nhỏ để dừa không khô.
b-Chất chống khô cứng,
đóng cục với nhau như calcium silicate, silicon dioxide.
Các chất này ngăn bột, đường, muối hút nước rồi dính lại
với nhau.
c-Chất làm bột nở ra
(leavening agents), được dùng khi làm bánh nướng, bánh
ḿ, bánh quế để làm cho bánh mềm xốp, nhẹ hơn. Đó là các
chất như muối bicarbonat (baking sodium), natri phosphat
hoặc vài loại men.
d-Chất làm cho món ăn đồng đều, nhuyễn
với
nhau. Thí dụ như làm kem th́ các hợp chất không đóng đá
mà quyện vào với nhau. Chất gelatin lấy từ xương động
vật hoặc pectin lấy từ thảo mộc đều có công dụng này.
e-Chất thay đổi độ acid-
kiềm của thực phẩm để thay đổi cấu trúc, hương vị cũng
như tăng sự an toàn của món ăn. Đó là các chất
potassium, acid tartrate, lactic acid, citric acid,
sodium bicarbonate, phosphoric acid.
4-Làm
tăng mùi vị và vẻ ngoài của thực phẩm.
Một số chất màu có công
dụng:
-Làm cho thực phẩm có vẻ
ngoài hấp dẫn hơn hoặc phục hồi mầu sắc nguyên thủy của
thực phẩm;
-Làm cho món ăn khác nhau
có cùng mầu;
-Duy tŕ hương vị và sinh
tố dễ bị phân hủy v́ ánh sáng;
-Tạo cho thực phẩm vẻ đặc
biệt, dễ nhận diện.
Việc cho thêm chất màu
cũng tạo ra nhiều ư kiến khác nhau.
Các nhà dinh dưỡng bảo
thủ th́ cho rằng việc thêm chất màu vào thức ăn không
làm tăng thêm giá trị dinh dưỡng mà có thể có những tác
dụng không tốt.
Nhưng tâm lư chung khi
nh́n thấy một món ăn có mầu sắc đẹp, bắt mắt th́ nhiều
người cũng thích ăn hơn, nhất là với quư vị cao tuổi.
Chắc là khi lựa một quả cam, quả táo nhiều người cũng
lựa trái cam vàng óng ánh, trái táo có mầu tươi hơn là
những trái lợt lạt. Và những trái vàng óng ánh đó thường
là nhờ được phun lên một lớp chất mầu.
Theo nhiều chuyên gia,
hầu hết chất mầu đều khá an toàn. Chỉ có một vài loại
khi thêm vào thực phẩm, đồ uống, dược phẩm có thể gây ra
phản ứng nhẹ cho người dùng như nổi ngứa, chẩy nước
mũi... Khi món ăn chứa chất mầu này th́ nhà sản xuất
phải ghi rơ trên nhăn hiệu.
Chất mầu có thể là hóa
chất tổng hợp hoặc chất mầu thiên nhiên lấy từ thực vật.
Hiện nay có 32 chất mầu được sử dụng, trong đó có 7 chất
là tổng hợp.
Chất mầu thường dùng là
nước củ cải đường, cà rốt, nghệ, bột đỏ làm từ loại ớt
prapika.
Các thực phẩm thường được
pha thêm mầu là kem, thạch, margarin, pho mát, bánh,
kẹo... Bột carotene làm pho mát và margarin có mầu vàng
5-Chất làm tăng mùi vị
của thực phẩm
Chất có mùi vị nho, dâu
tây, va-ni được dùng trong kỹ nghệ nước giải khát, kẹo
hoặc pha với dầu giấm, nước xốt đều được lấy từ thảo mộc
hoặc do tổng hợp.
Để có các chất này, các
nhà khoa học phải nghiên cứu kỹ mùi vị tự nhiên của từng
thực phẩm rồi dựa theo đó mà chế tạo chất tăng mùi. Gia
vị nhân tạo thường thường có cùng cấu trúc hóa học nhưng
thiếu một vài đặc thù của chất tự nhiên.
6- Chất làm tăng hương vị
sẵn có của thực phẩm
Có loại chất gia vị giúp
làm nổi bật hương vị sẵn có trong thực phẩm. Bột ngọt
(hay ḿ chính), với tên khoa học là Monosodium
glutamate (MSG) được dùng thường xuyên trong việc nấu
ăn, có thể xem là một ví dụ.
Đây là chất đạm acid amin
lấy từ thảo mộc gọi là glutamic acid. Chất này kết hợp
hài ḥa với các vị mặn, chua, ngọt để làm nổi lên cái vị
ngon của món ăn đồng thời cũng góp thêm vị riêng của nó.
Đó là vị “unami”, một phối hợp hương vị của pho mát,
thịt và cà chua.
Bột ngọt hiện vẫn được
coi như an toàn, nếu dùng giới hạn vừa phải, mặc dù đôi
khi cũng có người phản ứng nhẹ với nó. Tuy nhiên, hiện
nay đang có nhiều nghiên cứu vế tác dụng của bột ngọt
đối với trẻ em, bởi v́ đă có những quan sát trong pḥng
thí nghiệm cho thấy chất này gây tổn thương cho tế bào
năo ở thỏ và chuột. Chưa có bằng chứng nào về những tác
hại tương tự ở con người, nhưng có nhiều công ty sản
xuất thực phẩm trẻ em đă tự nguyện ngưng sử dụng chất
này.
Bột ngọt thường được cho
thêm vào rau đóng hộp, nước xốt thịt, và thường được
dùng để chế biến thịt, nấu nướng.
7-Chất làm ngọt
Trong nhóm này có các
loại đường như đường tinh chế (sucrose), đường tự nhiên
trong trái cây fructose, dextrose.
Đường cho vị ngọt, làm
thực phẩm có mầu nâu cháy và cũng giữ thực phẩm khỏi hư.
Người La Mă cổ xưa kia đă biết giữ trái cây khỏi hư bằng
mật ong.
Món ăn nướng, đồ hộp,
trái cây hộp hoặc đông lạnh, nước trái cây uống, mứt,
thạch, nước ngọt đều được cho thêm đường.
Thêm vào đó, cón những
chất điều chỉnh độ acid, chất chống tạo bọt, chất chống
đóng vón, chất làm đông đặc, làm dày, làm chắc, các loại
men…
|
Chất phụ gia thường
dùng |
|
Chất phụ gia |
Dùng trong thực
phâm |
|
Duy tŕ cấu trúc
thực phẩm |
|
Alginates,
Lecithin, Mono-& Diglycerides, Methyl Cellulose,
Carrageenan, Glyceride, Pectin, Guar Gum, Sodium
Aluminosilicate |
Bánh ngọt, dầu trộn
sà lát, kem, pho mát, muối ăn |
|
Bổ sung dinh dưỡng |
|
Vitamins A and D,
Thiamine, Niacin, Riboflavin, Pyridoxine, Folic
Acid, Ascorbic Acid, Calcium Carbonate, Zinc
Oxide, Iron |
Bột gạo, bánh bích
quy, ngũ cốc khô ăn sáng,, Margarine, sữa, muối
trộn i-ốt, Gelatin |
|
Chất tạo vị ngon
cho món ăn |
|
Propionic Acid ,
Ascorbic Acid, Butylated Hydroxy anisole (BHA),
Butylated Hydroxytoluene (BHT), Benzoates, Sodium
Nitrite, Citric Acid |
Bánh ḿ, pho mát,
trái cây đông lạnh và khô, Margarine, thịt |
|
Chất duy tŕ độ
acit/kiềm |
|
Yeast, Sodium
Bicarbonate, Citric Acid, Fumaric Acid, Phosphoric
Acid, Lactic Acid, Tartrates |
Bánh cúc ki, bích
quy, bơ, nước có hơi, thức ăn trẻ em đóng hộp |
|
Tăng hương vị và
mầu sắc |
|
Cloves, Ginger,
Fructose, Aspartame, Saccharin, FD&C Red No.40,
Monosodium Glutamate, Caramel, Annatto, Limonene,
Turmeric |
Nước có hơi, sữa
chua, thịt ham, pho mát, súp, bánh kẹo |
|
|
Kết luận
Theo bác sĩ Virgil
Wodicka của Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ th́,
gia vị thực phẩm ít gây ra rủi ro hơn là vi khuẩn, nhiễm
do môi trường, do chất độc thiên nhiên hoặc do các chất
tạo ra trong khi sửa soạn, nấu nướng. Chẳng hạn như thịt
nướng cháy trên than sinh ra một hóa chất có thể gây ung
thư .
Tuy nhiên, hiện nay đang
có nhiều nghiên cứu để theo dơi các tác dụng tích lũy
lâu năm cũng như hậu quả của việc sử dụng số lượng quá
lớn các chất phụ gia. Các nghiên cứu này được thực hiện
trên súc vật trong pḥng thí nghiệm, cũng như qua thu
thập các dữ kiện dịch tể.
Trong khi chờ đợi, chúng
ta vẫn có thể yên tâm tận hưởng thực phẩm có các chất
phụ gia mà không phải lo ngại nhiều. Điều quan hệ là cần
theo đúng nguyên tắc điều độ và vừa phải, cân bằng tốt
các chất dinh dưỡng và dùng các chất phụ gia ở mức độ đă
được cơ quan hữu trách hướng dẫn.
Bác sĩ Nguyễn Ư Đức
Texas-Hoa Kỳ.