
QUÁN
THẾ ÂM
GS
Phạm Công Thiện
(Bài giảng của Phạm Công Thiện tại Thiền tu viện Viên Thông ở Bellflower,
California, Mỹ quốc vào ngày vía Quán Thế Âm, Chủ Nhật 09/08/2009.)
Dường như do sự t́nh cờ
ngẫu nhiên mà tất cả chúng ta đều đang có mặt ngay giây phút này ngày hôm nay
tại chùa Viên Thông vào ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Quán Thế Âm Bồ Tát c̣n được gọi là Viên Thông Đại Sĩ.
Thực sự trong Đạo Phật không có ǵ gọi là "t́nh cờ ngẫu nhiên", v́ tất cả đều
xảy ra đúng "thời tiết nhân duyên" thích ứng: cái ǵ đang xảy ra trước mắt ta mà
ta có thể cảm thấy được như thế này hay như thế kia đều do nghiệp tốt hay nghiệp
xấu của ḿnh, nhưng thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ư nghiệp của ḿnh đều có thể
thay đổi và chuyển hóa một cách thanh lương, thanh tịnh, sạch sẽ, sáng sủa, sáng
suốt và sáng rực ngay tại đây và ngay giây phút hiện tại hay bất cứ ở đâu và bất
cứ lúc nào.
Làm thế nào? Quy y Tam Bảo, sám hối nghiệp chướng, tôn thờ những bậc Thầy của
ḿnh, phát Bồ Đề Tâm, niệm Phật, nhất tâm niệm Phật, nhất tâm niệm Quán Thế Âm
Bồ Tát, thực hành lục Ba La Mật, tu hành Tứ Vô Lượng Tâm và hồi hướng tất cả
công đức cho Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nói th́ dễ và làm mới khó.
Đó là nói theo người đời thế tục.
Trong Đạo Phật, làm th́ rất dễ, v́ lúc nào chúng ta cũng làm, được làm hay bị
làm; lúc nào chúng ta cũng đang tạo nghiệp, quá nhiều nghiệp đến nỗi phải bị
trôi lăn ch́m nổi, và cả đời chúng ta chỉ là ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh.
Muốn thoát khỏi cái ba ch́m th́ có ba cái "bảo bối gia truyền", đó là Phật, Pháp,
Tăng. Bảy cái nổi ấy chính là "thất giác chi hay thất Bồ Đề Phần" (niệm giác
chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi,
định giác chi, và xả giác chi). Cả cuộc đời chúng ta và cả cái chết của chúng ta,
bao nhiêu kiếp sống và chết, và chết rồi sống lại; tất cả, tất cả đều là chín
lênh đênh. Trong Đạo Phật có cách tu hành để cho hết chín cái lênh đênh, đó là
chín cái thiền định rất có trật tự, theo thứ tự rất nghiêm mật, và liên tục nhất
tâm, liên tục chuyên nhất và vô cùng sắc bén sáng sạch, đó là cửu thứ đệ định (sơ
thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không xứ định, thức xứ định, vô hữu xứ
định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định, và diệt thọ tưởng định).
Làm th́ rất dễ và quá dễ, nhưng nói th́ vô cùng khó khăn, làm sao nói mà mỗi một
lời nói làm sáng sạch thơm tho không khí, mỗi một lời nói là sấm chớp chẻ tan sự
hận thù, ghen ghét, đố kỵ, tham lam, ngu si, kiêu ngạo, tà kiến, sợ hăi, sợ sệt,
sợ người, sợ đời, sợ ma, sợ quỷ, sợ thua, sợ mất, sợ chết, sợ sống, sợ khổ, sợ
già, sợ bệnh, sợ tiếng xấu, sợ bị chửi mắng, sợ bóng sợ gió, sợ mất đất đứng, sợ
què chân, sợ đui, sợ té, sợ ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh.
Nói rất khó, v́ làm sao nói mà không tự nói xấu hay nói xấu người khác; làm sao
nói mà không kín đáo tự khen ḿnh và gián tiếp chê người khác; làm sao nói mà
không tự trách ḿnh hay trách cứ người khác; làm sao nói mà không tự biện minh
hay tự bảo vệ tự đề pḥng; làm sao nói mà mỗi một lời nói làm người khác cảm
thấy vui vẻ, vui sướng và vui ḷng; làm sao nói mà không vọng ngữ, không ác ngữ,
không ỷ ngữ và không lưỡng thiệt ngữ?
Làm sao nói mà ban cho sự không sợ hăi (vô úy thí)?
Làm sao nói mà tất cả ai nghe đều thoát khỏi tất cả sự khổ, và tất cả đều được
giải thoát, được dứt hết tất cả lênh đênh, được Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, và Đại
Xả.
Làm sao nói mà mỗi một âm thanh đều là chân ngôn, mật ngôn, minh chú, thần chú?
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đă dạy Lục Tự Đại Thần Chú cho toàn thể chúng sinh tự bao
giờ cho đến bây giờ, hiện tại ở đây. Đây cũng gọi là Lục Tự Đại Minh Thần Chú,
Lục Tự Đà La Ni:
OM MANI PADMÉ HUM
Hay ÁN MA NI BÁT DI HỒNG
Chúng ta đều bị ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh trong bao nhiêu cơi trời, cơi a
tu la, cơi người, cơi súc sanh, cơi ngạ quỷ, cơi địa ngục. Chỉ có Lục Tự Đại
Minh Chú của Đức Quán Thế Âm mới đóng hết tất cả sáu đường sanh tử:
OM (ÁN) đóng cửa thiên đạo;
MA (MA) đóng cửa tu la đạo;
NI (NI) đóng cửa nhân đạo;
PAD (BÁT) đóng cửa súc sanh đạo;
MÉ (DI) đóng cửa ngạ quỷ đạo;
HUM (HỒNG) đóng cửa địa ngục đạo.
Làm sao nói mà lúc nào cũng nói OM MANI PADMÉ HUM, dù nói thầm trong đầu, nói
thầm trong ḷng, nói nhỏ tiếng hay nói lớn tiếng, nói chậm răi, nói thoải mái,
nói nhẹ nhàng, nói thong dong, nói thong thả, nói dịu hiền, dịu dàng, dịu ngọt,
d́u dặt và đùm bọc ...
Làm sao thức và ngủ, chiêm bao và không chiêm bao, lúc nào cũng là OM MANI PADMÉ
HUM. Làm sao đi và đứng, ngồi và nằm đều là OM MANI PADMÉ HUM, là sao ăn uống
hay nhịn đói, nóng, lạnh, mưa gió, băo táp, dông tố, động đất, vợ bỏ, chồng bỏ,
phá sản sạt nghiệp, tất cả đều là tha ma, tận thế, sụp đổ, tàn phế, tàn tạ, tan
ră, tan vỡ, tang tóc, thê lương mà miệng và ḷng vẫn nói OM MANI PADMÉ HUM?
Làm sao thở ra và thở vô, mỗi hơi thở đều là OM MANI PADMÉ HUM. Đây là thở ra
Đại Bi và thở vào Đại Bi, sống Đại Bi và chết Đại Bi, nói Đại Bi và im lặng cũng
Đại Bi.
Đại Bi là ǵ? Mỗi tế bào, mỗi lỗ chân lông đều phập phồng Đại Bi, nhất cử nhất
động đều phập phồng phất phới Quán Thế Âm Bồ Tát, thênh thang phe phẩy ÁN MA NI
BÁT DI HỒNG.
Muốn văng sanh Cực Lạc chỉ cần nói OM MANI PADMÉ HUM với Liên Hoa Thủ Bồ Tát (Padmapàni).
Trong tạng Ma ni già bộ bà (Mani bkah hbum) đă dạy rằng ai xướng lên chỉ một lần
OM MANI PADMÉ HUM th́ đoạn dứt đường lưu chuyển trong sáu cơi luân hồi.
Sáu mươi bốn sự trong sạch lặng lẽ trong sáng của âm thanh chư Phật đều được thu
nhiếp trọn vẹn trong lục tự OM MANI PADMÉ HUM. Có cần nhắc lại lục thập tứ chủng
Phạm âm:
1. Lưu trạch thanh (tràn thấm lưu loát, mượt mà, nhuần hết tất cả chúng sanh)
2. Nhu nhuyễn thanh (dịu dàng, mềm mại, nhu nhuyễn)
3. Duyệt ư thanh (làm vui sướng, vừa ư, thư thái ḷng dạ)
4. Khả lạc thanh (đáng thích thú, vui sướng, mầu nhiệm)
5. Thanh tịnh thanh (sạch sáng, lóng sạch, không nhiễm tạp)
6. Ly cấu thanh (không c̣n dơ, không cấu, không nhiễm)
7. Minh lượng thanh (rơ ràng, minh bạch, sáng trong, trong trẻo)
8. Cam mỹ thanh (lắng nghe được pháp hỷ ngọt dịu)
9. Nhạc văn thanh (làm cho thích nghe không chán)
10. Vô liệt thanh (không liệt kém, không thều thào, thoi thóp)
11. Viên cụ thanh (một âm là tất cả âm, một thanh là tất cả thanh, mỗi âm thanh
đều nói lên sự im lặng thanh thoát kỳ diệu)
12. Điều thuận thanh (điều phục tùy thuận chúng sanh)
13. Vô sáp thanh (điều ḥa, thuận tai, không thô)
14. Vô ác thanh (không xấu, ác)
15. Thiện nhu thanh (không thô bạo, nhu ḥa, hiền lành)
16. Duyệt nhĩ thanh (làm vui ḷng, nghe không chán)
17. Thích thân thanh (cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái)
18. Tâm sanh dũng nhuệ thanh (phát dũng chí tinh tiến tu hành)
19. Tâm hỷ thanh (sanh tâm vui mừng, vui sướng, vui vẻ, vui tươi)
20. Duyệt lạc thanh (sanh ḷng vui vẻ, an lạc)
21. Vô nhiệt năo thanh (không bị nóng đầu, nóng mặt, nóng người, nóng ḷng, nóng
giận, được thanh thoát, mát mẻ)
22. Như giáo lệnh thanh (như mệnh lệnh giáo giới của Phật Pháp, khiến tín tâm
thanh tịnh)
23. Thiện liễu tri thanh (thông đạt diệu pháp)
24. Phân minh thanh (sáng rơ như thực, như lư)
25. Thuận ái thanh (làm cho thương quư, yêu thích thiện pháp)
26. Linh sanh hoan hỷ thanh (khiến ḷng người hoan hỷ)
27. Sử tha như giáo lệnh thanh (khiến cho người nghe xong lại khai mở cho người
khác)
28. Linh tha thiện liễu tri thanh (khiến cho người nghe hiểu thông tất cả pháp)
29. Như lư thanh (khế hợp chân như, chân lư)
30. Lợi ích thanh (lợi ích cho tất cả chúng sanh)
31. Ly trùng phục (phức) quá thất thanh (khế hợp lư thú, không có trùng lặp từ
đầu đến cuối)
32. Như sư tử thanh (như tiếng rống sư tử, làm cho loài ác thú khác đều sợ hăi
ác nghiệp, tỉnh ngộ để quy y Tam Bảo)
33. Như long âm thanh (như tiếng rồng)
34. Như vân lôi hống thanh (xa gần đều nghe, như tiếng sấm nổ)
35. Như long vương thanh (như tiếng vua rồng, trong trẻo vọng vang xa xôi)
36. Như Khẩn Na La diệu ca thanh (tuyệt vời như âm thanh của ca thần, làm cho
chúng sinh đều thích nghe vui sướng)
37. Như Ca Lăng Tần Già thanh (tuyệt vời như tiếng chim Ca Lăng Tần Già)
38. Như Phạm Vương thanh (thanh tịnh như âm Phạm Vương)
39. Như Cộng Mạng điểu thanh (an lành như tiếng hót chim Cộng Mạng)
40. Như Đế Thích mỹ diệu thanh (tuyệt mỹ diệu huyền như âm trời Đế Thích)
41. Như chấn cổ thanh (vang dội xa gần như tiếng trống Bát Nhă)
42. Bất cao thanh (tṛn đầy khế hợp trung đạo)
43. Bất hạ thanh (viên âm trung đạo bát bất)
44. Tùy nhập nhất thiết âm thanh (bao hàm dung thông tất cả âm thanh)
45. Vô khuyết giảm thanh (viên măn, không khuyết)
46. Vô phá hoại thanh (không thể phá hoại)
47. Vô nhiễm ô thanh (xa ĺa phiền năo, không trước nhiễm)
48. Vô hy thủ thanh (lợi lạc cho chúng sanh, không hề mong cầu)
49. Cụ túc thanh (diệu lư xứng tánh trọn vẹn đầy đủ)
50. Trang nghiêm thanh (đoan trang nghiêm túc, đủ công việc diệu hạnh)
51. Hiển thị thanh (khai thị hiển hiện diệu pháp)
52. Viên măn nhất thiết âm thanh (hoàn bị đầy đủ tất cả âm thanh)
53. Chư căn thích duyệt thanh (các căn đều vui sướng, vui thích)
54. Vô cơ hủy thanh (không chê bai hủy báng chúng sanh)
55. Vô khinh chuyển thanh (bao trùm, chắc thật, không dời đổi)
56. Vô động dao thanh (không sợ sệt, không có thiên ma ngoại đạo nào lay động)
57. Tùy nhập nhất thiết chúng hội thanh (trùm khắp chúng hội, tùy căn cơ đều
hiểu được)
58. Chư tướng cụ túc thanh (đầy đủ các tướng)
59. Linh chúng sanh tâm ư hoan hỷ thanh (khiến cho chúng sinh được ḷng hoan hỷ)
60. Thuyết chúng sanh tâm hành thanh (84,000 loại tâm hành của vô lượng chúng
sanh căn tánh hạ liệt đều ngộ nhập)
61. Nhập chúng sanh tâm hỷ thanh (khế nhập tâm ư chúng sanh)
62. Tùy chúng sanh tín giải thanh (làm cho sự tin hiểu của chúng sanh đều được
lợi ích thanh tịnh)
63. Văn giả vô phân lượng thanh (trời, người, ma vương, Phạm thiên, sa môn, bà
la môn ở khắp nơi, tuy nghe được mà không thể biết hết trọn vẹn)
64. Chúng sanh bất năng tư duy xứng lượng thanh (không thể tư duy lường tính
được)
Tất cả lục thập tứ chủng Phạm âm có thể được đúc kết lại trong mấy câu kệ bất hủ
trong Phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:
Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm Hải Triều Ân
Thắng bỉ thế gian âm
Thị cố tu thường niệm
*
Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm Hải Triều Âm
Thắng hết thế gian âm
Vậy nên thường phải niệm
(Ḥa Thượng Thích Trí Thủ dịch,
Toàn tập Tâm Như Trí Thủ, tr. 299)
Nhĩ căn và âm thanh có liên hệ
mật thiết bí mật toàn diện với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta chỉ cần tụng
mười sáu câu kệ bất diệt trong kinh Thủ Lăng Nghiêm (từ sơ ư văn trung đến thập
phương viên minh...)
Sáu âm thanh bí ẩn huyền diệu OM MANI PADMÉ HUM đă được bao nhiêu triệu tỷ người
xung tụng thường niệm bao nhiêu tỷ lần từ đỉnh núi Hy Mă Lạp Sơn cho đến tất cả
đồng bằng thung lũng khắp trái đất.
Chẳng những thường niệm, nhất tâm xưng hô Lục Tự Đại Minh Chú, hành giả c̣n có
thể quán tưởng, quán tượng và quán sắc của Lục Tự Đại Minh Chú:
OM là màu trắng; thiên
MA là màu xanh lá cây; a tu la
NI là màu vàng; nhân loại
PAD là màu xanh da trời, xanh nhạt nhẹ; súc sinh
MÉ là màu đỏ; ngạ quỷ
HUM là màu đen; địa ngục
Chủng tự của Phật A Di Đà và
Đức Quán Thế Âm là HRI th́ màu trắng trong OM MANI PADMÉ HUM HRI và ngay trong
chủng tự (b́ja, seed-syllable) HRI theo chữ Tây Tạng gồm có 6 thành phần th́
hành giả Tây Tạng có thể quán năm màu từ trên xướng dưới: xanh dương, trắng,
vàng, đỏ, xanh lá cây và lại xanh lá cây; từ Pháp Giới Trí (Tỳ Lô Giá Na) đến
Đại Viên Cảnh Trí (Phật A Súc), B́nh Đẳng Tánh Trí (Bảo Sanh Phật), Diệu Quan
Sát Trí (A Di Đà Phật) và Thành Sở Tác Trí (Bất Không Thành Tựu Như Lai).
Xanh - Dharmadhatu (Vairocana)
Trắng - Akasobhya
Vàng - Ratnasambhava
Đỏ - Amitabha
Xanh lá cây - Amoghasiddhi
Xanh lá cây - Amoghasiddhi
Chúng ta cũng có thể hiểu:
OM là Pháp thân của tất cả chư Phật, mọi thần chú đều bắt đầu bằng OM
MANI là Ngọc Mani Như Ư
PADMÉ là bông sen
HUM là Tâm của tất cả chư Phật và chấm dứt mọi chân ngôn
*
OM làm sạch chướng cái của Thân
MA lọc sạch Khẩu
NI làm sạch Ư
PAD làm sạch phiền năo chướng
MÉ làm sạch tập khí huân tập
HUM làm sạch sở tri chướng
*
OM là cầu nguyện xưng tán Thân chư Phật
MA là cầu nguyện lễ kính xưng tán Khẩu chư Phật
NI là cầu nguyện xưng tán lễ kính Tâm chư Phật
PAD là cầu nguyện xưng tán lễ kính Hạnh chư Phật
MÉ là xưng tán sở hành Diệu Phương Tiện của chư Phật
HUM thu nhiếp tất cả uy thần gia tŕ của Thân, Khẩu, Ư, Hạnh, Hành của tất cả
chư Phật.
*
OM là bố thí ba la mật
MA là tŕ giới ba la mật
NI là nhẫn nhục ba la mật
PAD là tinh tiến ba la mật
MÉ là thiền định ba la mật
HUM là Bát Nhă ba la mật
*
OM là Bảo Sinh Như Lai (Ratnasambhava Tathagata)
MA là Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiddhi Tathagata)
NI là Kim Cương Tŕ Như Lai
Kim Cương Thủ Như Lai - Vajradhara
Kim Cương Chấp Như Lai - (Phạ nhật la đà la)
Thủ Tŕ Kim Cương Như Lai
PAD là Tỳ Lô Giá Na (Vairocana)
MÉ là Phật A Di Đà (Amitabha)
HUM là A Súc Bệ Phật (Akshobya)
*
OM là b́nh đẳng tánh trí
MA là thành sở tác trí
NI là tự nhiên trí
PAD là pháp giới trí
MÉ là diệu quan sát trí
HUM là đại viên cảnh trí
Bồ Tát Thánh Tăng Tây Tạng Patrul Rimpoché đă từng dạy cho tất cả bao nhiêu thế
hệ sư phụ ở Hy Mă Lạp Sơn:
"Quán Thế Âm là hiện thân của tất cả chư Phật;
Một thần chú (mantra), Lục Tự Đại Minh Chú, OM MANI PADMÉ HUM là thể hiện tất cả
chân ngôn thần chú;
Một Pháp, Bồ Đề Tâm, Ḷng Bồ Đề (Bodhicitta) là thực hiện tất cả sự thực hành tu
chứng của giai đoạn khởi phát và thành tựu của giáo pháp Kim Cang Thừa;
Biết được một cái th́ giải thoát tất cả, thế th́ hăy tŕ tụng OM MANI PADMÉ
HUM."
Tất cả Phật Pháp đều bắt đầu bằng Quy Y Tam Bảo và Phát Bồ Đề Tâm và kết thúc
bằng Hồi Hướng Công Đức cho Nhất Thiết Chủng Trí.
Xin kính cẩn cảm tạ Thượng Tọa Thông Niệm, Viện chủ Chùa Viên Thông đă có ḷng
mở rộng ra để cho chúng ta được nghe Lục Tự Đại Minh Chú của Quán Thế Âm ngày
hôm nay.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
NAM MÔ ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT
OM MANI PADMÉ HUM
OM MANI PADMÉ HUM
OM MANI PADMÉ HUM
Phạm Công Thiện |