
Quặng
Bauxite hay Quặng
Phóng Xạ?
TS Mai Thanh
Truyết
13 tháng 08
năm 2009
Trong hiện
tại,
chúng ta có thể
nói một
cách chính xác và không sợ
phản
biện
là những
người
lính Tàu dưới
dạng
công nhân đang hiện
diện
đầy
rẫy
trên quê hương
Việt
Nam của
chúng ta từ
ải
Nam Quan đến
mũi Cà Mau, giống
như
mọi
quốc
gia trên thế
giới
như
Tây Tạng,
Tân Cương,
Phi Châu…những
nơi
có dấu
chân TC khai thác các công tŕnh quặng
mỏ
hay những
công ty sản
xuất
khác tại
những
nơi
nầy.
Tại Việt
Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một
công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng
Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn
toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh căi,
họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có ǵ nhục nhă cho bằng hiện
tượng nầy xảy ra ngay chính trên mănh đất quê hương của ḿnh mà cán bộ hay công
an cố t́nh làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.
Những khu
biệt lập nầy có thể nói rằng do TC hoàn toàn quản lư mọi sinh hoạt, không có
người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén măn đến được, mặc dù
những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lư.
Cho đến
hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn
sóng phẩn uất trong ḷng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương
thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để
công nhân TC hiếp đáp măi măi được.
Những sự
kiện tương tự cũng đă từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi
khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố
Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những
cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc v́ sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên
mănh đất quê hương của người bản xứ.
Trờ lại
Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở
Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch
khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CSVN. Sau
khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay, Hà Nội đă phải bạch hoá công bố
hai công tŕnh trên mặc dù đă kư kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ
Cẩm Đào qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như
ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự
nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.
Nhưng trầm
trọng hơn cả là trong việc nhường bước cho TC khai thác, Hà Nội để lộ ra tinh
thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đă biến thành tinh thần quốc tế hữu sản
chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một
tiến tŕnh then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.
Ngay từ
giờ phút nầy (8/2009), đă có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và
trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên
công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều.
Có nhiều
câu hỏi được đặt ra cho t́nh trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ
có mặt hơn một năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị mặt bằng cho cơ xưởng,
giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như
trà, cà phê, cao su v.v…mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và
chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly
hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? Đây
là một tiến độ công tŕnh rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời
gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh
nghiệm về hoạt động công trường.
Từ đó, câu
hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite
hay không?
Hay là
họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác
quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm
chính của họ là Điểm, là khai thác một công tŕnh bí mật nào khác?
Để trả lời
và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết
xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các thông tin có được để từ đó
chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mănh đất quê hương Việt Nam.
Việc khai thác quặng mỏ
Uranium
Cao nguyên
Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng
đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó,
hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác.
Và sác xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao.
Để có khái
niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy tŕnh sơ lược dựa theo
các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng
Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium:
Uranium 235 và Uranium 238. U 238 được xem như là đồng vị nặng v́ có
3 electron nhiều hơn U 235 . Chính U 235 mới đích thực là
tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng
trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi.
Việc khai
thác gồm:
· Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai
đồng vị 238 và 235;
· Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện hay làm giàu
(enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu
khác nhau.
Việc tinh
luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tác vật lư, và dùng tia laser.
Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn c̣n đang áp dụng
phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như
Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến v́ có hiệu quả và năng suất
cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhứt, nồng độ của Uranium cần phải
đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác
nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an
toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy tŕnh sản xuất mà con người
không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được.
Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc
Đây là một
trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa
thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn c̣n hoạt động. VIỆT NAM
dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận
hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ như khai thác mỏ than, hay các
thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lănh vực kiểm soát các valve
an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay
đổi điều kiện trong các quy tŕnh sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng
vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh
tai nạn.
Hiện tại,
Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài.
Câu hỏi
được đặt ra nơi đây là, tại sao người Pháp cho lấp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt
vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài G̣n và Đà Lạt chỉ là một
con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?
Phải có điều ǵ bí ẩn khiến cho họ thành lập
Trung Tâm nầy?
Để trả lời
hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng
xạ để nghiê cứu, thăm ḍ, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ?
Ngược ḍng
lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngũi của Nhât Bổn vào thế chiến thứ hai,
họ cũng đă gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm ḍ vùng nầy. Và trong thời gian
chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường
xuyên trên vùng Bolloven nầy.
Nhưng tất
cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên
hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay
không?
Giả thuyết về sự hiện diện
của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần
Ngày 21
tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch
Tổng Giám Đốc John Lynch đă công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam
rằng, Công ty đă đồng ư trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác
quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả
thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật.
Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm ḍ và khai thác giữa Việt Nam với các
đối tác khác. Và TC, đă nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, v́ vậy cho
nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới
thêm một lần nữa.
Theo ước
tính sơ khởi của công ty NWT th́ cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng
oxid uranium (U3O8) với nồng độ trung b́nh là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho
biết hàm lượng quặng mỏ oxid uranium ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngăi là 8.000 tấn
quặng và có cùng một nồng độ trung b́nh với oxid uranium ở Cao nguyên.
Qua hai
thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín
là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như
Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đă biết trước nhưng không công bố mà thôi v́ điều kiện an
ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép.
Ngày hôm
nay, TC đă biết và thay v́ đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quư giá
về phương diện quốc pḥng nầy, họ đă đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai
thác quặng mỏ Bauxite.
Với hàm
lượng oxid uranium kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg
Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc pḥng và quân sự.
Thêm nữa
có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị
việc khai thác quặng mỏ Uranium:
· Mỏ than Nông Sơn đă được VNCH khai thác từ năm 1961, và
vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở TQ.
TC với tư cách nào và với lư do ǵ đă đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ
6 tháng qua?
· Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đă được
TC thuê mướn trong ṿng 50 năm?
Hai chỉ
dấu sau nầy chính là cái ch́a khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa VN và TC
trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Việc khai
thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc t́m kiếm, khai
thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium để làm tăng lợi khí “cường
quốc” của Hán tộc.
Ảnh
hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium
Đứng về
mặt môi trường, quy tŕnh khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế
thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát dễ hơn việc khai thác bauxite. Tuy
hai công tŕnh đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy,
nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc pḥng, việc
khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. Lư do là trong ṿng 10 năm nữa Việt
Nam sẽ đưa vào hoạt động hai nhà máy phát điện nguyên tử tại Ninh Thuận, cho nên
việc khai thác Uranium nầy có thể là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, và
Việt Nam có được tính chủ động không tùy thuộc vào nước ngoài để có thể bị áp
lực của các quốc gia cung cấp nguyên liệu phóng xạ trên.
Thêm một
điểm cần lưu ư là, nếu Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan
trọng và hiếm quư nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được
bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao v́ nguyên liệu nầy sẽ là
một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lănh vực nhứt là quốc pḥng
đối với những quốc gia khác trên thế giới.
Thay
lời kết
Qua những
nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao
nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại
là một lư giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai
nơi nầy.
Nếu suy
nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt ở quốc nội và hải ngoại phải làm ǵ
trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương?
Một điều
không thể chối cải được là tiến tŕnh Hán hóa Việt Nam của TC đă thể hiện rất rơ
ràng. Đây là một tiến tŕnh tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây
Tạng.
Ngay sau
khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhứt là lợi dụng t́nh trạng c̣n lơng lẽo
của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch
Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turquistan và đổi tên thành Tân Cương,
cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu
thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng
hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, ngày nay vẫn tiếp tục chương
tŕnh trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê
hương ḿnh, và dân Tân Cương chỉ c̣n chiếm 42% trên tổng số tại nơi đây.
Qua hai
diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC
trong chính sách nầy trong một tương lai không xa.
Hẳn chúng
ta c̣n nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa, hai món hàng dầu
hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đă được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với
nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngơ hầu cứu văng miền Nam, nhưng bị thất bại.
Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc pḥng nầy sẽ lọt vào tay TC rất
cao.
Chính v́
thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới
biết rơ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông
Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đ́nh chỉ việc
khai thác trên.
Nếu không,
TC, một khi làm chủ được nguyền nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và
ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan
và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên
Sử mới của TC mà biên giới gốm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mă Lai, Nam
Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v…
Bằng bất
cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC.
Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó
lường trong tương lai một khi đă có tranh chấp.
Việc liên
kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc
tranh chấp với TC là một trong những điềiukiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng
cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng
là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC
là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện
và Vân Nam (TQ). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhứt trước sự bành trướng của
TC.
Mai Thanh
Truyết
08/2009
Ghi chú:
Tin giờ chót, Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, Ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng
Bộ Môi trường & Tài nguyên vừa công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định
thăm ḍ và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000
tấn quặng oxid uranium U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020..
Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói
cụ thể như trường hợp Nông Sơn.
Và Ông
cũng cho biết là đă kư Biên bàn ghi nhớ (Memorendum of Understanding) với Ấn Độ
trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ khai thác quặng mỏ Uranium trên.
|