Liên hợp quốc đă đưa ra cảnh báo, việc Trung
Quốc xây
dựng một
loạt đập
thủy điện
trên sông
Mekong sẽ là
mối đe dọa
lớn cho
tương lai
của Đông Nam
Á. Xin giới
thiệu phần
kết những
đánh giá của
Tiến sĩ
Tyson R.
Roberts đăng
trên
Internationalrivers:
Các đập thủy
điện Lan
Thương sẽ
giết chết
sông Mekong
và rồi trầm
tích sẽ làm
tiêu tan các
đập thủy
điện ấy.
Những nước
hạ nguồn và
cả Trung
Quốc sẽ phải
trả giá đắt
cho dự án
phát triển
“ngông cuồng”
và thiếu
thận trọng
này.
Ủy ban sông
Mekong về cơ
bản đă xem
xét lại quan
điểm của
ḿnh về hệ
thống đập
trên ḍng
chính
Mekong. Một
trong những
sự cân nhắc
ấy là dự án
“nắn ḍng”
quy mô lớn.
Các dự án
nắn ḍng vẫn
khá phổ biến
với giới
chính khách
Thái Lan khi
họ mong muốn
nó sẽ hỗ trợ
cho các
khiếm khuyết
từ hệ thống
đập ở Thái.

B́nh minh
Mekong -
đoạn chảy
qua Pakbeng,
Lào. Ảnh
flickr
Nhưng đó là suy
nghĩ không đúng
đắn, và chính
khách Thái với
quan điểm như
vậy thường bị
gọi là “khủng
long”. Những dự
án thuỷ lợi
trong mùa khô ở
đông bắc Thái
Lan thường làm
suy thoái chất
lượng đất do quá
tŕnh kiềm hoá
và muối hoá.
Dự án thủy
điện Nam
Theun 2 của
Lào cũng
đang gây
tranh căi.
Nó có thể
giết chết cá
và nghề cá ở
ba lưu vực
sông: Nam
Theun, Nam
Hinboun, và
Xe Bang Fai.
Kế hoạch tái
định cư và
trồng rừng
pḥng hộ là
phi hiện
thực. Việc
dự án sẽ
mang lại các
lợi ích như
các nhà thúc
đẩy dự án
hứa hẹn là
điều đáng
ngờ. Nam
Theun 2 sẽ
để lại những
hậu quả và
tranh căi về
môi trường,
xă hội như
đập Pak Moon
của Thái Lan.
Xâm nhập mặn
ở tiểu vùng
Mekong cơ
bản là một
hiện tượng
tự nhiên. Hệ
sinh thái
cửa sông
Mekong dựa
trên đặc
tính thuỷ
triều bao
gồm “xâm
nhập mặn”.
Đời sống
thực vật,
động vật cửa
sông và ven
biển đă cùng
“hoà hợp”
với thuỷ
triều, với
sự thay đổi
độ mặn.
“Gạo hương
nhài” – sản
phẩm của
Thái Lan nổi
tiếng trên
thị trường
quốc tế, đă
thích hợp
với loại đất
trồng độ mặn
cao. Những
loại cây
trồng tương
tự rất phổ
biến ở tiểu
vùng Mekong.
Việc tưới
tiêu trong
tiểu vùng
phụ thuộc
phần lớn vào
thuỷ năng
thuỷ triều
tận dụng để
đưa nước
ngọt vào
kênh thuỷ
lợi và ra
các cánh
đồng. Do
ḍng chảy
giảm trong
mùa mưa và
giảm bớt khả
năng rửa
đất, sự muối
hoá và kiềm
hoá ở các
đồng bằng
cửa sông,
bao gồm
những vựa
lúa lớn của
tiểu vùng
Mekong, sẽ
trở nên trầm
trọng hơn
bởi sự “kiểm
soát” của
Trung Quốc
với ḍng
chảy Mekong
trong mùa
mưa, mùa
khô.
Lợi ích lớn
nhất mà các
đập thuỷ
điện Lan
Thương
(Trung Quốc)
có thể mang
lại cho
những quốc
gia hạ
nguồn, đặc
biệt là
Campuchia và
Việt Nam, có
thể là kiểm
soát lũ lụt
và ngăn chặn
hoặc giảm
nhẹ khô hạn.
Lũ lụt
Mekong trở
nên thường
xuyên và
mạnh mẽ hơn
trong vài
năm gần đây,
và xu thế
này dường
như vẫn tiếp
tục. Nguyên
nhân chính
là do phá
rừng và sự
ấm nóng toàn
cầu.
Về ngắn hạn,
các đập thuỷ
điện Lan
Thương, đặc
biệt là hai
đập lớn,
trên thực tế
sẽ cung cấp
một biện
pháp ngăn
chặn lũ lụt
nếu nước
được giữ lại
trong các hồ
chứa.
Tuy nhiên,
về dài hạn,
các đập Tiểu
Loan và
Nuozhadu có
thể gây ra
lũ lụt lớn
hơn thời
điểm trước
khi chúng
được xây
dựng. Mục
đích chính
của các con
đập này là
cung cấp
điện cho
tiến tŕnh
công nghiệp
hoá của
Trung Quốc.
Điều này
không phù
hợp với vai
tṛ ngăn
chặn lũ lụt
lớn bất
thường.
Trong một
viễn cảnh
tồi tệ, các
đập thuỷ
điện này sẽ
gây ra lũ
lụt lớn hơn
nhiều trước
đây.
Gây thêm hạn
hán, lũ lụt
ở các nước
hạ nguồn
Người dân ở
tiểu vùng
Mekong và
đặc biệt là
tại các nước
hạ nguồn như
Campuchia và
Việt Nam đặc
biệt lo lắng
về lũ lụt.
Hạn hán thậm
chí đe doạ
hơn. Về mặt
lư thuyết,
người dân có
thể chuẩn bị
và đối phó
với lũ lụt
tốt hơn là
hạn hán. Sự
thương vong
và tổn thất
từ lũ lụt
gây chú ư
lớn nhưng
hạn hán có
thể kéo dài
hơn, hậu quả
tàn phá lớn
hơn và thậm
chí làm mất
khả năng tự
cung cấp
lương thực
cho một quốc
gia hay một
khu vực.
Hạn hán có
lẽ là nguyên
nhân quan
trọng nhất
dẫn tới sự
huỷ diệt
những loài
cá nước ngọt
trong các
lưu vực sông
nhiệt đới.
Những loài
cá rất khác
nhau về khả
năng tránh
được tác
động của hạn
hán cũng như
khả năng
chống chọi
hạn hán.
Trong khi
một số loài
cư ngụ ở đầm
lầy có sức
kháng cự cao
với khô hạn,
th́ rất
nhiều loài
khác không
thể sống mà
không có
ḍng chảy
liên tục.
Đa số loài
cá nước ngọt
sống ở những
môi trường
ḍng chảy từ
các ḍng
sông lớn
nhất tới con
suối nhỏ
nhất. Ḍng
chảy sẽ
ngừng lại
nếu thiếu
nước hoặc
hạn hán. Các
loài cá ven
sông sẽ có
sự thích
nghi khi đối
mặt với hạn
hán bằng
cách theo
ḍng chảy ra
khỏi khu vực
thượng hoặc
hạ nguồn. Số
khác ẩn sâu
vào băi ngầm
hoặc ḷng
sông nơi
chúng ít
hoạt động
cho tới khi
ḍng chảy
khôi phục
trở lại.
Con người
sống ở các
khu vực dân
cư đông đúc
với nhiều
thành phố
lớn có lượng
nước bề mặt
hoặc lượng
mưa phong
phú (như
Bangladesh,
Campuchia và
Việt Nam)
đặc biệt rất
dễ tổn
thương với
sự đe doạ
của lũ lụt
cũng như hạn
hán.
Đập thủy
điện Lan
Thương của
Trung Quốc
và lịch
tŕnh nắn
ḍng Mekong
thành tuyến
đường thủy
có thể góp
phần gây
ra hạn hán
bằng nhiều
cách khác
nhau. Trong
thời gian ba
năm trữ đầy
hồ chứa
tương đối
nhỏ
(1993-1996),
đập Manwan
của Trung
Quốc là
nguyên nhân
khiến các
ḍng chảy
mùa khô thấp
hơn mức
thông thường
tại hạ nguồn
Bắc Thái Lan
và Lào từ
Chiang Saen.
Ảnh hưởng
tới giao
thông đường
thủy do ḍng
chảy giảm
thậm chí c̣n
tác động tới
cả những tàu
thuyền nhỏ
trên sông và
tác động tới
nông nghiệp,
nhưng chưa
quá lớn. </<
p>
Trữ đầy
các hồ
chứa
khổng lồ
của đập
Tiểu
Loan và
Nuozhadu
có thể
là
nguyên
nhân gây
ra ảnh
hưởng
tiêu cực
với mùa
khô hạ
nguồn,
tàn phá
nông
nghiệp,
nghề cá
và cả
cuộc
sống con
người.
Kết quả
rơ ràng
khi nước
giữ lại
trong
các hồ
chứa lớn
là sự
bay hơi.
Lượng
nước bay
hơi từ
hồ chứa
có thể
khá lớn.
Nó phụ
thuộc
vào
nhiều
yếu tố,
bao gồm
diện
tích bề
mặt hồ
chứa,
nhiệt độ
nước,
vận tốc
gió, độ
ẩm và áp
lực
không
khí.
Những
thực vật
sống ở
nước như
dạ lan
hương
nước với
tỉ lệ
thoát
hơi nước
cao có
thể
khiến
một
lượng
lớn bay
hơi từ
hồ chứa.
Loại
thực vật
ngoại
lai gây
hại này
giờ đây
khá phổ
biến ở
các vùng
trung và
thấp
trong
lưu vực
Mekong
và tràn
vào các
hồ chứa
cũng như
ḍng
chính
Mekong
và đồng
bằng
châu thổ
Campuchia
gồm cả
Tonle
Sap.
Kế hoạch
điều
khiển
ḍng
chảy
Mekong
của
Trung
Quốc sẽ
làm gia
tăng sự
xâm nhập
của dạ
lan
hương
nước,
với hậu
quả trực
tiếp là
nước bay
hơi cũng
như bị
giảm
chất
lượng.
Tạo ra
và duy
tŕ một
hệ thống
đường
thuỷ
trong
ḍng
chính
Mekong
cũng sẽ
góp phần
gia tăng
những
thảm hoạ
bất ngờ
như hạn
hán, lũ
quét.
Khô hạn
đặc biệt
nghiêm
trọng sẽ
xảy ra ở
những
đồng
bằng nằm
sâu
trong
nội địa
của
Campuchia
(gồm cả
Biển Hồ)
và tiểu
vùng
Mekong
tại Việt
Nam.
Ḍng
nước lụt
Mekong
không đủ
khả năng
tới
những
khu vực
này,
hoặc
giảm lưu
lượng,
thời
gian tồn
tại cũng
như quy
mô, sẽ
góp phần
làm hạn
hán gia
tăng và
mở rộng
hơn.
Điều
đáng lo
ngại là
số phận
của mực
nước
ngầm.
Trong
ṿng sáu
tháng
hoặc hơn
thế mỗi
năm, hầu
hết các
đồng
bằng cửa
sông của
Campuchia
bị khô
hạn, rất
ít hay
không có
mưa.
Nước trở
nên khan
hiếm,
con
người bị
ảnh
hưởng,
và khó
tiến
hành
gieo
trồng.
Thu
hoạch
mùa màng
phụ
thuộc
vào
nhiều
yếu tố
may mắn.
Trong
một năm,
nơi này
có thể
bội thu,
nhưng
nơi khác
lại thất
bát do
lũ lụt,
hoặc hạn
hán.
Việc
Trung
Quốc
kiểm
soát
Mekong
và hạn
chế lũ
lụt ở
vùng
đồng
bằng
châu thổ
- nơi
nông
nghiệp
và hoạt
động
nghề cá
của
Campuchia
phụ
thuộc,
sẽ có
hai chọn
lựa:
lượng
mưa giảm
không
thể
lường
trước và
ảnh
hưởng
tới mức
nước
ngầm.
Nước
ngầm duy
tŕ ở
một số
khu vực
bằng mùa
lụt hàng
năm của
Mekong.
Mực nước
ngầm sụt
giảm sẽ
là một
tác động
tiêu cực
khác về
lâu dài
của đập
thuỷ
điện
cũng như
lịch
tŕnh
nắn ḍng
Mekong
của
Trung
Quốc với
các nước
vùng hạ
nguồn.
Các nỗ
lực giải
quyết
việc
cung cấp
nước cho
nông
nghiệp
tại các
vùng
đồng
bằng
thấp ở
Mekong
bằng
cách hút
nước
ngầm
tưới đất
sẽ không
thành
công,
hoặc
không
đáng tin
cậy.
Những
khó khăn
dự đoán
trước
bao gồm
những
vấn đề
về kiềm
hoá,
muối
hoá, phí
tổn và
thảm hoạ
lũ lụt
phơi
bày. Vấn
đề nước
ngầm
nhiễm
thạch
tín (như
ở
Bangladesh)
có thể
nảy
sinh.
Đoạn kết
Câu hỏi
cuối
cùng sẽ
là “vấn
đề ǵ
lớn
nhất?”:
Duy tŕ
số
lượng,
chất
lượng cá
và sự đa
dạng
sinh
thái,
hoặc
cung cấp
một cuộc
sống tốt
hơn cho
con
người
(hiện
tại và
tương
lai) ở
hai quốc
gia vào
loại
nghèo
nhất thế
giới là
Lào và
Campuchia?
Trung
Quốc đă
đạt được
một thỏa
thuận
ngầm với
Thái Lan
là sẽ
cung cấp
điện từ
dự án
thủy
điện
Jinghong.
Bản “ghi
nhớ về
việc
phát
triển
tài
nguyên
nước ở
Vân Nam
và xuất
khẩu
điện” đă
được kư
giữa
Cộng hoà
nhân dân
Trung
Hoa và
Thái Lan
năm
1993.
“Thỏa
thuận
Hợp tác
phát
triển
các dự
án thủy
điện và
xuất
khẩu
điện
sang
Thái Lan”
ra đời
tiếp
theo vào
tháng
2/1994.
Chính
phủ hai
nước đă
kư kết
“thỏa
thuận
xuất
khẩu
điện
sang
Vương
quốc
Thái Lan
từ Cộng
hoà nhân
dân
Trung
Hoa” vào
tháng
11/1998.
Trung
Quốc
cũng
giành
được sự
chấp
thuận
ngầm từ
Myanmar,
Lào và
Thái Lan
để đảm
nhận sứ
mệnh mở
rộng
“cải tổ
đường
thuỷ”
trên
300km
ḍng
chính
Mekong
đoạn
chảy qua
biên
giới
giữa Lào
và
Myanmar.
Tuy
nhiên,
những
tài liệu
này
không
nên hiểu
là thoả
thuận của
các nước
vùng hạ
nguồn để
Trung
Quốc
tiếp tục
chương
tŕnh
thuỷ
điện Lan
Thương.
Thái Lan
nên xem
xét việc
thu hồi
thỏa
thuận
mua điện
Jinghong.
Myanmar,
Lào và
Thái Lan
cũng nên
cân nhắc
khả năng
thực thi
kế hoạch
đường
thủy
Mekong
khi dự
án này
không có
sự thảo
luận
công
khai nào
bao gồm
cả những
đánh giá
về ảnh
hưởng
môi
trường
và xă
hội.
Campuchia
và Việt
Nam –
hai nước
vùng hạ
nguồn
nên phản
đối các
thiết kế
phát
triển
Mekong
của
Trung
Quốc
bằng sự
mạnh mẽ
nhất có
thể.
Về dài
hạn, sự
phát
triển
nóng vội,
thiếu
thận
trọng
với
Mekong
của
Trung
Quốc sẽ
bất lợi
cho các
lợi ích
tốt nhất
của tất
cả quốc
gia liên
quan.
Trung
Quốc
cũng
không
thoát
khỏi hậu
quả tiêu
cực từ
dự án
thủy
điện và
nắn ḍng
Mekong.
Khi cái
giá
khổng lồ
về môi
trường
và xă
hội trở
nên rơ
ràng,
th́ mọi
trách
nhiệm sẽ
đổ trực
tiếp vào
Trung
Quốc.
Các kế
hoạch
thủy
điện Lan
Thương
và nắn
ḍng
Mekong
của
Trung
Quốc sẽ
đẩy
Mekong
vào sự
suy giảm
về mặt
sinh học,
ô nhiễm
nặng nề,
trở
thành
“ḍng
sông
chết”
như
Dương Tử
và nhiều
con sông
lớn khác
ở Trung
Quốc.
Những
lợi ích
dài hạn
từ các
dự án
này là
đáng ngờ.
Trung
Quốc sẽ
không
thể điều
khiển
ḍng
Mekong
như từng
làm với
Dương Tử,
như châu
Âu với
ḍng
Danube,
hay Mỹ
với
Mississippi.
Thủy
điện Lan
Thương
và hướng
Mekong
thành
một
tuyến
đường
thuỷ sẽ
buộc các
nước hạ
nguồn
phải nỗ
lực một
cách kiệt
sức nhằm
tự bảo
vệ khỏi
các tác
động môi
trường,
với
những
tổn thất
về nông
nghiệp,
nghề cá
và sinh
kế.
Các đập
thủy
điện Lan
Thương
sẽ giết
chết
Mekong
và trầm
tích sẽ
làm tiêu
tan các
đập thủy
điện ấy.
Những
nước hạ
nguồn và
cả Trung
Quốc sẽ
phải trả
giá đắt
cho dự
án phát
triển
“ngông
cuồng”
và thiếu
thận
trọng
này.
Kỳ Thư
(lược
dịch)