
Bách Việt
Trong Ḷng Đại
Việt
Nguyễn Xuân Phước
Để tưởng nhớ Phạm Việt Châu, tác giả “Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh”

Lời nói đầu: ...
Lịch sử
Đại Việt thời kỳ hậu Hán thuộc ghi dấu sự xuất hiện của một số ḍng họ ở Trung
Hoa xuống phưong nam lập nghiệp và làm thành đế nghiệp như nhà Tiền Lư, nhà Trần,
nhà Hồ và nha Tây Sơn. Bài viết nầy nhằm giải thích hiện tượng nầy và xét lại
quan điểm lịch sử của các sử gia trưóc đây.
+++
Người Việt chúng ta thường cho rằng mọi h́nh thức văn hoá và con người phát xuất
từ phương bắc của Việt Nam, đặc biệt là từ vùng Hoa Nam của Trung quốc, đều
thuộc về Trung Hoa. Chúng ta vẩn gọi chung người Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều
Châu, Hải Nam, Hẹ (Hakka) là ngướ Tàu hay người Hoa, kể cả toàn bộ người dân
sống ở những vùng này cách đây hàng mấy ngàn năm cũng là người Tầu. Chữ “Tầu”
hay “Hoa” hàm ư nghĩa họ là những người khác chủng với dân tộc Việt. Họ là người
Trung Hoa, hay ngườ́ Hán.
Quan điểm
nầy trước hết sai lầm về mặt lịch sử và phát triển địa lư của dân tộc và đất
nước Việt và Trung Hoa. Lịch sử h́nh thành của Trung Hoa hiện đại gắn liền với
lịch sử xâm lăng lănh thổ và đồng hoá dân tộc Việt ở phưong nam. Mặc dù trong 60
năm qua, một số nhà nghiên cứu đă nổ lực đặt lại vấn đề văn hoá cũng như lịch sử
cổ đại củaViệt Nam, sự thiếu nhận thức về lịch sử ở tầng lănh đạo đất nước làm
cho chúng ta có nhận định sai về nguồn gốc chủng tộc của người Trung Hoa. Sự thể
nầy tạo cho Hoa Kiều sống tại Việt Nam một mặc cảm tâm lư chủng tộc khó hội nhập
vào cộng đồng dân tộc. Sự nhầm lẩn nầy tạo nhiều bất lợi cho nền kinh tế và văn
hoá nước nhà. Bên cạnh đó nước Trung Hoa to lớn về dân số lẫn đất đai không thể
nào bỏ qua việc vận dụng thành phần người Hoa sinh sống ở nước ngoài để biến họ
thành “khúc ruột ngàn dặm” làm công cụ phục vụ cho chính quyền Hoa Lục.
Quan điểm
sai lầm nầy của người Việt đối với người Hoa phát xuất từ quá tŕnh đồng hoá quá
lâu của người Hán đối với các dân tộc Bách Việt tại vùng Hoa Nam. Đồng thời nó
phát xuất từ những nhận định sai lầm về lịch sử của các triều đại trước đây.
Ngày nay
những nổ lực khám phá về lịch sử và địa lư miền Hoa Nam cổ đại, cũng như những
nghiên cứu về chủng tộc dựa trên DNA đă chiếu những ánh sáng mới giúp chúng ta
đặt lại một số vấn đề cơ bản về chủng tộc và lịch sử. Những nhận định cơ bản nầy
sẽ là nền tảng lư luận giúp chúng ta có một cái nh́n hợp lư hơn về sử học nước
nhà, một chính sách ngoại giao dựa vào văn hoá đồng chủng với các nước Đông Nam
Á và các đảo quốc ở Thái B́nh Dương, và một sách lược văn hoá đối với người Hoa
đang sinh sống tại Việt Nam.
Địa Lư
Bách Việt miền Hoa Nam thời cổ đại
Sự hiện
diện của văn minh Bách Việt thời Thương Chu trong lịch sử Trung Hoa được đánh
dấu bằng câu chuyện sứ giả Việt Thường ở phương nam đem Bạch Trĩ và Ruà sống
ngàn năm để cống dâng cho vua nhà Chu là Chu Thành Vương. Đó là lần đầu tiên sử
Trung Hoa ghi nhận dân tộc Việt ở phưong nam.
Địa lư nhà
Chu bấy giờ chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến thời Chiến Quốc, khoảng 500 trước
công nguyên, một số dân tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc.
Nổi bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.
Đến đời
Tần Hán (256-195 TCN), khi các nước Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy Hoàng sát nhập vào
Trung Hoa, phía nam nước Sở vẫn c̣n là chủ quyền của các dân tộc Bách Việt hoàn
toàn độc lập và tự chủ. (Xem bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng . Như thế cho
đến khoảng 195 năm TC, một vùng địa lư to lớn miền Hoa Nam ngày nay là lănh thổ
của các giống dân Việt.
Truyền
thuyết cho rằng rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đ́nh Hồ miền Lĩnh Nam. Sách
Lĩnh nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở thế kỷ 15 kể Truyện họ Hồng Bàng như
sau:
“Đế Minh
cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam
đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục
dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối
ngôi ḿnh.
Ngũ Lĩnh
là năm rặng núi lớn ở Nam Trung Hoa thuộc miền Lĩnh Nam. Miền Lĩnh nam đưọc sử
tây phương viết như sau “Lĩnh nam là vùng đất phia nam của rặng Ngũ Lĩnh gồm các
rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chử Lĩnh và. Việt Thành
Lĩnh. Vùng nầy gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của Trung
Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và là tổ quốc của dân Nam Việt
cổ đại” (xem
http://en.wikipedia
.org/wiki/ Jiangxi )
Tác giả
Việt Sử Thông Luận cho rằng, sau khi mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc
Trung Hoa), Con cháu Thần Nông đă rút quân về Động Đ́nh Hồ để xây dựng căn cứ
địa văn hoá mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Xi Vưu ở lại giữ Thái Sơn và
sau ba năm chiến đấu chống tù trưởng của ṇi Hán là Hiên Viên, quân của Xi Vưu
tan ră và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn hoá Thái Sơn. Hiên Viên chiếm đưọc
thái Sơn lên ngôi là Hoàng Đế. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ c̣n câu ca dao: “Công
cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để ghi dấu cái nôi
văn hoá đầu tiên của dân Việt.
Khi Lưu
Bang cướp ngôi nhà Tần ở phưong bắc, th́ ở phương nam, Triệu Đà đă thống nhất
được các nước Bách Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta để lập
ra nưóc Nam Việt. Đó là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất. Nhà Triệu truyền
ngôi được 4 đời th́ bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị bắc thuộc từ đó.
Đến thời
kỳ Hai Bà Trưng, 40 năm sau công nguyên, Hai Bà đă chiếm lại toàn vùng Hoa nam.
Sử viết: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà
lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ
Vương.” Đây là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.
Do đó, khi
truy tầm nguồn gốc Bách Việt của dân tộc Việt cần để ư các vần đề sau đây:
- Từ thời
cổ đại cho đến khi nhà Triệu mất ngôi (111 TCN), dân tộc Việt đă chiếm lĩnh miền
Hoa Nam. Một số nước Việt giáp biên giới với nhà Chu thường được đề cập đến
trong sử sách Trung Hoa, đó là Sở (Kinh Việt), nước Việt (với Viêt Vương Câu
Tiển), Ngô Việt (với Ngô Phù Sai). Khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, các nước
Việt trên bị sáp nhập vào nhà Tần. C̣n các nước Việt khác như Âu Việt, Mân Việt,
Thái Việt, Điền Việt, Lạc Việt, Việt Thường và một số nước Việt khác phiá nam
vẫn c̣n giữ được nền độc lập.
- Cần
nghiên cứu thêm nguồn gốc của chữ người Kinh. Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “ngựi
Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà. Tại sao
ngày nay ngựi Việt tự gọi là ngựi Kinh để phân biệt người Việt với người thuộc
chủng tộc khác.
- Cần xem
khám phá của Stephen Oppenheimer tác giả Eden in the East: The Drowned Continent
of Southeast Asia (Địa Đàng ở Phương Đông: Lục Địa Đông Nam Á Bị Ch́m Dưới Đáy
Biển) để thấy nền văn minh Hoa Nam trăi dài xuống Đông Nam Á và các hải đảo ở
Thái B́nh Dương. Các dân tộc như Mân Việt, Ngô Việt, Âu Việt gồm các bộ tộc,
Phúc Kiên, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Hải Nam, Đai Loan, Thái, Nam
Dưong và các thổ dân ở vủng đảo Thái B́nh Dương đều có nguồn gốc Bách Việt.
Do các dân
tộc Bách Việt đă sinh sống ở miền Hoa Nam trưóc khi vùng nầy bị Tần Hán xâm
lược, dân Việt phải là chủ nhân ông nền văn hoá thời bấy giờ. Các khám phá khảo
cổ về văn minh Hoa Nam trước thời Tần và Hán thuộc phải được coi là chỉ dấu của
văn minh Việt, chứ không thể là của Hán tộc. Người Việt cần phải coi đó là di
sản của Việt tộc và phải mạnh dạn giành lại chủ quyền văn hoá của ḿnh.
Các nhà
nhân chủng học Đài Loan gần đây đă t́m cách phục hồi lại nguồn gốc Bách Việt của
ngừời Đài Loan như Phúc Kiến (Minnan, có lẽ là Mân Việt) và Hẹ (Hakka) là hai
giống dân đông nhất trên đảo. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về DNA đă xác định
quan hệ chủng tộc của các dân tộc Bách Việt. Công tŕnh nghiên cứu nguồn gốc
chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của M. Liu thuộc Mackay Memorial hospital
và được Viện Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ chứng minh là các
giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan, Mă Lai, Nam Dương có liên hệ gen di
truyền khác biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc. (http://www.wufi.
org.tw/eng/
linmalie. htm).
Những nổ
lực của các nhà văn hoá Việt nam hiện đại cùng với những khám mới về nhân chủng
học dự vào di truyền học đă chiếu ánh sáng vào lịch sử ṇi giống Bách Việt. Ánh
sáng lịch sử nầy giúp chúng ta có nhận định sử trung thực hơn. Thông hiểu đưọc
lịch sử và văn hoá dân tộc, chúng ta mới có đưọc nội lực làm hành trang cho hành
tŕnh dân tộc vào thế kỷ 21.
Vấn đề
người Tàu lập đế nghiệp ở Đại Việt
Sau khi đă
xác định được địa lư văn hoá vùng Bách Việt chúng ta hăy trở về với một bí ẩn
lịch sử của dân tộc ta. Đó là từ nhà tiền Lư (Lư Nam Đế) đến nhà Tây Sơn, một số
các các triều vua lớn được sử sách của ta cho là có gốc từ Tàu.
Về Lư Nam
Đế, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Lư Bôn, có người gọi là Lư Bí, vốn ḍng dơi
người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc
bấy giờ là bảy đời, thành ra người bản xứ.”
Về ḍng
dơi nhà Trần, Đại Việt Sử Toàn Thư viết về gia phà của vua Trần Thái Tông như
sau: “trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườ́ nói là Quế Lâm), có
người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra
Lư, Lư sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê …
(ĐVSKTT tr 159)
Về Hồ Quí
Ly, Đại Việt Sử Kư toàn Thư viết: “Quư Ly, tự là Lư Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ
Hưng Dật vốn ở Chiết Giang, đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí sang làm thái thú Diễn
Châu.” (ĐVSKTT tr 293).
Về nhà Tây
Sơn, Việt nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: “Nguyên tổ bốn đời của Nguyễn
Nhạc là họ Hồ, cùng một tổ với Hồ Quí Ly ngày trước…” (VNSL Trần trọng Kim tr.
144).
Như thế
th́ có ít nhất là bốn triều đại như Tiền Lư, Trần, Hồ, Tây Sơn đều là người gốc
ở phương bắc và xuống phương nam lập nên đế nghiệp.
Phải chăng
những vị lập nên các triều đại nầy là người Hán?
Để giải
đáp bài toán lịch sử nầy chúng ta phải xét lại hiện tượng phục hoạt của Việt
tính hay ư thức Việt hay căn cước Việt tộc ở các triều đại nói trên.
SỰ PHỤC
HOẠT CỦA VIỆT TÍNH TRONG THỜI KỲ BẮC THUỘC
Từ khi
cuộc kháng chiến chống quân Hán xâm lược của Lữ Gia và Triệu Dương Vưong thất
bại (111 TCN) đất Nam Việt bị nhà Hán chiếm đóng và danh xưng Việt đă bị linh
lạc bởi quá tŕnh đô hộ và đồng hoá. Từ thời kỳ Hán thuộc trở đi, danh xưng Việt
đă biến mất trong các sách sử của Trung Quốc, và được thay thế bằng hai chữ An
nam và Giao Chỉ.
Khoảng
cách thời gian giữa Lữ Gia và Lư Bôn là hơn 650 năm. Tại sao khi Lư Bôn (544)
lên ngôi ông lấy đế hiệu là Nam Việt Đế? Ư thức Việt trong đế hiệu đó ở đâu ra?
Lịch sử
chiếm đóng miền miền Lĩnh Nam của nhà Hán đi liền với những nổi dậy của dân tộc
Việt và những cuộc đàn áp khốc liệt. Suốt hai ngàn năm, địa danh Lĩnh Nam biểu
tượng cho tinh thần chống lại Hán hoá. Ngựi dân miền nầy đưọc gọi là “Lục
Lương” hay “Cường Lương” nghĩa là dân cứng cổ. (theo Lê Văn Siêu và Lư Đông A).
Khi sử gia
Trần Trọng Kim viết: “ Tổ tiên (Lư Bôn) ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang
Giao Châu.” người đọc sử phải hiểu rằng “Loạn” là những cuộc nổi dậy của dân bản
địa nổi lên đánh đuổi chính quyền đô hộ phương bắc. Những ngựi dân thường chạy
loạn th́ trở về quê cũ khi hoà b́nh đưọc tái lập. Ở đây tổ tiên Lư Bôn chạy loạn
mà phải bỏ xử đi luôn, đi tận đến đất Giao Chỉ cách đó cả ngàn dặm đề lập
nghiệp. Như thế th́ tổ tiên không phải là hạng dân thựng. Chúng ta có thể suy
diễn rằng, tổ tiên Lư Bôn là những ngựi lănh đạo phong trào kháng chiến và họ
đă phải bỏ xứ chạy trốn để tránh sự trừng phạt của triều đ́nh sau khi cuộc kháng
chiến thất bại.
Đây là lư
do hợp lư nhất để giải thích sự kiện ḍng họ Lư Bôn đă đi về phương Nam. Khi đă
định cư ở Âu Lạc, ḍng họ nầy vẫn ấp ủ tinh thần Phục Việt từ thế hệ nầy qua thế
hệ khác. Chỉ bằng sự xác định được quan hệ giữa Bách Việt và Lư Bôn chúng ta mới
hiểu được tại sao ư thức Việt đă được phục hoạt trong phong trào độc lập của nhà
Tiền Lư. Nếu nói “Lư Bôn là ḍng dơi người Tàu” như sử gia Trần Trọng Kim viết,
th́ e rằng chúng ta không giải thích được hiện tượng phục hoạt danh xưng Việt ở
thời kỳ đó.
Đặc biệt
là thời kỳ Lư Trần là thời kỳ cực thịnh của văn hoá Việt. Câu hỏi có thể đặt ra
là nếu họ Trần có gốc Tàu th́ tại sao họ Trần phải phục hưng văn hoá Việt?
Hay như
trong hịch Tây Sơn của đức Quang Trung Hoàng đế kêu gọi : “đánh cho được để tóc
dài, đánh cho được nhuộm răng đen, đánh cho nó chích luận bất phản, đánh cho nó
phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”. Nếu cho
rằng Quang Trung mang ḍng máu Tàu th́ tại sao ông đ̣i đánh Tàu để dân tộc Việt
được giữ ǵn tục để tóc dài, ăn trầu, nhuộm răng đen, để cho bọn Tàu biết là
nước Nam nầy là có chủ. Và khi đă diệt được quân xâm lược ngài đă yêu sách đ̣i
nhà Thanh phải trả lại miền Lưỡng Quảng, tức là vùng Lĩnh nam thời cổ đại, là
đất cũ Nam Việt của Triệu Đà, và lănh thổ nước ta thời hai BÀ Trưng?
Chỉ có một
câu trả lời hữu lư duy nhất là ông tổ của các ḍng họ như Lư Bôn, Trần Thừa, Hồ
Quí Ly và nhà Tây Sơn là những người thuộc gịng giống Bách Việt. Những gia đ́nh
nầy là ḍng dơi ṇi giống “cường lương” ở miền Lĩnh nam. Họ đă thất bại trong
những lần nổi dậy chống quân xâm lược phương bắc và đă lui về phương nam t́m đất
sống. Họ đă hoà nhập vào văn hoá Âu Lạc, Lạc Việt và Việt Thường để trở thành
người dân địa phương. Họ đă cùng với các ḍng tộc Việt địa phương nuôi duỡng ư
chí Phục Việt âm thầm dưới đáy tầng quốc dân từ đời nầy qua đời khác để lấy ư
thức dân tộc làm sức mạnh kháng cự tham vọng của Hán tộc để bảo tồn văn hoá và
giành lại độc lập cho dân tộc Việt.
Bách Việt
trong Ḷng Đại Việt
Nói tóm
lại, lịch sử tồn tục và tiến hoá của dân tộc Việt là hành tŕnh lui dần về
phương nam trước sự lớn mạnh của Hán tộc để bảo tồn ṇi giống.
Từ thời cổ
đại, dân tộc Việt đă mất Thái Sơn là cái nôi văn hoá đầu tiên. Sau khi Thái Sơn
bị Hoàng Đế xâm chiếm, con cháu Thần Nông đă rút về Đông Đ́nh Hồ vùng Lĩnh Nam
để xây dựng lại căn cứ địa văn hoá lần thứ hai. Khi Lữ Gia thất trận, các dân
tộc Bách Việt thuộc nước Nam Việt đă chạy vê Phong Châu ở phương nam hội nhập
vào Âu Lạc để xây dựng lại căn cứ địa văn hoá thứ ba. (Xem Việt Sử thông Luật
của LĐA, và Dịch Kinh Linh Thể của Kim Định)
Đây là lư
do khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa các dân tộc Bách Việt thuộc 65 thành ở Lĩnh nam
đă hưởng ứng. Địa lư chính trị thời kỳ Hai Bà chính là vùng Lĩnh Nam và nước Nam
Việt cũ. Mặc dầu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, công cuộc thống nhất
Bách Việt của Hai Bà đă tái hợp Bách Việt. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà đă cho các
dân tộc Bách Việt và các gia đ́nh vọng tộc ở miền Hoa Nam niềm hy vọng phục hoạt
ṇi giống. Vùng đất Âu Lạc với những địa linh như Phong Châu, Mê Linh và những
nhân kiệt như Hai Bà Trưng và Bà Triệu, và những danh tướng trong đoàn quân
kháng chiến, đă nêu tấm gương yêu nước và là niềm hy vọng cho ṇi giống Bách
Việt.
Bên cạnh
đó sự xuất hiện của Phật Giáo như là một hệ thống triết học và văn hoá trong
thời kỳ nầy đă tạo nên một sức mạnh văn hoá mới được dân Việt nhanh chóng tiếp
thu, và đă giúp cho dân Việt có chổ dựa tinh thần và vật chất. Về tinh thần,
Phật Giáo hoà nhập vào văn hoá dân tộc để chống lại quá tŕnh Hán hoá. Về vật
chất, chùa chiền trở thành những trung tâm nối kết và vận động lịch sử từ miền
Ngũ Lĩnh xuống đến tận Việt Thường. Luy Lâu (Bắc Ninh) trở thành trung tâm Phật
Giáo miền Hoa Nam. Các tổ sư Mâu Bác, Huệ Năng đưa Phật giáo tới đỉnh cao của
thiền học. Vơ thuật cũng được phát triển mạnh mẽ vùng Lĩnh Nam trong thời kỳ
nầy. Do đó, chúng ta thấy bên cạnh những phong trào kháng chiến thời Hán thuộc
đều có bóng dáng của những cao tăng. Và trong thời kỳ độc lập, các thiền sư như
Ngô Chân Lưu, Khuông Việt và Vạn Hạnh đă đóng một vai tṛ tích cực trong việc
phục hồi văn hoá dân tộc và xây dựng đất nước. Nhờ những định chế văn hoá mới
dưới h́nh thức tôn giáo nầy các dân tộc Bách Việt ở Âu Lạc đă tụ họp với nhau,
bảo lưu được văn hoá và lịch sử dân tộc, và nuôi dưỡng được ư chí phục Việt.
Chiến Lược
Phục Hoạt Văn Hoá Bách Việt
Sau gần một ngh́n năm bị ṇi Hán đô hộ, hai triều đại Lư-Trần, khởi đi từ Lư Nam
Đế, đă phục hưng và phục hoạt lại nền độc lập và văn hóa Việt, xây dựng một nước
Đại Việt hùng mạnh suốt gần 500 năm.
Ngày nay
đất nước ta đang bước vào thế kỷ thứ 21. Sự lớn mạnh của Trung Hoa ngày nay hiện
đang là mối đe doạ cho sự tồn vong của dân tộc. Vấn đề biên giới, lănh hải, lănh
thổ giữa hai nước vẩn chưa ổn định và sẽ là mầm mống mâu thuần trong tương lai
và cho thế hệ mai sau. Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là mối ưu tư hàng đầu
của mọi người Việt c̣n thao thức với đất nước.
Trong bối
cảnh đó, xác định được tiến tŕnh lịch sử và văn hoá Bách Việt và quan hệ chủng
tộc giữa người Việt và các dân tộc miền Hoa Nam là tiền đề cho một sức mạnh tinh
thần để đối phó với nước láng giềng phương bắc. Để khai quật được sức mạnh tinh
thần nầy, Người Việt cần có một suy nghĩ mới và một chính sách văn hoá mới đối
với các nước đồng chủng trong vùng và đối với Hoa Kiều đang định cư tại Việt
Nam.
Cái cơ sở
nền tảng để khai quật được sức mạnh tinh thần Bách Việt hiện đại là ư thức rằng
dân tộc Việt ngày nay là dân tộc thừa kế chân truyền di sản văn hoá Bách Việt
ngày xưa. Và di sản văn hoá và văn minh Bách Việt cổ xưa đă được lưu giữ và bảo
tồn trong trong quá tŕnh h́nh thành nước Đại Việt và Việt Nam hiện đại. Với ư
thức đó, người Việt hiện đại phải có cái nh́n mới về lịch sử nước nhà, phải mạnh
dạn xác định sự đóng góp của các ḍng họ Bách Việt trong quá tŕnh h́nh thành
lịch sử và văn hoá nước nhà. Đồng thời chúng ta phải hănh diện xác nhận rằng:
dân tộc Việt hiện đại là dân tộc kế thừa và là chủ nhân ông di sản văn hoá Đại
Bách Việt.
Từ cơ sở
đó, người viết đề nghị ba sứ mạng văn hoá như sau:
Thứ nhất,
cần phải nhanhc hóng có một nghiên cứu sử chính thức và học tŕnh sử để chính
thống hoá giá trị văn hoá Bách Việt trong sự h́nh thành văn hoá Việt Nam ngày
nay.
Thứ hai,
phái có một chính sách hợp tác văn hoá đối với các nước đồng chủng ở Á Châu, đặc
biệt là vùng Đông nam Á.
Thứ ba,
phải có một quan niệm mới đối với người Hoa hiện đang ở Việt Nam.
Sự xác
định tính đồng chủng của các dân tộc Hoa Nam và Đông Nam Á có chung huyết thống
Bách Việt như các nước Đông Nam Á, các dân tộc miền Hoa Nam và Đài Loan và sự
tái kiến thiết văn minh Bách Việt, sẽ là đối lực thích hợp đối với tham vọng về
lănh thổ, lănh địa và văn hoá của Trung Hoa. Từ nhận định đó, chúng ta phải có
một chính sách ngoại giao mới đối với các nước Đông Nam Á. Ngoài vai tṛ kinh
tế, chính trị và quân sự, ASEAN sẽ có một vai tṛ văn hoá mới Ư thức đồng chủng
sẽ giúp cho ASEAN mở rộng ṿng tay để đón Đài loan và các đảo quốc ở Thái B́nh
Dương nhằm mở rộng không gian Bách Việt mới và để gây sức mạnh tinh thần trong
liên minh các nước ở vùng Biển Đông.
Vấn đề
quan trọng hơn là khi đă nhận diện được tính đồng chủng Bách Việt, người Việt
trong nước và hải ngoại phải có một quan niệm mới và sách lược mới về Hoa Kiều ở
Việt Nam.
Đối với
thành phần Hoa Kiều xuất xứ từ Hoa Nam hay Lĩnh Nam như người Quảng Đông, Phúc
Kiến, Triều Châu, Đài loan, Hải Nam, v.v. trước hết người Việt chúng ta cần phải
chấm dứt năo trạng xem họ là những người Tầu, ngườ́ Trung Hoa hay người Hán.
Chúng ta phải coi họ là người Bách Việt, người Lĩnh Nam. Họ là nạn nhân lâu đời
của quá tŕnh Hán hoá. Nhiệm vụ của đất nưóc và dân tộc Việt ngày nay là phải
tái đồng hoá và tái hội nhập họ vào cộng đồng văn hoá Bách Việt hiện đại.
Công tác
văn hoá chủ yếu đối với thành phần Hoa Kiều nầy là giúp họ ư thức được họ là
ḍng dơi Bách Việt. Chúng ta phải giúp cho các dân tộc miền Lĩnh Nam phục hồi
được lịch sử Việt để cho ḍng máu Việt bắt đầu chảy lại. Chúng ta phải giúp họ ư
thức rằng mọi dân tộc xuất phát từ miền Bách Việt-Lĩnh Nam đều là ngướ gốc Việt
như chúng ta. Những người Hoa vùng Hoa Nam trưóc đây sẽ trở lại với nguồn gốc
chân chính của họ là người Bách Việt.
Từ đó, một
cộng đồng dân tộc dân tộc Việt mới sẽ được h́nh thành. Và cộng đồng dân tộc mới
nầy sẽ có sức mạnh văn hoá chất chứa 5,000 năm của Đại Bách Việt và một vùng địa
lư văn hoá trăi rộng từ Hoa Nam xuống tận Đông Nam Á. Sức mạnh văn hoá mới đó có
khả năng hoá giải tham vọng lănh thổ lănh hải và văn hoá của Trung Quốc hiện nay
trên đất nước ta và các nước trong vùng Biển Đông.
Kết luận
Hồn sử là
sự tồn tục và tiến hoá của dân tộc trên sự thành lập của ṇi giống. Cái ư thức
của tổ tiên khai sinh ra ṇi giống tạo thành cái quốc túy dân tộc. Do đó, quốc
hồn và quốc túy của một dân tộc là thành tố gốc của lịch sử. Một dân tộc mất
quốc hồn và quốc túy là một dân tộc sẽ bị lịch sử đào thăi. Mọi con người, mọi
triều đại khi cầm nắm vận mệnh đất nước nếu không nắm giữ được quốc hồn và quốc
túy sẽ bị lạc đường lịch sử và đưa đất nước vào t́nh trạng vong thân. V́ thế,
những phong trào chống xâm lăng đều lấy ư thức dân tộc làm động lực lịch sử và
lấy văn hoá thủy chuẩn dân tộc làm nền tảng nội dung cho sứ mệnh cứu nước. Ư
thức lịch sử nầy đă thúc đẩy Lư Thường Kiệt viết tuyên ngôn “Nam Quốc Sơn Hà Nam
Đế Cư” thời kỳ Phá Tống B́nh Chiêm; Trần Hưng Đạo viết Hịch Tướng Sĩ thời kỳ
Kháng Nguyên; Nguyễn Trăi viết B́nhNgô Đại Cáo và bộ Địa Dư Chí, Quang Trung
viết hịch tướng sĩ với những ḍng chữ “Đánh cho đưọc để tóc dài”; giúp cho Phan
Bội Châu viết Việt Nam Quốc Sử Khảo; và Lư Đông A viết bộ Việt Sử Thông Luận
trong thời kỳ chống Pháp.
Ư thức dân
tộc vượt lên mọi định kiến về văn hoá kinh tế và chính trị. Ư thức dân tộc tồn
tại qua mọi không gian, thời đại và triều đại. Nó nằm trong ḷng mỗi một người
dân. Nó phủ định mọi tư duy phủ nhận văn hoá dân tộc. Nó phủ định mọi nổ lực xử
dụng văn hoá dân tộc ở mức độ h́nh thức để phục vụ cho nền văn hoá ngoại bang ở
nội dung. T́m về cội nguồn chính là quá tŕnh t́m lại hồn sử.
Suốt một
ngàn năm bị bắc phương đô hộ và đồng hoá, ư thức dân tộc vẫn nằm ẩn tàng trong
đáy tầng của quốc dân. Nó được bảo quản và lưu truyền từ đời nầy qua đời khác.
Nó là cái gen di truyền lịch sử làm cho gịng máu Lạc Hồng tiếp tục chảy, và
chảy măi xuyên suốt thời đại.
Khi nền
cai trị của ngoại bang suy yếu, khi tâm thức nô lệ ngoại bang ở mặt tầng suy sụp,
ư thức dân tộc từ đáy tầng sẽ bùng dậy như những đợt sóng đáy, thúc đẩy những
người yêu nước đứng lên giành lấy quyền làm chủ đất nước, làm chủ vận mạng của
ḿnh để phục hồi văn hoá thủy chuẩn dân tộc, để bảo tồn và phát huy ư thức dân
tộc, và để khơi dậy nguồn sống cho dân tộc.
Với tâm
thức đó, lịch sử có được một Lư Bôn với một ḍng họ bôn ba từ miền Lĩnh Nam nổi
trôi về miền Âu Lạc, và ông đă đứng lên giành độc lập cho dân tộc, lấy đế hiệu
là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn xuân.
Sự việc Lư
Bôn làm tái sinh danh xưng Việt với đế hiệu là Nam Việt Đế là một hành động lịch
sử khởi động cho nền văn hoá Bách Việt được hồi sinh để nền văn hoá Bách Việt
c̣n lưu truyền măi trong ḷng dân tộc Đại Việt; và từ đó Đại Việt đă trở thành
căn cứ địa phục hoạt và phục hưng nền văn minh Bách Việt.
Nguyễn Xuân Phước
Tham khảo:
· Các tác
giả: Lư Đông A, Trần Ngọc Thêm, Cung Đ́nh Thanh, Phạm Việt Châu, Lê Văn Siêu,
Đào Duy Anh, Stephen Oppenheimer, Keith Weller Taylor, National Geographics,
Trần Thế Pháp, Kim Định, Trần Trọng Kim, Đại Việt Sử Kư
· Google search: “Bách Việt, Lĩnh Nam, Linnan, Yueh, bǎi yuè, Lư Nam Đế, Lư Bôn,
Quang Trung, Việt Sử, Taiwanese DNA, betel taiwan, Hoàng Đế, Suy Vưu, miêu, miao”
|