|
Ư nghĩa công bằng xă hội và giáo lư Phật giáo
Thượng toạ Chân Quang
Công bằng xă hội
Có rất nhiều lư thuyết khác nhau về công bằng xă hội. Thông thường, công bằng được hiểu là ai có công nhiều th́ được thụ hưởng nhiều, ai có công ít th́ thụ hưởng ít, người giỏi và siêng th́ nhận được
sự đăi ngộ của xă hội cao hơn người dở và lười biếng.
Ư nghĩa công bằng này đă tạo nên nhiều biến đổi của xă hội. Nó buộc con người phải nỗ lực rèn luyện bản thân và siêng năng đóng góp cho sự thịnh vượng chung của xă hội nếu muốn nhận được sự đăi
ngộ xứng đáng. Tuy nhiên, sự công bằng do con người tạo ra không hoàn hảo v́ nhiều lư do.
Lư do dễ thấy là những người đóng vai tṛ đánh giá công lao, tài năng của mọi người chưa phải là người sáng suốt, công tâm tuyệt đối. Nhiều khi có những nhân tài bị bỏ quên, người nhiệt t́nh bị ganh ghét. Nhiều người
làm nhiệm vụ đánh giá công lao, tài năng của mọi người rất hay thiên vị vơí những người thân quen. Chính v́ thế, xă hội rất khó đạt được sự công bằng và chúng ta cứ phải hoài kêu gọi sự công bằng cho xă hội.
Diễn đàn Vesak 2008 tại Việt Nam lần này, ư nghĩa công bằng xă hội cũng là chủ đề được các bậc thức giả quan tâm.
Như đă nêu, xă hội chưa công bằng v́ người có nhiệm vụ đánh giá công lao, tài năng, sự cống hiến của mọi người chưa hoàn hảo, chính xác hoặc đánh giá chính xác nhưng cố t́nh thiên vị phe phái. Để giải quyết sự công
bằng cho xă hội theo phương diện này, trước hết, cần đ̣i hỏi những người có nhiệm vụ cầm cân nảy mực của xă hội phải giỏi và công tâm. Việc chọn ra những người giỏi và công tâm lại kéo theo vô số sự bàn
luận sôi nổi, phức tạp khác mà phạm vi bài viết không thể tŕnh bày hết được. Nhưng dù sao cũng vẫn phải yêu cầu có phương pháp hiệu quả khi t́m chọn những người cầm cân nảy mực cho xă hội, v́ họ chính là những
người làm cho xă hội có công bằng hay không.
Tính tương đối của sự công bằng xă hội
Nói cho cùng, sự công bằng của xă hội không phải là mục tiêu của đạo Phật và nhân loại. V́ mục tiêu thật sự của đạo Phật cũng như của toàn nhân loại chính là mưu t́m sự thoát khổ, mưu t́m hạnh phúc. Ư nghĩa và giá
trị của hạnh phúc c̣n quan trọng hơn rất nhiều so với công bằng.
Trong xă hội, số người có ưu thế, tài năng, cơ hội th́ luôn luôn là số ít. Chính v́ có ưu thế, tài năng, cơ hội nên họ nhận được nhiều quyền lợi của xă hội. Họ giàu lên nhanh chóng và trở thành tầng lớp thượng
lưu, bỏ xa rất nhiều người thuộc tầng lớp nghèo khổ phía dưới. Tài sản của quốc gia tập trung về cho một tỉ lệ người rất ít. Như thống kê của Trung Quốc, 65% tài sản quốc gia thuộc về chỉ có 0,60% người
giàu có. Làm giàu chính đáng là một trong những quyền cơ bản của con người nhưng nh́n vào tỉ lệ này th́ sẽ thấy nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến sự phân chia của xă hội.
Ai cũng có ư thức không tốt về sự bất công, bất b́nh đẳng của xă hội nhưng sẽ thật là sai lầm nếu muốn tạo ra một xă hội bằng phẳng, ai cũng như ai, ai cũng sở hữu một số tài sản giống nhau dù tài năng,
sự cống hiến khác nhau. Quy chế san phẳng như thế chắc chắn sẽ làm tê liệt ḷng nhiệt t́nh đóng góp cho sự phát triển xă hội của mọi người. Không ai nhiệt t́nh đóng góp hoặc chỉ làm việc cầm chừng. Một xă hội như
thế th́ trước sau cũng rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
Rồi nếu buông cho sự công bằng tự điều chỉnh, ai giỏi và siêng sẽ hưởng được nhiều th́ không bao lâu, xă hội chẳng những hết phẳng mà lại dốc thẳng đứng, kẻ trên đỉnh cao, người dưới vực
thẳm.
Rơ ràng, không thể can thiệp san bằng xă hội bằng cách cứng nhắc như trên, cũng không thể để cho sự công bằng tự do điều chỉnh khiến xă hội nghiêng lệch quá đáng. Cần phải có cái khác hơn, nhân bản hơn, bao gồm cả công
bằng và nhân ái. Xă hội không phải chỉ toàn người giỏi và có cơ hội như nhau, c̣n rất nhiều người chưa có nhiều khả năng và ít cơ hội. Nếu không có chính sách nâng đỡ th́ những người này sẽ rơi dần về đáy
xă hội. Xă hội hiện hữu nhiều những người nghèo khổ là một xă hội kém văn minh, nhân ái, tính người và thường được gọi là xă hội bất công. Dùng chữ "bất công" là thiếu chính xác v́ thật ra đó là xă hội
rất công bằng nên đă tạo ra sự nghiêng lệch. Đúng ra, phải gọi xă hội nghiêng lệch như thế là xă hội không bằng phẳng. Không ngờ, Công và Bằng lại mâu thuẫn nhau.
Những người chủ trương tự do thi thố tài năng và hưởng thụ thành quả, chấp nhận xă hội nghiêng lệch đi về một chủ nghĩa. C̣n những người chủ trương kiểm soát sự hưởng thụ của mọi người
cho thật giống nhau, bằng nhau bất kể sự đóng góp khác nhau đi về xu hướng khác.
Sau nhiều thời gian thực hành các đường lối đó, một số quốc gia đă bắt đầu đi t́m sự điều chỉnh, dung ḥa để có thể thực hiện được mục tiêu mưu t́m hạnh phúc cho con người v́ đó mới chính là
mục tiêu cao quư nhất! Bất công là đau khổ nhưng bất bằng cũng chẳng hay ho ǵ.
Bây giờ, nếu đưa ra quan điểm là không b́nh quân hoá xă hội, cũng không cho chênh lệch quá đáng, chấp nhận một xă hội "nhấp nhô" vừa phải th́ lại tiếp tục phát sinh các bất hợp lư khác. Nhấp nhô đến mức độ nào
th́ chấp nhận được? Dùng biện pháp nào để cắt ngang mức độ nhấp nhô đó cho đúng quy định?
Quan điểm của đạo Phật
Mục đích của đạo Phật là giải thoát thực trạng khổ đau con người để xây dựng cuộc sống an vui hạnh phúc. Để có được hạnh phúc, mỗi người phải tu tập theo các nguyên lư đạo đức mang tính
chuẩn mực trong giáo lư đạo Phật, đặc biệt là giáo lư bát chánh đạo. Phạm vi bài này không đủ sức tŕnh bày hết ư nghĩa của bát chánh đạo vốn vô cùng uyên đáo nên chỉ nêu vài quan điểm của bát chánh đạo có liên quan
đến ư nghĩa công bằng xă hội mà thôi.
Theo đạo Phật, luật nhân quả chi phối chặt chẽ cuộc sống của con người. Ai đă gây nên những ǵ cho chúng sinh th́ bây giờ trở thành chất liệu cho cuộc sống của chính họ. Nếu mang đến cho chúng sinh niềm vui, đạo lư,
kiến thức, sự b́nh an… th́ cuộc sống của họ sẽ có sức khỏe, trí tuệ, hạnh phúc, thế lực… Nếu mang đến cho chúng sinh khổ đau, sự sai lầm th́ cuộc đời họ phải chịu bất hạnh, ưu phiền, hèn kém… Chính quy
luật nhân quả này đă chi phối rất nhiều sự phân định hoàn cảnh của con người và liên quan rất nhiều đến sự công bằng trong xă hội.
Một người làm được nhiều việc tốt cho đời, lẽ ra phải nhận được sự đăi ngộ tương xứng nhưng các yếu tố không tốt tích tập từ quá khứ đă ngăn cản sự đăi ngộ đó đến với
họ. Họ vẫn phải sống trong những hoàn cảnh không tốt, thậm chí c̣n bị bần hàn khổ sở hay tổn thương danh dự nặng nề. Hoặc một kẻ chẳng tài cán, cống hiến ǵ lắm nhưng chẳng hiểu sao cứ làm ăn phát đạt,
tiền bạc, danh vọng cứ vào như nước, lại c̣n được nhiều quyền lợi ưu đăi của xă hội… Nh́n vào những trường hợp đó, thấy xă hội giống một trường bất công. Nhưng khi xuyên qua quá tŕnh sống và những
hành động của người đó trong quá khứ th́ sẽ thấy được đó là một ẩn số quan trọng, nhưng quyết định sự công bằng hay lợi ích xă hội mà họ đáng được hưởng.
Nhưng nghiệp cũng chẳng phải là định mệnh để nhắm mắt buông trôi. Nếu ư thức được nghiệp do ḿnh tạo ra th́ cũng có thể chuyển hoá được và mới không rơi vào những phán đoán sai lầm về học thuyết
nghiệp của Phật giáo. Vui ḷng chấp nhận trong sự hiểu biết chính xác về nó không phải sự thụ động bi quan, mà là một thái độ tích cực. Bởi chấp nhận nó chính là không chối bỏ trách nhiệm của những hành vi không tốt ở
quá khứ chứ không phải chối bỏ hậu quả của hiện tại. Người biết chấp nhận là người có ư chí nh́n nhận sai lầm để tiếp tục sửa đổi. Nếu không chấp nhận th́ khó mà chuyển hoá được những
mặt xấu, tiêu cực. Thái độ tích cực như thế sẽ làm cho con người có sức mạnh để vui sống và vươn lên. Không những thế, khi ư thức được tác dụng và đặc tính của nghiệp th́ sự giúp đỡ những người
yếu kém, sa sút là một trong các hệ quả quan trọng mà Phật giáo muốn nói đến. Nền tảng của công bằng xă hội trong giáo lư Phật Đà nằm ở chỗ này.
Tuy nhiên, giáo lư nghiệp đề cập đến rất nhiều tầng bậc khác nhau. Sự đa chiều trong các biểu hiện của nó làm cho người ta có cảm tưởng thật quá khó để có thể đi theo con đường chuyển hoá các nghiệp nhân như
giáo lư đạo Phật đă nói. Bởi kết quả hiện nay là sự đúc kết của vô số phương diện nghiệp khác nhau. Mỗi một phương diện lại được hiểu ở rất nhiều góc độ khác nhau nữa và tuỳ thuộc vào các
các chiều kích của thời gian đă và đang diễn tiến. Chính v́ bất lực trước sự phân tích các yếu tố liên quan nên sự buông xuôi là tất yếu cho rất nhiều người trong xă hội, để rồi họ quay trở lại đổ hết trách
nhiệm lên vai của xă hội và không ngừng than thở về sự bất công đó. Họ không hiểu, đó chính là kết quả của hành động, ư nghĩ, lời nói của bản thân.
Thế th́ phải làm ǵ để giải quyết các vấn đề liên quan đến b́nh đẳng xă hội? Trước hết, phải hiểu được nguyên lư nghiệp chính là nền tảng của mọi hiện tượng phân cấp trong xă hội. Dựa vào nguyên
lư nghiệp sẽ không đổ thừa hoàn cảnh hay mặc nhiên chịu đựng. V́ sự phân chia xă hội không chỉ dựa trên năng lực nghiệp của cá nhân, mà c̣n dựa vào các biểu hiện của cộng nghiệp, tức là nghiệp của một cộng đồng
xă hội.
Mặt khác, nguyên lư nghiệp không phải là một sự phán xét mà là một diễn tiến mà trong đó kêu gọi sự chia sẻ và cảm thông. Sự không đồng đều với nhau trong phân chia xă hội là một thực trạng khi nghiệp lực của mỗi cá nhân
đều khác nhau. Nhưng sự phân chia ấy sẽ ngày càng thêm trầm trọng nếu không có sự ư thức về mỗi địa vị, quyền lợi của mỗi người đang có. Ở đây, giáo lư nghiệp của Phật giáo nhấn mạnh đến sự
nhận thức để hiểu và phấn đấu chứ không phải sự than văn hay kêu gọi cải đổi xă hội. Chính v́ điểm này mà từ xưa đến nay, Phật giáo không hề được gọi là một học thuyết chính trị hay xă hội nào
cả. V́ ngay từ đầu, Phật giáo đă xác định rằng, nguyên nhân của khổ đau nhân sinh không phải đặt nặng trách nhiệm lên xă hội mà là ở trách nhiệm cá nhân. Chính v́ thế, giáo lư nghiệp luôn được Phật giáo quan tâm khai triển
như là một nền tảng để xây dựng sự công bằng cho xă hội mà không phá vỡ tính đặc thù của sự công bằng ấy.
Chúng ta nh́n vào những yếu tố trên đây và xác định được thái độ của ḿnh trong việc kiến tạo một sự công bằng cho xă hội và không hy vọng vào sự công bằng tuyệt đối xảy ra trước mắt. Chúng ta sẽ cố
gắng hết sức nhưng không cầu toàn. Ai cũng phải cố gắng tối đa để cống hiến nhiều cho xă hội và đừng mong cầu phải được đăi ngộ công bằng, ṣng phẳng v́ nhiều khi, nghiệp quá khứ chưa cho phép hưởng
được quả báo lành. Thật ra, một đệ tử Phật chân chính không bao giờ mong muốn làm phúc để được hưởng quả, làm chỉ v́ hạnh phúc thương yêu chúng sinh!
Bên cạnh sự ứng dụng giáo lư nghiệp, việc ngăn chặn sự nghiêng lệch xă hội cũng rất có ư nghĩa. Không nên để cho tài sản quá lớn thuộc về sở hữu của số ít người. Chúng ta khuyến khích người giàu có tích cực
chia sẻ với người nghèo, t́m cách nâng đỡ người kém ưu thế hơn để họ tự vươn lên. Bảng xếp hạng những người giàu có nêu lên nhiều vấn đề cho xă hội hơn là sự hănh diện. Xă hội chỉ nên tự hào
v́ ít có người nghèo nhất. Thay v́ tôn vinh những người giàu nhất, nên chú ư đến số lượng những người nghèo c̣n sót lại dưới tận cùng xă hội để thấy cộng đồng phải có trách nhiệm nâng đỡ những người
đó lên.
Cuối cùng, việc giáo dục đạo đức nhân quả cho cộng đồng xă hội để mọi người biết thương yêu giúp đỡ nhau, tự nguyện sẻ chia chính là biện pháp căn bản nhất để xây dựng xă hội phồn vinh, văn
minh, công bằng, ít nghiêng lệch hơn.
Thượng toạ Chân Quang |